ẤN ĐỘ XÂY VÀNH ĐAI THÉP Ở HIMALAYA KHIẾN TRUNG QUỐC RƠI VÀO THẾ BẤT LỢI LỚN

Tri Thức Mới
2.1K người theo dõi
445 Lượt xem video·27 thg 12, 2025
ẤN ĐỘ XÂY VÀNH ĐAI THÉP Ở HIMALAYA KHIẾN TRUNG QUỐC RƠI VÀO THẾ BẤT LỢI LỚN
Ngày 25 tháng 12, Wall Street Journal đưa tin,
Ấn Độ đang chi hàng trăm triệu đô la để xây dựng đường xá, đường hầm và đường băng khắp dãy Himalaya,
nhằm chuẩn bị cho một cuộc xung đột có thể xảy ra trong tương lai với kẻ thủ lâu năm của mình là Trung Quốc.
Để hiểu vì sao Ấn Độ lại chi hàng trăm triệu đô la xây đường xá, đường hầm và đường băng dọc dãy Himalaya,
cần đặt sự việc này vào mạch đối đáp chiến lược dài hơi giữa Trung Quốc và Ấn Độ,
chứ ta cũng không thể nhìn nó như một quyết định hạ tầng thuần túy được.
Đây là một chuỗi hành động, phản ứng, trong đó mỗi bước đi của bên này đều nhằm vá lỗ hổng của mình
và khoét sâu điểm yếu của đối phương. Tất nhiên rồi, trong bàn cờ địa chính trị, đó là chuyện rất thường gặp.
Ta biết rằng trong hơn một thập kỷ qua, thì Trung Quốc đã âm thầm nhưng nhất quán đẩy mạnh xây dựng hạ tầng quân sự,
dân sự kép dọc tuyến biên giới về Ấn Độ, đặc biệt là tại hai khu vực rất nhạy cảm,
có thể coi là nhạy cảm nhất, đó là Ladakh ở phía Tây và Arunachal Pradesh, khu vực Tawang ở phía Đông.
Tại Ladakh, thì Trung Quốc đã tập trung vào việc mở rộng và hiện đại hóa mạng lưới đường bộ trên
cao nguyên Tây Tạng, kết nối sâu các căn cứ hậu phương với khu vực gần đường kiểm soát thực tế LAC.
Đặc điểm địa lý ở đây là địa hình cao, rộng và khô, rất thuận lợi cho việc làm đường dài,
thẳng, cho phép cơ giới hóa nhanh, và điều này thì giúp cho quân đội Trung Quốc có khả năng đưa
lực lượng lớn lên tiền tuyến trong thời gian ngắn, đồng thời duy trì tiếp tế ổn định,
kể cả trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt. Còn ở phía Đông, quanh Arunachal Pradesh,
Trung Quốc cũng không đứng yên, họ xây dựng và nâng cấp các tuyến đường, cầu, doanh trại và sân bay
giã chiến ở phía Tây Tạng đối diện khu vực Tawang. Mục tiêu ở đây không chỉ là quân sự thuần
túy mà còn mang tính chính trị biểu tượng, bởi vì Bắc Kinh luôn coi Arunachal là Nam Tây Tạng.
Việc có hạ tầng tốt giúp cho Trung Quốc duy trì sự hiện diện thường xuyên và tạo một áp lực
đáng kể về mặt tâm lý lên phía Ấn Độ. Định điểm của chuỗi hành động này là các vụ đối đầu
và sô sát từ năm 2017 đến năm 2020, đặc biệt là vụ động độ chết người ở thung lũng Gangwan năm
2020. Sự kiện này không chỉ là một va chạm biên giới, mà là hồi chuông cảnh tỉnh chiến lược đối
với New Delhi. Đó là Trung Quốc đã đạt được ưu thế rõ rệt về tốc độ triển khai và hậu cần ở
những khu vực thèn chút nhất. Sau Gangwan, giới hoạch định chiến lược Ấn Độ đã đi đến một kết luận
rất thực tế, đó là New Delhi không thua vì thiếu binh sĩ hay ý chí, mà sẽ thua vì cơ động chậm
và hậu cần mong manh. Ở Himalaya, quân đội không thể chiến đấu nếu đường tiếp tế bị cắt bởi
tuyết, lờ đất, hay chỉ đơn giản là vì tuyến đường quá ít và quá hẹp.
Trong nhiều thầm niên, Ấn Độ đã tự chói mình vào tư duy phòng thủ cũ kỹ, không xây quá nhiều hạ
tầng sát biên giới vì lo ngại đối phương dùng chính hạ tầng đó để tấn công. Trong khi đó, Trung Quốc
lại đi theo hướng ngược lại, họ xây thật nhiều, thật nhanh, chấp nhận rủi ro, nhưng đổi lấy khả năng
kiểm soát nhiệm độ chiến trường. Vụ việc tại thung lũng Gangwan khiến New Delhi hiểu rằng,
không xây mới là rủi ro lớn hơn nhiều so với việc xây mới. Từ thời điểm đó thì tư duy chiến lược của
họ đã bắt đầu thay đổi một cách căn bản. Thay vì né tránh, họ đã chuyển sang vá lỗ hổng hậu cần và cơ động,
thứ mà Trung Quốc đã khai thang rất hiệu quả. Điều quan trọng là Ấn Độ không chọn cách đáp trả đối xứng,
họ không chạy đua xây hạ tầng ồ hạt trên toàn tuyến như là Trung Quốc, vì điều đó vừa tốn kém,
lại vừa không thực tế với địa hình phía Ấn Độ, vốn dốc, hẹp và phức tạp hơn nhiều.
Thay vào đó, New Delhi chọn cách đánh vào những điểm thêm chốt nhất, nơi mà nếu được cải thiện
thì toàn bộ thế trận sẽ đổi khác. Đây chính là điểm cho thấy sự đối đáp chiến lược,
chứ không phải là phản ứng hoảng loạn. Trung Quốc thì mạnh về đường dài trên cao nguyên,
Ấn Độ thì tập trung vào đường ngắn, đường hầm và các đoạn chiến lược.
Trung Quốc có ưu thế triển khai nhanh từ phía sau, Ấn Độ tìm cách rút ngắn khoảng cách từ hậu phương
ra tiền tuyến, đặc biệt là trong mùa đông. Bắc Kinh tạo áp lực thường trực bằng hiện diện thì
New Delhi tăng khả năng luân chuyển, tiếp tế và duy trì lực lượng bền bỉ, thay vì chỉ dồn quân nhất thời.
Nói cách khác, Ấn Độ không tìm cách đánh bại Trung Quốc trên giấy tờ,
mà tìm cách làm cho Trung Quốc không còn lợi thế rõ rệt như trước nữa. Như vậy,
chỉ khi đặt trong bối cảnh trên, các công trình mà Ấn Độ đang xây mới thực sự có ý nghĩa.
Nếu đặt câu chuyện Ấn Độ xây đường, xây hầm và đường băng ở Himalaya bên cạnh việc Trung Quốc
thúc đẩy siêu đập lớn gấp ba lần đập tam hiệp trên thượng nguồn sông Yalung-Shanpo,
thì cái bức tranh chiến lượng sẽ trở nên rõ ràng và cũng đáng lo ngại hơn rất nhiều thưa quý vị.
Đây không còn là đối đầu thuần túy bằng súng đạn hay là binh lực, mà đó là cuộc đối đầu bằng
trí thông minh, một cuộc đấu trí dài hạng, nơi mà nguồn nước đã trở thành một công cụ quyền lực
vô cùng quan trọng. Trung Quốc đã và đang lên kế hoạch xây dựng một con đập thủy điện
khổng lồ trên đoạn sông Yalung-Shanpo ở Tây Tạng, tại khúc cua lớn trước khi dòng sông chảy
sang Ấn Độ và được gọi là Brahmaputra. Thông tin này thì chúng tôi đã vài lần chuyển tới cho quý
vị rồi. Quy mô dự án được mô tả là có thể lớn gấp nhiều lần đập tam hiệp, không chỉ về công suất
phát điện, mà còn về khả năng điều tiết dòng chảy. Về mặt chính thức thì Bắc Kinh gọi đây là dự án
năng lượng sạch. Thế nhưng với New Delhi thì câu chuyện nó lại hoàn toàn khác. Nó nằm ở quyền kiểm soát
dòng nước từ thượng nguồn. Ta biết là trong địa chính trị, nước là một thứ vũ khí cực kỳ đặc biệt.
Nó không cần bị cắt hoàn toàn mới gây ra thiệt hại. Chỉ cần giữ nước vào mùa khô hoặc là xả nước
bất thường vào mùa mưa là đủ để tạo áp lực lớn lên vùng hạ lưu. Với Brahmaputra, con sông nuôi
sống hàng chục triệu người ở đông bắc Ấn Độ. Điều này biến nguồn nước thành một điểm yếu chiến lược thực sự.
Tuy nhiên, chúng ta cũng cần nói rõ là Trung Quốc không dễ sử dụng nước như là một vũ khí tuyệt đối. Phần lớn
lượng nước của Brahmaputra đến từ mưa gió mùa và các phụ lưu nằm trong lãnh thổ Ấn Độ. Điều đó có
nghĩa là Bắc Kinh không thể bóp nghẹt hoàn toàn con sông theo y muốn. Hơn nữa, mọi hành động điều tiết
cực đoan đều mang lại rủi ro lớn về môi trường, địa chất và chính trị, kể cả cho chính Trung Quốc,
vì khu vực Tây Tạng là vùng địa chấn phức tạp. Thế nhưng điều quan trọng đó là Trung Quốc không cần gây
thảm họa để đạt được mục tiêu chiến lược, chỉ riêng việc nắm quyền kiểm soát thượng nguồn cũng đủ
để tạo ra một cái tâm lý bất ổn và rủi ro thương trực cho hạ lưu như là cho Ấn Độ.
Khi một quốc gia biết rằng dòng nước sống còn của mình có thể bị điều chỉnh từ bên ngoài,
thì họ buộc phải tính toán trong mọi kịch bản, kể cả là khi chưa có hành động cụ thể nào xảy ra.
Đó chính là giá trị chiến lượng của con đậu đối với Bắc Kinh.
Trong bối cảnh đó, câu hỏi đặt ra là Ấn Độ có thể tự bảo vệ mình hay không?
Câu trả lời thực tế đó là họ không thể vô hiệu hóa hoàn toàn rủi ro từ thượng nguồn của Trung Quốc,
nhưng có thể làm giảm mạnh khả năng Bắc Kinh dùng nước để gây choáng hoặc gây tê liệt, tổn hại đến chính mình.
Đây là lý do vì sao các công trình hạ tầng tại Himalaya của Ấn Độ cần được đặt trong một bối cảnh
rộng hơn, cần được nhìn nhận một cách sâu sắc hơn, không chỉ dưới lăng kính quân sự.
Đường xá, các đường hầm và đường băng ở vùng núi cao, nó không chỉ để điều quân,
mà còn để ứng phó với các kịch bản khủng hoảng phi quân sự, đặc biệt là lũ luân và thảm họa môi trường.
Khi có đường thông suốt bốn mùa, lực lượng cứu hộ và quân đội Ấn Độ có thể tiếp cận
nhanh các khu vực hạ lưu nếu xảy ra xả nước bất thường. Khi có đường băng và điểm hạ cánh gần biên giới,
việc sơ tán dân cư, vận chuyển nhu yếu phẩm và cứu trợ khẩn cấp sẽ không phụ thuộc hoàn toàn vào đường
bộ vốn rất dễ bị chết cắt tại Himalaya. Nói một cách dễ hiểu thì Ấn Độ không chặn được dòng nước
từ đầu nguồn, nhưng mà họ đang chuẩn bị để không bị tê liệt khi mà nước trở thành vấn đề sống cỏ.
Song song với đó, New Delhi cũng tìm cách tạo ra những van an toàn trong lãnh thổ của mình.
Việc nghiên cứu và xây dựng các hồ chứa, đập điều tiết ở hạ lưu Brahmaputra nhằm mục tiêu giảm
sốc khi thượng nguồn xả nước và tăng khả năng giữ chữ trong mùa khô. Đây không phải là đối đầu
trực diện với Trung Quốc, mà là tự ra cố khả năng chống chịu để không bị đặt hoàn toàn vào thế bi đậu.
Một yếu tưởng nữa khiến cho vũ khí nước của Trung Quốc có giới hạn là chính địa hình Himalaya.
Khu vực này có độ rốc lớn, địa chất phức tạp và hoạt động địa chấn mạnh. Việc điều tiết dòng nước
ở quy mô cực lớn luôn tiềm ẩn dù do sạt lở, động đất và thảm họa lan ngược, gây thiệt hại ngay chính
khu vực thượng nguồn. Điều này khiến mọi toan tính sử dụng nước như công cụ gây sức ép đều là con
dao hai lưỡi, không thể dùng một cách tùy tiện được. Và khi ghép tất cả các mảnh lại,
ta thấy rõ một cái lô dích đối đầu giữa đôi bên. Trung Quốc thì tìm cách mở rộng đòn bầy phi quân sự
bằng việc kiểm soát thượng nguồn, còn Ấn Độ thì không thể ngăn chặn điều đó hoàn toàn,
nhưng họ đáp trả bằng cách xây dựng khả năng chịu đựng và phản ứng nhanh ở Hạ Lưu. Đây là hai cách
chơi khác nhau, nhưng mà cùng nhằm một mục tiêu đó là kiểm soát rủi ro trong một cuộc cạnh tranh dài hạn.
Bây giờ thì chúng ta sẽ đi sâu vào từng công trình cụ thể, đặt chúng đúng trên bản đồ địa lý để
thấy vì sao ở chỗ đó lại có ý nghĩa chiến lược của quân sự đặc biệt.
Trước hết là La Đắc, nơi được coi là điểm nóng nguy hiểm nhất ở hướng Tây. Về địa lý thì đây là
cao nguyên rất cao, kỹ hậu khắc nghiệt, dân thưa thớt, nhưng lại sát khu vực đối đầu trực tiếp. Điểm
yếu lịch sử của Ấn Độ ở đây không phải là thiếu quân, mà là họ bị bóp nghẹt hậu cần, nhất là vào mùa đông.
Trong bối cảnh đó thì hầm Jojila mang ý nghĩa chiến lược rất lớn. Trước khi có con hầm này,
thì con đèo Jojila gần như là quyết định số phận của La Đắc mỗi mùa đông. Tuyết rơi là đường tắc,
mà đường tắc là tiếp tế bị gián đoạn. Điều này từng khiến Trung Quốc có lợi thế gián tiết,
bởi vì họ biết đối phương bị chói bởi thời tiết. Khi hầm được xây, thì La Đắc lần đầu tiên có
kết nối quanh nằm với hậu phương. Về quân sự thì điều này đồng nghĩa với việc các đơn vị tiền phương
không còn sợ bị cô lập theo mùa, và đối phương không thể chọn mùa xấu để mà gây sức em được.
Nói thẳng ra, thì hầm này nó đã tước đi một cái lợi thế vô hình nhưng rất nguy hiểm của Trung Quốc.
Cũng ở La Đắc, các tuyến đường bộ sát biên giới và những đoạn cuối cùng dẫn ra tiền tuyến có ý nghĩa
khác hẳn so với đường giao thông thông thường. Địa hình ở đây không cho phép xây đường lớn,
thẳng và rộng như là phía cao nguyên Tây Tạng. Vì vậy, mỗi km đường mới của Ấn Độ đều
được tính toán để rút ngắn thời gian phản ứng. Trong chiến tranh vùng núi, hơn thua không nằm
ở việc ai có nhiều quân hơn, mà là việc ai đưa quân và tiếp tế tới trước vài giờ hoặc vài ngày.
Những con đường này giúp Ấn Độ duy trì hiện diện thường xuyên, thay vì chỉ tăng quân theo từng đợt
căng thẳng rồi lại rút. Đặc biệt quan trọng là đường băng Neoma. Về mặt địa lý thì đây là khu vực
cao, trống trải, rất phù hợp cho vận tải đường không. Việc xây đường băng ở gần cái tiến đối đầu
này không có nghĩa là chuẩn bị tấn công, mà là bảo hiểm chiến lược. Khi có Neoma thì Ấn Độ sẽ giảm
mạnh rủi ro bị bóp nghẹt hậu cần. Nếu đường bộ bị tuyết, sạt lở hoặc là bị gián đoạn,
tiếp tế luân chuyển quân sự và cứu thương vẫn có thể thực hiện bằng đường không. Với quân sự thì điều này
làm cho mọi kịch bản gây sức ép nhanh của Trung Quốc kém hiệu quả hơn nhiều.
Chuyển sang Arunachal Pradesh, bức tranh địa lý lại khác. Đây là vùng núi dốc,
rưng rậm, mưa nhiều và mang tính nhạy cảm chính trị cao. Trung Quốc lâu nay coi khu vực này là điểm
có thể gây sức ép cả về quân sự lẫn tâm lý. Điểm yếu cũ của họ là tuyết đường lên các khu vực
then chốt như là Tawang dễ bị chia cắt bởi thời tiết hoặc là sạt lở.
Trong bối cảnh đó, hầm Sela và hầm Nechifu có ý nghĩa chiến lược rất rõ, trung biên những tuyết
đường vốn phụ thuộc nặng vào thời tiết thành đường bốn mùa, giúp Ấn Độ không còn bị động khi mùa mưa
hay mùa đông đến. Về mặt quân sự, các hầm này cho phép đưa quân vào hậu cần từ vùng đồng
bằng Ashram lên tuyến cao nhanh hơn, kín hơn và an toàn hơn. Quan trọng hơn, chúng đóng lại khả năng
Trung Quốc tạo ra khủng hoảng bất ngờ bằng cách chọn đúng thời điểm thời tiết xấu để ra tay.
Và khi mà ghép tất cả các công trình này lại ở trên bản đồ, ta thấy rõ một logic rất nhất quán.
New Delhi không tìm cách chạy đua xây hạ tầng khắp nơi, mà họ đánh đúng vào những điểm mà cần
và nên được cải thiện. Toàn bộ thế trận vì thế sẽ thay đổi. Ở Ladakh, mục tiêu là không bị bóp ngẹt hậu
cần và không bị cô lập theo mùa. Còn ở Arunachal, thì mục tiêu là không để đối phương tạo ra
khủng hoảng bất ngờ tại Sơn Đông. Về mặt chiến lược thì các công trình này giúp Ấn Độ chuyển
từ trạng thái phòng thủ bị động sang phòng thủ bền vững. Họ không cần tấn công trước,
không cần leo thang căng thẳng, nhưng cũng không để đối phương dùng địa hình, thời tiết hay là hạ tầng
làm đòn bẩy. Về mặt quân sự, chúng tăng tốc độ triển khai, đảm bảo tiếp tế liên tục,
nâng cao khả năng cứu thương và duy trì hiện diện dài hạ ở vùng cao.
Nếu đánh giá một cách tỉnh táo và đặt cả hai bên lên cùng một bàn cân chiến lược,
thì Ấn Độ là bên mua được nhiều lợi thế hơn ở giai đoạn hiện tại. Không phải vì họ mạnh hơn Trung Quốc,
mà vì mỗi đồng tiền họ bỏ ra đang làm hai việc cùng lúc, vá lỗ hổng của mình và làm giảm hiệu
quả lợi thế của Bắc Kinh. Trong khi đó, phần lớn những gì Trung Quốc đã xây dựng lại đang rơi vào
trạng thái lợi thế đạt đỉnh sớm và khó chuyển hóa thiệp. Chưa hết cần nhìn lại điểm xuất phát,
Trung Quốc bước vào cuộc cạnh tranh ở Himalaya với lợi thế rõ rệt, hạ tầng tốt hơn, đường xá rộng hơn,
khả năng cơ động nhanh hơn từ căng nguyên Tây Tạng. Trong nhiều năm, ưu thế này cho phép Bắc Kinh tạo
lực mà không cần nổ súng, chỉ bằng việc đến trước, ở lâu hơn và tiếp tế dễ hơn. Nhưng chính vì lợi
thế đó đã được sử dụng gần như tối đa, nên dư địa để Trung Quốc mua thêm lợi thế mới bằng hạ tầng
ở khu vực này không còn nhiều. Ngược lại thì Ấn Độ xuất phát ở thế yếu. Họ thiếu đường bốn mùa,
thiếu hầm xuyên núi, thiếu điểm hạ cánh gần tiến nóng. Điều đó khiến mỗi công trình mới của họ tạo
ra bước nhảy tương đối rất lớn, chứ không chỉ là cải thiện nhỏ. Khi một bên vá được lỗ hổng sống còn,
bên kia chỉ ra cố thêm một ư thế đã có, thì hiệu quả chiến lược của hai đồng tiền đầu tư là hoàn toàn khác nhau.
Ở chiều ngược lại, hạ tầng của Trung Quốc ở Tây Tạng tuy là đồ sộ, nhưng cũng mang một đặc điểm
bất lợi đó là phụ thuộc rất nhiều vào không gian rộng và ít chất ngại. Nó phát huy tối đa khi mà đối
phương chậm, khi khoảng cách là lợi thế. Nhưng khi mà Ấn Độ đã rút ngắn được thời gian phản
ứng và duy trì tiếp tế bền bỉ, thì cái ư thế đó không biến mất, nhưng nó đã bị phà loãng. Bắc Kinh vẫn
có cái mạnh, nhưng cái mạnh đó đã không còn tạo ra một cú troáng chiến lược nữa rồi.
Một yếu tố khác khiến cán cân đang nghiêng về phía Ấn Độ đó là chi phí lợi ích. Trung Quốc
phải bỏ ra nguồn lực rất lớn để duy trì và bảo vệ hạ tầng ở độ cao lớn, trong khu vực địa
chấn phức tạp và xa trung tâm dân cư. Những công trình đó mang lại lợi thế,
thế nhưng mà nó cũng tạo ra gánh nặng duy trì lâu dài. Trong khi đó, Ấn Độ tập trung vào những điểm
then chốt nhất, nên mỗi dự án đều có tác động chiến lược rõ ràng, chứ không giàn trải.
Quan trọng hơn cả là tác động tâm lý chiến lược. Trước đây Trung Quốc có thể tin rằng,
nó luôn nắm quyền chủ động về nhiệm độ, muốn căng thì căng, muốn hạ thì hạ.
Khi Ấn Độ vá được lỗ hổng hậu cần và cơ động, quyền chủ động đó không còn là tuyệt đối. Bắc
Kinh buộc phải tính đến khả năng đối phương phản ứng nhanh, bám trụ lâu và không bị thời
tiết hay địa hình đánh gục. Và chỉ riêng việc khiến đối thủ phải tính toán nhiều hơn đã là
một dạng lợi thế rồi. Vì vậy nếu hỏi là ai đang có được lợi thế lớn hơn vào thời điểm này,
thì câu trả lời hợp lý nhất đó là Ấn Độ. Họ đang mua được nhiều giá trị chiến lược hơn trên
mỗi cái đồng tiền họ đầu tư. Tuy không vượt Trung Quốc về sức mạnh tổng thể,
nhưng họ đã làm được điều rất quan trọng, biến một cái thế yếu mang tính cấu trúc thành một
thế cân bằng hơn, đồng thời làm cho những cái lợi thế mà Bắc Kinh từng dựa vào trở nên kém sắc bén hơn.
Hẳn quý vị còn nhớ là cách đây không lâu, chúng tôi cũng đã làm một cái chương trình
nói về hợp tác Ấn-Nhật. Khi đó thì chúng tôi có phân tích sơ qua về mối quan hệ hợp tác này khi
mà cả hai nước đều đang phải đối diện với một cái mối đe dọa chung là Trung Quốc. Và bây giờ,
vào chính thời điểm này, sự hợp tác này nó chạm đúng vào thứ mà Ấn Độ đang thiếu nhất,
chứ không phải là những gì mà Ấn Độ có sẵn. Đây không phải là mối quan hệ mua bán vũ khí,
mà là một dạng bù trừ chiến lược cực kỳ thông minh. Ta biết là Ấn Độ là một cường quốc đang lên,
có quân đội đông, có không gian địa chiến lược lớn, có động lực đối đầu rõ ràng với Trung Quốc.
Nhưng mà điểm yếu cố hữu của họ lâu nay lại nằm ở kỹ thuật, khoa học nền tảng và khả năng
biến ý chí chính trị thành sức mạnh công nghệ thực sự. Hơn lại, Nhật Bản là quốc gia có trình độ
khoa học kỹ thuật hàng đầu thế giới, đặc biệt trong các lĩnh vực then chốt của quốc phòng hiện đại,
nhưng lại bị ràng buộc bởi hiến pháp hòa bình, không thể phô trương sức mạnh quân sự hay tham
gia đối đầu trực diện. Vì vậy, Nhật trở thành đối tác gần như lý tưởng cho Ấn Độ. Thứ
Nhật mang lại là chất lượng công nghệ, còn thứ Ấn cần nhất chính là nâng chất lượng,
chứ không phải là tăng số lượng. Nhật rất mạnh với công nghệ cảm biến, radar và hệ thống
theo dõi mục tiêu. Đây là nền tảng của chiến tranh hiện đại. Nhìn xa, thấy sớm, phản ứng nhanh.
Với Ấn Độ, điều này đặc biệt quan trọng ở hai hướng chiến lược, Himalaya và Ấn Độ Dương.
Ở Himalaya, radar và cảm biến giúp bám sát biên giới nuôi cao, phát hiện sớm các động thái bất
thường, còn ở trên biển thì chúng giúp theo dõi tàu ngầm và hoạt động hải quân của Trung Quốc.
Trong nhiều tình huống, khả năng biết trước, có giá trị chí lược không kém gì vũ khí.
Nhật Bản thì cũng có thế mạnh đặc biệt về khoa học vật liệu và cơ khí chính xác. Nghe có vẻ
khô khan, chứ nhưng mà đây lại là sưng sống của sức mạnh quân sự. Từ động cơ máy bay,
thân tàu chiến, pháo, tên lửa, cho tới hạ tầng quân sự ở môi trường khắc nghiệt.
Đây chỉ là điểm ngẽn lâu năm của Ấn Độ. Nhật không chỉ giúp ở sản phẩm cuối,
mà còn giúp nâng trình độ sản xuất và thiết kế, để Ấn Độ có thể tự làm chủ về lâu dài.
Một lĩnh vực nữa cũng rất quan trọng đó là công nghệ hàng hải và chống ngầm. Nhật Bản là
cường quốc biển thực thụ, có kinh nghiệm và công nghệ hàng đầu với Sona, tàu ngầm Diesen
điện yên lặng, máy bay tuần tra biển. Trong khi đó thì Trung Quốc ngày càng gia tăng hiện diện tàu
ngầm ở Ấn Độ Dương. Với Ấn Độ, việc học hỏi và tiếp cận công nghệ hàng hải của Nhật giúp giảm
đáng kể khoảng cách năng lực, đặc biệt là trong nhiệm vụ phát hiện và theo dõi,
thứ mà không thể bù nhanh bằng tiền được. Ngoài ra, có một cái mảng ít được chú ý nhưng
mà cực kỳ chiến lược đó là xây dựng hạ tầng bền vững trong môi trường khắc nghiệt.
Nhật Bản có kinh nghiệm hàng đầu thế giới về công trình chịu động đất,
chống sạt lở, ứng phó thiên tai. Điều này rất phù hợp với nhu cầu của Ấn Độ ở Himalaya
và các vùng ve biển. Nó không chỉ giúp xây căn cứ, đường xá hay hầm hào bền hơn,
mà còn giảm rủi ro trước những đòn bẩy phi quân sự, như thiên tai hoặc vấn đề nguồn nước.
Do đó, Nhật Bản chính là thứ mà Ấn Độ đang cần ở giai đoạn này, không phải để đánh thay,
mà để giúp Ấn Độ tự mạnh lên từ bên trong. Và sự kết hợp này tạo ra một sức mạnh chậm,
chắc nhưng khó đảo ngược. Đó chỉ là điều khiến đối thủ phải lo ngại nhất trong cạnh tranh dài hạn.
Chúng ta hãy cùng chờ xem cuộc đối đầu giữa Ấn Độ và Trung Quốc,
cùng với sự tham gia của Nhật Bản, nó sẽ đi về đâu trong tương lai.
Đến đây thì chương trình ngày hôm nay xin được phép tạm dừng,
xin mời quý vị chia sẻ quan điểm cá nhân ở phần dưới. Xin chào và hẹn gặp lại.
