NHẬT RÓT TỶ ĐÔ NÂNG CẤP HẠM ĐỘI HẢI QUÂN, TRUNG QUỐC ĐỐI DIỆN MỐI ĐE DỌA MỚI

Tri Thức Mới
2.1K Người theo dõi
394 Lượt xem video·4 thg 12, 2025
Chào mừng quý vị trở lại với chi tiết mới, tôi là Lê Minh.
Thưa quý vị, trong mấy ngày gần đây thì Trung Quốc lại bắt đầu nhốn nháo vì cái thông tin là
nội các Nhật Bản đã phê duyệt gói ngân sách quốc phòng bổ sung trị giá 5,4 tỷ đô la
để nhằm tăng tốc hiện đại hóa quốc phòng trong bối cảnh các cái mối đe dọa ngày càng gia tăng
từ Bắc Kinh, Triều Tiên và Nga. Trong khoản bổ sung này, khoảng 782 triệu đô được phân bổ
để mà đẩy nhanh việc nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu của máy bay và tàu chiến,
bao gồm bảo dưỡng, thay thế linh kiện và cải thiện mức độ trực chiến.
Ngoài ra thì Nhật cũng dành khoảng 73,6 triệu đô để tăng tốc đóng hai tàu chiến đa nhiệm lớp
Mogami, đồng thời tiếp tục đầu tư vào chương trình tàu ngầm lớp Tiger,
nhằm củng cố năng lực tác chiến dưới nước của lực lượng phòng vệ biển Nhật Bản.
Và khi mà chúng ta nhìn vào cái gói bổ sung ngân sách quốc phòng này về chiến lược và cách phân
bổ thì nó có cả điểm hợp lý lẫn những cái chỗ gợn khá rõ.
Chẳng hạn như là cái gói 5,4 tỷ đô bổ sung này nó không chỉ là một cái gói riêng rẽ đứng
một mình, mà nằm trong cái lộ trình đưa chi tiêu quốc phòng của Nhật lên 2% GDP,
tăng nhanh cái ngân sách quốc phòng để mà đối phó với cái môi trường an ninh ngày càng xấu đi,
trước những cái mối đe dọa từ Nga Trung Triều, cái liên minh mà vừa rồi chúng ta đã thấy là họ
cũng khuấy đảo thế giới đấy. Khoảng 73,6 triệu đô Nhật sẽ chi để mà đóng hai khinh hạm lớp Mogami,
và cái câu chuyện mà Nhật tập trung vào hải quân nó cũng sẽ là một trong những cái điều mà khiến
cho Bắc Kinh lo ngại. Bởi vì ai cũng biết là Nhật Bản có một kinh nghiệm tác chiến hải quân rất là
đa dạng và phong phú kể từ Thế chiến 2 đến giờ. Khi mà họ đầu tư vào hải quân và tiếp tục
nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu của hải quân thì đó cũng là một mối đe dọa cho Trung Quốc
nếu như muốn vượt ra cùng ngoài khu vực Tây Thái Bình Dương. Về lối dịch quân sự thì Nhật là rõ ràng
họ đang tăng hiện diện trên biển khi mà đóng khinh hạm và tập trung phát triển tàu ngầm.
Họ cũng vá hậu cần, bảo dưỡng để tàu và máy bay có thể ra khơi và cất cánh thường xuyên hơn,
chứ không chỉ là đắp chiếu trong cả. Về mặt định hướng thì đây không phải là một cái bước đi
vô lý đâu. Nó phù hợp với cái chiến lược dăn đe, bảo vệ tuyến đường biển và chống ngầm ở Tây
Thái Bình Dương. Cho nên, với khoản chi cho khả năng sẵn sàng chiến đấu thì đó chính là một điểm
cộng lớn của Nhật. Có nhiều quân đội trên thế giới ta biết là họ ham mua sắm khí tài mới,
nhưng mà hệ số sẵn sàng chiến đấu lại thấp, bởi vì họ thiếu ngân sách bảo dưỡng,
phụ tùng, giờ bay, giờ đi biển. Nhật họ chọn là rót thêm tiền vào khả năng hoạt động của máy bay
và tàu hiện có, cho hiệu quả ngắn hạn rất rõ, tăng số chuyến tuần tra, khả năng phản ứng nhanh
trước khủng hoảng, nâng chất lượng huấn luyện, v.v. Nó giống như việc không chỉ mua thêm xe tăng
và còn bơm tiền để xe tăng có thể chạy được xa và chạy được đều hơn.
Đáng chú ý là số tiền nó rót đúng vào cái điểm mạnh của Nhật là hải quân và chống ngầm.
Tàu chiến lớp Mogami là khinh hạm đa nhiệm, thiên về tác chiến trên biển, gần, phòng không,
chống ngầm, và nó khá phù hợp với cái kiểu chiến tranh xung quanh chuỗi đảo mà Nhật Bản họ quan tâm.
Còn tàu ngầm lớp Taigei thì là tàu ngầm biên gian điện hiện đại, tối ưu cho tác chiến ở vùng biển,
tương đối nông quanh Nhật. Nó có thể theo dõi tàu đối phương, bảo vệ tuyến hàng hải.
Cho nên cái việc đẩy nhanh mấy cái hạng mục này là hợp lô dịch chiến lược,
là một cái bước đi rất là tốt của Nhật Bản.
Và bản thân cái gói 5,4 tỷ đô nó cũng chỉ là một cái phần nhỏ so với ngân sách
quốc phòng thường niên là sấp xỉ 55 tỷ đô cho cái năm tài khoá 2025.
Gói này giống như là họ đạp ga thêm cho một số cái hạng mục ưu tiên,
chứ không phải là đảo hẳn hướng chiến lược. Và về cơ bản là nó bám sát cái đường lối
đã công bố từ năm 2022, đó là tăng cái sức mạnh gian đe, bao gồm cả năng lực tấn công tầm xa.
Nhưng nếu soi kỹ thì chúng ta sẽ thấy nó có những cái vấn đề. Đó là họ quá tập trung vào hải quân
và phân cứng, trong khi nếu nhìn bức tranh rộng hơn thì Nhật Bản đang phải đối mặt với cái việc
thiếu nhân lực trong lực lượng phòng vệ, vì gia hóa dân số và vì cái việc mà khó tuyển quân.
Không có nhiều người ham thích vào quân đội nữa. Nhu cầu tăng cường an ninh mạng, chiến tranh điện tử,
phòng vệ không gian, bảo vệ cơ sở hạ tầng dân sự, nó cũng là một cái điều mà Nhật Bản
cũng chưa thể nào trú trọng được hơn. Và cái gói của Nhật Bản, gói bổ sung quốc phòng ấy,
gần như nó không nhấn mạnh vào những yếu tố đó. Về lâu về dài, nếu cứ ưu tiên tàu chiến,
máy bay mà không đi kèm với việc đầu tư tương xứng cho con người, huấn luyện, hạ tầng mạng hay thông tin,
thì rõ ràng là Nhật Bản sẽ tạo ra một cái cảm giác là ngoài vỏ thì cứng, còn trong ruột thì lại mềm.
Thêm một vấn đề ít được nói tới nhưng cũng rất quan trọng đó là công suất công nghiệp. Ngay với cái lớp
Mugami đã từng có cái việc trì hoãn lắp hệ thống phóng thẳng đứng VOS bởi vì thiếu bán dẫn,
khiến tàu bàn dao mà chưa đầy đủ cấu hình vũ khí. Tốc độ đóng tàu, lắp đặt trang bị phức tạp bị
giới hạn bởi nhân lực kỹ thuật, nhà máy, chỗi khung ứng. Nếu cái nền công nghiệp không đáp ứng kịp,
thì việc bơm thêm tiền để mà tăng tốc đóng tàu và tàu ngầm có thể không đạt được tốc độ như kỳ vọng.
Ta hãy nhìn vào những gì mà Nhật Bản đang làm, từ cái việc tăng tri tiêu quốc phòng,
đẩy nhanh đóng tàu ngầm và tàu hộ vệ, đến việc đầu tư lớn vào khả năng sẵn sàng chiến đấu.
Người ta thường có lập luận thông thường đó là Nhật mạnh lên rất là đương nhiên là cái đội ám ảnh của
Trung Quốc rồi, bởi vì địa lý là họ ở sát sườn, lại là đồng minh ruột của Mỹ,
hay cái việc mà khiến cho chiến lược phá phong bế mở cửa ra Thái Bình Dương của Trung Quốc nó trở
nên khó khăn hơn bao giờ hết, v.v. Rất nhiều điều mà khiến Trung Quốc phải e rẻ.
Tuy nhiên mà đó chưa phải là tất cả đâu. Câu trả lời không đơn giản nằm vào cái chuyện
Nhật Bản mạnh lên, mà ở chỗ những cái điểm đau của Nhật Bản lại chạm đúng vào những cái điểm
mà chính Trung Quốc cũng đang đối mặt. Và quan trọng hơn thì cái tác động trực tiếp của nó nhắm đến
không gian chiến lược mà Bắc Kinh xem là sống còi. Trước hết, nhiều vấn đề mà Nhật đang phải giải quyết
thật ra nó cũng là những bài toán của Trung Quốc thôi. Nhật Bản họ lo ngại dân số già đi nhanh,
khiến lực lượng quân đội thiếu nhân lực, càng hiện đại hóa thì càng khó tuyển người.
Trung Quốc thì cũng trong cái hoàn cảnh tương tự thôi. Dân số bước vào thời kỳ già hóa sâu,
quy mô thanh niên giảm, việc tuyển quân ở nhiều nơi không còn dễ dàng.
Hai nước, Trung, Nhật, dù quy mô rất khác nhau, đều đang đối diện với câu hỏi là sức mạnh quân sự
có thể tăng đến đâu khi mà nguồn nhân lực bị thu hẹp lại. Về công nghiệp quốc phòng thì Nhật Bản
bị giới hạn bởi cái năng lực sản xuất và chuỗi cung ứng, đóng tàu, nhanh hơn không hẳn chỉ là
cần tiền mà còn phải cần kỹ sư, dây chuyền và vật tư nữa.
Trung Quốc, dù được xem là công sửang thế giới, cũng không hoàn toàn xuân sẻ đâu. Những vụ điều tra
và thanh chừng trong lực lượng tên lửa hay các tập đoàn quốc phòng cho thấy là nội bộ của họ
nó tồn tại những vấn đề tham nhũng và kém hiệu quả. Nói cách khác là hai bên họ đều phải giải
cái bài toán đó là tiền không phảo đến nào cũng tự động biến thành sức mạnh quân sự.
Cả Nhật và Trung Quốc cũng đang vướng vào cái vòng xoáy chạy đua vũ trang. Nhật tăng cường tên lửa,
Trung Quốc thì đầy mạnh hải quân. Trung Quốc mở rộng, Nhật lại tăng tốc. Hàn Quốc,
Mỹ, Đài Loan cũng điều chỉnh theo. Mỗi quốc gia họ đều sợ mình đi chậm hơn đối thủ,
và chính cái nỗi sợ đó nó khiến mọi bên đều bước nhanh hơn, tạo ra một cái vòng phản
ứng nối tiếp không dễ dừng lại. Ở góc nhìn này thì Trung Quốc cũng đang chịu sao kép,
chẳng kém gì nhật cả đâu. Thế nhưng những cái điểm tương đồng ấy nó chỉ giải thích một phần thôi.
Điều khiến Trung Quốc lo lắng mạnh mẽ hơn nó nằm ở chỗ khác. Đó là Nhật Bản đang dịch
chuyển từ một quốc gia phòng thủ thuần túy sang một quốc gia có khả năng đánh trả tầm xa,
và đây mới là cái điều quan trọng. Bởi vì nó đã thay đổi hoàn toàn bài toán chiến lược của Bắc Kinh.
Trước đây thì Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc PLA chủ yếu chuẩn bị cho tình huống đối đầu
với Mỹ, còn Nhật Bản là chỉ đóng vai trò hậu phương, cung cấp căn cứ thôi. PLA họ luôn nghĩ như vậy.
Giờ đây, nếu Nhật sở hữu tên lửa tầm xa, hạm đội hiện đại và radar trải khắp vùng đảo phía
Tây Nam, thì họ sẽ trở thành một cái đối tác, một cái tác nhân quân sự chủ động, có thể can thiệp trực
tiếp vào các kinh bản xung đột mà Trung Quốc coi là cốt lõi, đặc biệt là ở eo biển Đài Loan và ở biển Hoa Đông.
Và điều này nó dẫn đến một cái điểm mấu chốt thưa quý vị, đó là Trung Quốc họ cảm thấy không gian
chiến lược của họ đang ngày càng bị thua hẹp. Các đảo của Nhật Bản từ Kyushu đến Okinawa và quần đảo
Nansei kết hợp với Đài Loan, nó đã tạo ra thành một cái dãy cửa ngõ án đường ra Thái Bình Dương của Trung Quốc.
Hải quân PLA, họ muốn tiến xa hơn thì phải đi qua những cái eo biển hẹp, vốn nằm trong phạm vi giám sát của Nhật.
Khi mà Tokyo tăng tốc cái việc mà nâng cấp hạm đội, bố trí hệ thống tên lửa phòng thủ và tăng sự hiện diện
quân sự trên các cái đảo và tiền tiêu đó, thì Bắc Kinh chắc chắn là họ đã lo ngại rằng là chuỗi đảo thứ nhất,
vốn đã là rào cản, nay càng trở nên khó vượt qua hơn. Thêm vào đó, là một yếu tố đặc biệt nhạy cảm,
đó là lịch sử. Trong dư luận Trung Quốc, câu chuyện về chiến tranh với Nhật nó luôn được nhắc đi nhắc lại.
Chính quyền Trung Quốc thì dựa rất nhiều vào quá khứ này để củng cố tính chiến tranh. Vì vậy,
bất kỳ động thái quân sự nào của Nhật Bản, dù mục tiêu thực tế là phòng thủ, đều dễ bị diễn giải
thành dấu hiệu phục hồi quân Việt, buộc Bắc Kinh phải tỏ ra cứng rắn để mà giữ hình ảnh mạnh mẽ trong mắt dân chủ.
Và kết hợp tất cả những yếu tố đó thì thật là dễ hiểu vì sao mà Trung Quốc phản ứng mạnh trước các bước đi của Nhật.
Họ không chỉ nhìn thấy một đối thủ đang tăng cường sức mạnh, mà nhìn thấy một đối thủ đang tiến gần
vào đúng cái vùng nhạy cảm chiến lược của mình, trong khi chính họ cũng mang những áp lực nội tại,
từ kinh tế, nhân khẩu học đến sự cạnh tranh quân sự không hề nhẹ. Nỗi lo của Bắc Kinh là một sự pha trộn
giữa lý do chiến lược và nhạy cảm nội bộ, khiến phản ứng của họ mạnh hơn nhiều so với những gì mà người ngoài tưởng.
Hôm 3 tháng 12 thì truyền thông đã đăng tải những vụ việc về tàu thuyền Trung Quốc và Nhật Bản
đối đầu gần các cái đảo tranh chấp khi mà căng thẳng ngày càng chậm trọng.
Đến ngày 3 tháng 12 thì câu chuyện xoay quanh chủ quyền về đảo Okinawa nó vẫn tiếp tục gây gắt.
Hẳn quý vị còn nhớ là cách đây vài ngày thì Trung Quốc họ vừa mới tuyên bố là
cái Hiệp ước Hòa bình San Francisco ấy là bất hợp pháp và vô hiệu.
Chúng tôi thì cũng đã đọc và nghiên cứu khá là kỹ lưỡng cái hiệp ước này,
thì thấy là cái hiệp ước này nó có cái phần vạch về lãnh thổ như sao.
Điều 2 quy định những cái vùng mà Nhật từ bỏ sau Thế chiến II. Trong đó thì
Điều 2A quy định là Nhật công nhận độc lập Triều Tiên và từ bỏ mọi quyền với Triều Tiên.
Điều 2B Nhật từ bỏ mọi quyền, danh nghĩa và yêu sách đối với Phong Potsa
tức là Đài Loan ấy và quần đảo Bành Hổ. Điều 2C Nhật từ bỏ quyền với quần đảo Kurin
và phần Nam Sakhalin. Điều 2F Nhật từ bỏ mọi quyền với quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.
Nhưng hiệp ước nó chỉ nói là Nhật từ bỏ,
chứ nó không nói rõ Đài Loan rồi Bành Hổ hay Hoàng Sa, Trường Sa được trao cho nước nào.
Điều này về sau nó đã tạo ra một cái tranh luận về tình trạng pháp lý chưa được xác định của Đài Loan,
và là cái điểm mà Trung Quốc rất không hài lòng. Điều 3 nói rằng là Nhật đồng ý cho Hoa Kỳ quyền,
đề nghị đặt các đảo sau dưới chế độ ủy trị Liên Hợp Quốc, với Hoa Kỳ là cơ quan quản lý duy nhất,
và cho tới khi có quyết định, Mỹ có toàn quyền hành chính, lập pháp, tư pháp trên các cái đảo này.
Đó là đảo, quần đảo Nansei phía nam bị tuyến hai chín độ Bắc,
bao gồm quần đảo Ryukyu, trong đó có Okinawa, quần đảo Nanpo, quần đảo Bonin, Iwo Jima, Makus, v.v.
Sau này thì Mỹ đã trao trả cái quyền quản lý Okinawa cho Nhật vào năm 1972.
Nhật cho rằng lãnh quần đảo Senkaku nó cũng nằm trong phạm vi đã trả lại,
còn Trung Quốc thì lại phản nối cái cách diễn ra này.
Lập trường chính thức của Bắc Kinh từ thời của ông Thủ tướng Chu Ân Lai năm 1951
đến các phát ngôn viên hiện nay nó có mấy ý lớn. Một là họ nói rằng là hiệp ước San Francisco
đó là riêng lẻ, riêng rẽ và loại Trung Quốc ra ngoài. Trong các phát biểu mới đây thì người phát ngôn
Bộ Các giao Trung Quốc nói thẳng rằng là cái gọi là hiệp ước hòa bình San Francisco là một hiệp
ước hòa bình riêng rẽ với Nhật được đàm phán trong khi loại trừ Trung Quốc và Liên Xô.
Cái bài phân tích trên The Diplomat cũng đã trích lại tuyên bố của Chu Ân Lai năm 1951.
Vì Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa bị loại khỏi quá trình chuẩn bị, soạn thảo, ký kết,
nên mọi phán quyết liên quan đến lãnh thổ và chủ quyền của Trung Quốc,
trong đó có Đài Loan, là bất hợp pháp và vô hiệu.
Cái ý logic của Bắc Kinh nghe là Trung Quốc là nạn nhân chính của chiến tranh với Nhật,
là một trong tứ cường chống fascist nhưng mà lại không được mời dựa hội nghị hòa bình.
Vậy nên, một hiệp ước do Mỹ dẫn dắt không có Trung Quốc,
không có Liên Xô mà đi quyết định chuyện lãnh thổ Trung Quốc thì nó không có tính chính đáng.
Họ còn nói là hiệp ước nó đi ngược với tuyên bố Cairo 1943,
nếu là Đài Loan cần phải được trả lại Trung Quốc, rồi là tuyên bố Potsdam 1945 yêu cầu
Nhật Bản thực hiện cam kết Cairo và những nguyên tắc cơ bản của hiến trường Liên Hợp Quốc
và luật pháp quốc tế nữa. Tất nhiên vấn đề nó nằm ở chỗ là khi mà Trung Quốc tuyên bố rằng
hiệp ước hòa bình San Francisco, SFPT, là bất hợp pháp và vô hiệu,
thì Bắc Kinh nghĩ rằng là họ đang tấn công tính chính danh của Nhật Bản trong các tranh chấp hiện tại.
Nhưng trên thực tế thì cái việc phủ nhận hiệp ước San Francisco lại khiến Trung Quốc rơi vào
một thế khó, đó là tự bào mòn chính cơ sở pháp lý hậu thế chiến hải mà họ đang dựa vào để
biện minh cho chủ quyền lãnh thổ của mình. Nói cách khác thì đây là trường hợp điển hình
của cái việc há miệng mắt ngoài trong tranh chấp địa chính trị.
Để thấy rõ điều đó thì cần nhớ một cái sự thật đơn giản đó là Hiệp ước hòa bình San Francisco,
đó là hiệp ước quốc tế duy nhất trong trật tự hậu chiến quyết định Nhật Bản phải từ bỏ các vùng
lãnh thổ mà họ từng chiếm được từ Trung Quốc vào khu vực, bác bỏ nó không chỉ phủ nhận lập luận
của Nhật mà còn vô hiệu hóa cả cái sự từ bỏ đó cả. Trong Hiệp ước hòa bình San Francisco thì
Nhật Bản đã tuyên bố từ bỏ Đài Loan, Bành Hồ, Hoàng Sa, Trường Sa và các cái vùng lãnh thổ
khác từng chiếm từ Trung Quốc và Đông Nam Á. Những cái điều khoản này chính là hòn đá tảng
của trật tự hậu chiến châu Á. Nó không trao cho nước nào, nhưng nó xác định rõ là Nhật không còn quyền.
Bây giờ giả sử chúng ta nhận cái lập luận của Trung Quốc đó là Hiệp ước San Francisco là bất hợp pháp
và vô hiệu, thì cái hậu quả nó lập tức xuất hiện đó là Nhật không còn bị giang buộc bởi cái nghĩa vụ
từ bỏ nữa. Các vùng lãnh thổ này lại quay lại trạng thái pháp lý trước năm 1951,
tức là tranh chấp mơ hồ hoặc thậm chí là có thể là còn chưa được giải quyết nữa.
Và điều đó dẫn đến một nghịch lý đó là Trung Quốc đang phá chính cái nền tảng mà họ cần
để chứng minh là Nhật đã trả lại hay là từ bỏ những cái vùng lãnh thổ mà Trung Quốc đang đòi.
Cho nên cái việc mà Bắc Kinh tuyên bố bác bỏ Hiệp ước San Francisco ấy, điều đó nó làm hại
chính họ trước tiên. Nếu Hiệp ước bị phủ nhận, tức là không còn Hiệp ước ghi là Nhật bản từ bỏ
Đài Loan, Cairo và Potsdam nó chỉ là tuyên bố chứ không phải là Hiệp ước chuyển giao. Còn văn kiện đầu hàng
năm 1945 của Nhật nó cũng không nói là Nhật chuyển giao Đài Loan cho Trung Quốc. Thế thì cái điều đó ấy,
thưa quý vị, nó sẽ đưa vấn đề pháp lý của Đài Loan quay về trạng thái năm 1945 đến 1951,
khi đó có quân đội Trung Quốc vào tiếp quản nhưng không có văn bản rõ ràng buộc quốc tế khẳng định chủ quyền
của Trung Quốc. Và điều này ngang với cái quan điểm của nhiều học giả phương Tây rằng là địa vị pháp lý
của Đài Loan chưa được xác định, điều mà Bắc Kinh luôn bác bỏ. Bây giờ thì họ lại tự mình mở lại
cái cánh cửa mà họ đang cố đóng suốt 70 năm qua. Vấn đề Hoàng Sa-Trường Sa thì cũng tương tự như
vậy. Trung Quốc mất một trong các căn cứ mà họ hay viện dận. Trung Quốc, đặc biệt là trước năm
1911, nhiều lần nhắc đến Hiệp ước San Francisco để mà khẳng định là Nhật đã từ bỏ Hoàng Sa-Trường
Sa. Do đó, họ là cái người kế thừa hợp pháp. Nhưng nếu nói là cái Hiệp ước San Francisco vô hiệu,
thì Nhật chưa từ bỏ các cái quần đảo này bằng một cái Hiệp ước quốc tế đa phương. Và việc tiếp quản
của Trung Quốc sau năm 1946 trở về tranh chấp hành chính thực tế, chứ không phải là hậu chiến quốc tế
nữa. Hậu quả thực tế đó là Trung Quốc tự loại bỏ một trong số rất ít điểm dựa pháp lý mà họ
có thể dùng để mà biện minh cho cái yêu sách Biển Đông của mình. Nhất là khi lập luận chủ quyền
lịch sử đã bị tòa trọng tài năm 2016 bác bỏ, thì cái việc phủ nhận Hiệp ước San Francisco
càng làm Bắc Kinh mất đi một cái mảnh kép còn soát lại. Họ thường dùng một cái cụm từ rất quen thuộc
thế này. Có lẽ là quý vị cũng đã nghe nhiều đó là trật tự hậu chiến phải được tôn trọng,
di sản thế chiến thứ hai không thể bị đảo ngược, để gây áp lực lên Nhật về Senkaku và các vấn đề
lịch sử. Thế nhưng nghịch lý ở đây đó là Hiệp ước San Francisco chính là văn kiện hình thành trật
tự hậu chiến ở châu Á. Nếu coi nó bất hợp pháp thì chính Trung Quốc đã làm suy yếu trật tự mà họ yêu
cầu người khác phải tuân theo. Có nhiều thiệt hại như vậy, tại sao Trung Quốc vẫn bác bỏ Hiệp
ước San Francisco? Bởi vì họ nhìn nó không phải bằng lô dịch pháp lý mà bằng lô dịch chính trị.
Họ muốn bác bỏ mọi lập luận của Nhật trong vấn đề Senkaku điếu ngư, lại vừa muốn phủ nhận
cái quyền của Nhật trong hệ thống an ninh do Mỹ thiết lập sau chiến tranh, lại vừa muốn làm suy
yếu cái tính chiến tranh của chính quyền Nhật khi mà đề cập đến Đài Loan. Nhưng bằng cách đó thì
họ đã tạo ra một cái lỗ hổng trong chính lập luận mà họ cần để chứng minh chủ quyền của mình đối với
Đài Loan và miền Đông. Một nhát chém mà tưởng như là nhắm vào Nhật nhưng mà lại đâm ngược vào chính mình
trước. Bắc Kinh đang tự đặt mình vào cái thế há miệng mắt quai lớn nhất trong toàn bộ cái cuộc tranh cãi
về chủ quyền ở Đông Á. Và ta thấy là cái câu chuyện này nó không chỉ là một cái tranh luận học thuật
vô hại đâu. Nó là ví dụ điển hình về cách một cái lập luận chính trị tưởng chừng có lợi trong
ngân hạng lại làm suy yếu lập trường chiến lược của chính họ trong dài hạn. Và trong logic quốc tế thì
bạn không thể vừa tuyên bố tôn trọng kết quả của Thế chiến thứ hai, lại vừa phủ nhận Hiệp
ước Hòa bình quan trọng nhất đã tạo ra kết quả đó. Bạn không thể đòi hỏi người khác phải tuân thủ
trật tự hậu chiến rồi lại tự tay rút bỏ một trong những cột trụ của cái trật tự đó. Trung Quốc muốn
biến mình thành cái người viết lại lịch sử nhưng mà hóa ra lại chính là cái người để lộ cái điểm
yếu lớn nhất của mình trước lịch sử. Hiểu đúng lịch sử thì nó không chỉ là kiên thức đâu,
nó là trách nhiệm đấy quý vị. Và mọi nỗ lực bóp méo lịch sử để mà phục vụ lợi chính trị
nó đều dẫn đến cùng một kết cục. Sự thật vẫn là sự thật thôi. Còn lời dối trá thì tự phơi bầy
qua thời gian. Lịch sử nó không phải là món đồ trưng bầy. Muốn trình sửa thế nào thì trình sửa.
Hiệp ước hòa bình San Francisco, trật tựa hậu chiến và các văn kiện quốc tế là nền móng
của châu Á hiện đại, và không một quốc gia nào có quyền phủ nhận chúng chỉ để làm đẹp cho câu chuyện
của riêng mình. Khi một quốc gia bóp méo lịch sử để giành lợi thế hiện tại, thì họ không chỉ lừa
dối người khác mà còn đang tự lừa dối chính mình và tự làm suy yếu lập luận của chính họ trong mặt
thế giới. Đến nay thì chương trình ngày hôm nay của chúng tôi xin phép đổi tạm dừng. Xin mời quý
vị chia sẻ quan điểm cá nhân ở phần dưới. Lê Minh xin chào và hẹn gặp lại.
