ĐIỀM BÁO VONG QUỐC KHI TẬP CẬN BÌNH TỰ TAY ĐẬP NÁT ‘HÒN ĐÁ TẢNG’ CUỐI CÙNG CỦA QUÂN ĐỘI

Tri Thức Mới
2.1K người theo dõi
1.7K Lượt xem video·2 thg 2, 2026
ĐIỀM BÁO VONG QUỐC KHI TẬP CẬN BÌNH TỰ TAY ĐẬP NÁT ‘HÒN ĐÁ TẢNG’ CUỐI CÙNG CỦA QUÂN ĐỘI
Một cơn địa chấn chính trị đã diễn ra tại Trung Nam Hải ngay trong tháng đầu tiên của năm 2026.
Lãnh đạo cao nhất của Trung Quốc là ông Tập Cận Bình ra tay bắt giữ và điều tra với hai nhân vật trọng yếu trong quân ủy trung ương Trung Quốc.
Đó là tướng Trương Hiệu Hiệp, phó chủ tịch quân ủy, và tướng Lưu Trấn Lập, tham mưu trưởng Bộ Tham mưu Liên hợp quân ủy Trung Quốc.
Khác với truyền thống giữ kín những thanh trừng nội bộ trong giới lãnh đạo cao cấp, ngày 24 tháng 1, Trung Nam Hải đã nhanh chóng công bố tin tức này
và được các báo lớn như Financer Times, Reuters đăng lại. Hai vị tướng bị điều tra vì nghi vấn, vi phạm nghiêm trọng kỷ luật và pháp luật.
Bản tin của Bộ Cứu phòng Trung Quốc có đoạn, sau đánh giá của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Bộ Cứu phòng quyết định khởi động cuộc điều tra đối với ông Trương Hiệu Hiệp và ông Lưu Trấn Lập.
Tin tức lan nhanh như lửa cháy, thậm chí còn có rất nhiều kịch bản giá định về vụ việc. Hiện giờ về chi tiết thật khó mà khẳng định cho được.
Tuy nhiên, ngoại giới có người cho rằng đây chỉ đơn thuần là lặp lại những sự việc trong dòng chảy lịch sử Trung Hoa, khi quân vương thanh trừng những đại công thần công cao át chủ.
Chẳng hạn như Việt vương Câu Tiễn hại chết đại thần Văn Chủng, Hán Cao Tổ Liêu Bang giết hại danh tướng Hàn Tín và các công thần đã từng vào sinh ra tử.
Minh Thái Tổ Chu Nghiên Trương thanh trừ các đại công thần trong các vụ án nổi tiếng thời kỳ đầu cho đại nhà Minh, v.v.
Đây là một liên tưởng thú vị, song cũng cần có sự phân tích cận kẽ để nhận biết điểm tương đồng và khác biệt của câu chuyện xưa và nay.
Người ta nói, lịch sử là tấm gương soi, dù không nhất thiết lặp lại hoàn toàn, vẫn có tác dụng soi chiếu bức trảnh được lại. Ngày hôm nay, chúng ta hãy vén màn câu chuyện này.
Điểm tương đồng của các vụ án thanh trừng công thần trong lịch sử
Thưa quý vị, bởi vì sự kiện lịch sử rất nhiều, ở đây chúng ta chỉ mượn tạm một vài điển hình của sự việc quân vương giết đại công thần để minh họa và phân tích.
Vụ án nổi tiếng cần nhắc tới đầu tiên là Việt Vương Cầu Tiễn diệt trừ công thần phạm lãi và Văn Chủng.
Đó là vào cuối thời Xuân Thu, cách đây khoảng 2.500 năm, nước ngô của ngô vương Phù Sai chiến thắng nước Việt của Việt Vương Cầu Tiễn.
Để giữ mạng, Cầu Tiễn tình nguyện làm con tin cho Phù Sai, thể hiện lòng trung thành với Phù Sai trong suốt ba năm hầu hạ phục dịch ông ta,
chịu rất nhiều cây đắng nhục nhã, thậm chí phải dùng đến cả những khổ nhục kế có một không hai như tự mình nếm phân cho Phù Sai để đoán bệnh ông ta.
Cuối cùng, Cầu Tiễn được Phù Sai tin tưởng và tha trở về nước Việt.
Trong suốt ba năm ở nước ngô, Đại thần phạm lãi tình nguyện theo hầu vợ chồng Cầu Tiễn để đỡ đần và chịu nhục cùng chủ,
còn Đại thần Văn Chủng được giao trách nhiệm ở lại làm chấn hương nước Việt để đợi đến ngày báo thủ tuyết hận.
Cầu Tiễn trở về, nắm lại vương vị của nước Việt với quốc lực đã mạnh mẽ vượt bậc.
Cuối cùng, lợi dụng cơ hội thuận tiện, ông đánh bại nước ngô của Phù Sai.
Nhưng sau khi kẻ thù bên ngoài bị tiêu diệt, ông đã tìm cách trừ diệt hai đại công thần Phạm Lãi và Văn Chủng.
Mà chỉ có Phạm Lãi tỉnh táo, nhìn thấu mưu toan này nên bỏ đi trước và thoát.
Văn Chủng ở lại, bị Cầu Tiễn ban cho thành gươm để tự xử.
Trước đó cũng có một sự việc tương tự ở nước ngô sau đại thắng của nước ngô với nước Sở và nước Việt.
Người ta nghĩ rằng ngoại địch bây giờ đã hết,
và đại công thần ngũ tử tư của nước ngô cũng bị vua ngô Phù Sai ban cho cái chết.
Vào thời đầu nhà Hán, sau khi chiến thắng Hạng Vũ trong cuộc tranh hùng Hán-Sở,
Hán cao tổ Lưu Bang cũng thực hiện một số cuộc thanh trừng với các đại công thần như là Bành Việt, Anh Bố, Trần Hy, v.v.
Trong đó người nổi bật nhất là Hàn Tín.
Hàn Tín là danh tướng bách chiến bách thắng, là một trong ba người có công lao cái thế với đế nghiệp của Lưu Bang.
Hai người kia là Trương Lương và Tiêu Hà.
Lưu Bang cũng dùng mưu để bắt Hàn Tín và xử ông tội chết.
Vào đầu thời nhà Minh cũng có những sự kiện tương tự,
khi Minh Thái tổ Trung Yên trường tru diệt những công thần như Hồ Duy Dung, Lam Ngọc, Lý Thiện Trường.
Những người liên quan bị xử tội chết kể đến hàng vạn, trong đó bao gồm cả nhiều quan viên công thần nữa.
Những vụ án tương tự ở Trung Hoa thời cổ khi quân vương xử tội chết đại công thần từng đem lại Giang Sơn cho họ
đã khiến hình thành một câu thành ngữ không biết từ bao giờ.
Câu này cũng từng được Hàn Tín thốt ra ai hoán sau khi bị bắt.
Đó là rào thố tử, tẩu cầu phanh, phi điểu tận, lương cung tàng, địch quốc phá, mưu thần vong.
Tạm dịch là thò khôn chết, chó săn bị nấu, chim bay hết, cùng tốt bị cất, nước địch tan, mưu thần mất.
Tuy vậy những vụ án này nhìn bề ngoài thì có vẻ có sự tương đồng trong việc quân vương bảo vệ quyền lực
trước sự uy hiếp của các đại thần lập nhiều công lớn, nhưng mà đi vào chi tiết thì chúng khác biệt với nhau
và khác biệt với cả sự việc thời sự mà chúng ta đang nhắc đến.
Chu dịch công thần thời lập quốc vì quyền lực không phải là đặc điểm nổi bật của các triều đại Trung Hoa.
Vâng, các vụ thanh trừng đại công thần ở Trung Hoa cổ có nguyên nhân không nhất thiết là dập quân nhau,
hoặc khó có thể kết luận đơn giản và chóng vánh chỉ vì một vấn đề cạnh tranh quyền lực.
Chẳng hạn như Ngũ Tử Tư là công thần số một, số hai của nước Ngô trong chiến thắng với nước Sở lớn mạnh hơn rất nhiều lần.
Nhưng bởi vì ông luôn can ngăn Ngô vương phù sai, người sau các chiến thắng của cha ông và bản thân mình đã trở nên
kiêu ngạo, xa xỉ, đám chìm trong hưởng thụ và những lời xam tấu của bọn gian định.
Nên cuối cùng Ngũ Tử Tư bị phù sai ban cho cái chết.
Văn Chủng và Phạm Lái vì sao bị thanh trừng?
Văn Chủng thì có công lao thiết phục nước Ngô nhận lời xin hàng và giữ mạng cho câu tiễn,
lại giúp tái thiết nước Việt sau bại trận. Công lao này quá to lớn, khó mà trả nổi.
Còn Phạm Lái có công hộ giá, đỡ đần, chia sẻ nhục nhằn, hiến kế và bảo toàn mạng sống cho chủ
ở nơi hang hồ đầm rồng. Công lao cũng khó đo đếm nổi.
Nhưng Phạm Lái cũng đã chứng kiến quá nhiều về sự ô nhục của câu tiễn.
Thế nên sau khi trở lại vương vị và chiến thắng nước Ngô, câu tiễn có lẽ khó mà an hưởng vinh quang,
bởi mỗi lần nhìn Phạm Lái, ông ta sẽ nhớ về thời kỳ ba năm ở nước Ngô không lấy gì làm vẻ vang đó.
Con người Việt vương câu tiễn được Phạm Lái đánh giá như thế nào?
Tướng người cổ dài, còn miệng thì như chim. Tướng Mạo người này có một đặc điểm là nhận nhục tốt,
nhưng lại đố kị với thành công. Người khác có thể trúc hoạn nạn, nhưng không thể cung hưởng phúc.
Phạm Lái đã thuyết phục vậy, nhưng Văn Chủng không nghe lời. Phạm Lái đi và thoát, Văn Chủng ở lại và gặp nạn.
Vấn đề tâm lý ở đây phức tạp hơn là chỉ vì cạnh tranh quyền lực.
Vụ Hàn Tín thì mới thực sự là hành động giết đại công thần vì cạnh tranh quyền lực.
Giang Sơn của Hán Cao Tổ Lưu Bang có thể nói là giành được nhờ chiến công quân sự của Hàn Tín.
Sau chiến tranh, Hàn Tín được phong làm sở vương.
Thời đó, phong vương là gần như được tự mình cai quản một vương quốc riêng
với quân đội riêng bên trong thiên hạ của Đại Hán.
Ở xa Kinh Thành, lại có năng lực dùng binh quá mạnh.
Khi không một ai trong chiều là đối thủ, Hàn Tín bị nghi ngờ tạo phản và rơi vào hoàn cảnh bị tiên hạ thủ vi cường.
Vào thời Minh Thái Tổ Trung Yên Trường, vì sao những công thần như là Hồ Duy Dung,
Lam Ngọc, Lý Thiện Trường bị xử tội chết, kéo theo cái chết của vài vạn người?
Bởi vì ba người này đều có mưu đồ phản loạn, xây dựng rất nhiều vây cánh để làm phản.
Hồ Duy Dung chuyên quyền dối vua, sợ bị phát hiện nên làm phản.
Lam Ngọc thì bất mãn và lộng quyền nên làm phản.
Lý Thiện Trường công lao lớn nhưng theo hùa và cũng có ăn của Đút Lót.
Tất cả những sự việc này đều được ghi chép trong Minh Sử quyển 127, quyển 308 và Minh Sử kỳ sự bản mạt quyển 13.
Hồ Duy Dung còn thêm một tội lớn là đầu độc chết Lư Báo Út.
Tội trạng ranh rành, xử mấy người này là đúng tội, không phải vì nhắm vào công thần công cao hơn chủ.
Những đại công thần công lao lớn hơn Hồ Duy Dung hay Lam Ngọc rất nhiều,
chẳng hạn như Từ Đạt nhờ biết cư xử tế nhị cho nên được trọng vọng và chết giả.
Lư Báo Út thì cương trực, cũng không bị Minh Thái Tổ xử tội chết mà do tể tướng Hồ Duy Dung tự ý ra tay.
Và rất nhiều những đại công thần, những chiến tướng lưng lẫy của những triều đại Hán, Đường, Tống của Trung Hoa
không hề bị xử chết, thậm chí còn được trọng vọng vì công lao hãn mã.
Tiêu biểu là vào thời những vị hoàng đế khai quốc như Đường Thái Tông, Lý Thế Dân và Tống Thái Tổ triệu quân dẫn.
Thấn bại danh liệt vì công cao hơn chủ là có, xâm không phải kinh bản chung trong thời đại này.
Có một điểm khác biệt nữa đó là những đại công thần bị xử chết, nếu có,
cũng chỉ là vào đầu triều đại, sau khi kẻ định bên ngoài đã bị dẹp xong.
Chỉ riêng vào triều đại nhà Minh thì tồn tại dai rẳng một sự nghi kỳ đối với các quan viên ngay từ
thời Minh Thái Tổ Chu Nguyên Trương cho đến thời đại vị hoàng đế nhà Minh cuối cùng là Sùng Trinh.
Bởi vậy, họ đã lập ra các cơ quan mật vụ để giám sát nội chính,
ban đầu là Cẩm Y Vệ thời Minh Thái Tổ, rồi Đông Sưởng thời Minh Thành Tổ,
và sau đó là Tây Sưởng thời Minh Hiến Tông, Nội Hành Sưởng thời Minh Vũ Tông.
Mật vụ đông như kiến, do xét khắp hệ thống quan lại, gây nhiều án oan thảm khốc,
song không ngăn được Minh triều sụp đổ.
Đây là một đặc điểm chỉ có ở triều đại nhà Minh và sau này có lẽ đã được tiếp thu ở chính quyền Trung Nam Hải.
Bản chất khác biệt của những vụ việc dưới thời CCP
Cuối cùng, sự việc lần này của Trung Nam Hải chỉ có thể so sánh với các thời kỳ chính quyền
của Đảng Cộng sản Trung Quốc CCP là chuẩn sắc nhất, vì nó không lập lại mô hình
của bất cứ một triều đại nào ở Trung Hoa, chỉ là về chi tiết thì có thể học theo ở điểm này điểm đó mà thôi.
Nói cụ thể hơn thì Chủ tịch Tập Cận Bình đang mô phỏng theo phương thức thanh trừng nội bộ
của Mao Trạch Đông, người mà ông ta ước mộ và học tập.
Hiện nay trên mạng Internet có lan truyền một bức thư ngỏ được cho là của Trương Hữu Hiệp
được gửi trực tiếp cho ông Tập Cận Bình với tư cách Chủ tịch Quân ủy Trung ương.
Đầu thời, người viết thư nhiều lần nhắc nhở rằng mong toàn thể đảng viên,
quan chức, sĩ quan, nhân dân đều đọc được, nên bản chất là một bức thư vừa gửi tập,
vừa gửi công luận trong hệ thống CCP.
Hiện tại chưa có thể khẳng định bức thư này là của Trương Hữu Hiệp,
nhưng tinh thần của bức thư có giá trị tham khảo rất lớn về những vấn đề
đang gây tranh cãi trong hệ thống của CCP.
Nó cũng gợi liên tưởng tới bức thư của tướng Bảnh Đức Hoài gửi Mao
trong hội nghị Lưu Sơn tháng 7 năm 1959.
Cũng như Trương Hữu Hiệp, Bảnh Đức Hoài có vị trí rất cao trong quân đội và hệ thống chính trị.
Ông là ủy viên Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc,
Ông là danh tướng chủ chốt trong nội chiến quốc tộng và chiến tranh Triều Tiên,
từng được Mao trọng dụng, ca ngợi công lao rất cao.
Sau cuộc vận động đại nhảy vọt 1958-1961, nạn đói và hỗn loạn ở đông thôn bùng nổ,
trong khi Mao và Trung ương vẫn chính thức tô hồng thành tích,
nhưng Bảnh dân bất mãn bởi vì ông là người đi thực tế,
tận mắt thấy dân đói khổ, sản lượng bị khai man.
Tháng 7 năm 1959, tại hội nghị Lư Sơn, Bảnh viết thư riêng gửi Mao,
phê bình chính sách đại nhảy vọt, nêu lên nạn đói, số liệu ảo và hậu quả với nông dân.
Tuy thế, vẫn xưng hồ kính trọng với Mao, khẳng định trung thành với đảng.
Mao coi bức thư là cương lĩnh cơ hội hũ khinh, tấn công đảng, tấn công Trung ương,
tấn công cá nhân Mao. Ông nghi Bảnh mưu đồ lật đổ mình,
bởi vì vốn đã lo quân đội có thể tạo phản.
Thế là Mao ra lệnh in thư của Bảnh phát cho toàn hội nghị,
kích động mọi người phê đấu, biến tranh luận chính sách thành đấu tố chính trị chống hũ khinh.
Mao dùng quyền lực tối cao để rán nhãn cho Bảnh là đầu sỏ cơ hội chủ nghĩa hũ khinh,
bè lũ phản đảng, rồi kéo theo việc lôi lại mọi nợ cũ trong lịch sử đấu tranh nội bộ để chụp mũ.
Ông cho in thư, tổ chức thảo luận tập thể, ép các lãnh đạo và tướng lĩnh lên án,
khiến Bảnh cô lập hoàn toàn. Ai bênh Bảnh đều bị quy chụp cùng phe.
Kết quả, Bảnh bị cách chức bộ trưởng quốc phòng, bất hết chức vụ quan trọng,
bị đưa về quản thúc ở thành đô, sống trong cảnh giám sát, thất sùng.
Dù đã bị hạ bệ, Mao vẫn không yên tâm, sợ Bảnh trở thành biểu tượng phản đối đường lỗi của ông,
nên tiếp tục giam lòng và theo dõi chặt.
Năm 1965, Mao điệu hổ Li Sơn, mời Bảnh về Trung Nam Hải ăn uống, nói lời dễ nghe,
rồi điêu ông đi tứ xuyên làm phó chủ nhiệm, mặt trận thứ ba,
thực chất là tách khỏi trung tâm quyền lực, tiện bề kiểm soát.
Khi kênh mạng văn hóa bùng nổ, Bảnh bị lôi ra làm mục tiêu số một trong giới lão tướng.
Năm 1967, theo lệnh Giang Thanh và phe kênh mạng văn hóa,
Hồng Vệ Binh kéo Bảnh tới các cuộc đấu tố công khai ở Học viện Hàng không Bắc Kinh,
Sân vận động, Quảng trường Thiên An Môn.
Ông bị sách tai, giật tóc, đánh đập tàn nhẫn.
Bảnh bị đánh gấy ít nhất hai sườn sườn, ngã đập đầu vào bàn và nền bê tông,
nhiều lần ngất xỉu rồi lại bị dựng dậy tiếp tục trà tấn.
Ông còn bị hỏi cung hàng trăm lần, ép phải nhận tội phản đáng, lập phe phái,
nhưng vẫn không khai giá đồng lõa nào theo ý họ.
Sau những năm dài chịu sự trà tấn, quản thúc và điều kiện giam giữ cực kỳ tồi tệ,
sức khỏe Bảnh suy sụp, ông chết trong tù vào đầu thầm niên 1970,
bị trôn dưới một bí danh, không công khai danh phận.
Trong các hội nghị sau đó, 1962, 1965, 1966 đến 1969,
Mào luôn nhấn mạnh, không được bình phản Bảnh Đức Hoài,
cấm mọi nỗ lực minh oan, cố giữ hình tượng Bảnh như kẻ phản đảng
để che đậy sai lầm đại nhảy vọt.
Lưu Thiếu Kỳ cũng là một trường hợp tương tự về một công thần,
lãnh đạo cao cấp số 2 của CCP bị Mào truy diệt.
Sau đại nhảy vọt, Lưu Thiếu Kỳ chủ trương các biện pháp cải cách kinh tế thực dụng,
nhấn mạnh khuyến khích cá nhân và ổn định, qua đó trên thực tế hạn chế
bớt quyền lực và uy tín của Mào Trạch Đông trong CCP.
Mào coi Lưu là đi con đường tư bản, là mối đe dọa trực tiếp với vai trò lãnh tụ tối cao,
nên phát động đại kinh mạng văn hóa để huy động hồng vệ binh
và phe cấp tiến tấn công giữa đạnh đạo xét lại.
Trong đó, Lưu là mục tiêu trung tập.
Về cách thức, từ năm 1966, Lưu bị đối tố công khai,
bị rán nhãn kẻ đi con đường tư bản số một trong đảng,
Tổng Chủ y bộ Tổng Hành Dinh Tư sản,
sau đó bị tước chức Phó Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước và mọi chức vụ.
Năm 1968, ông chính thức bị khai trừ khỏi đảng,
bị giam giữ và tra tấn cho đến chết trong tù năm 1969,
tên tuổi bị xóa khỏi lịch sử chính thức cho tới khi được hoàn toàn mênh hoan
và phục hồi danh dự năm 1980.
Cuối cùng, vụ thanh trừng Trương Hữu Hiệp là giống nhất với vụ thanh trừng Lâm Bưu của Mào.
Về vị thế, đối với lãnh đạo hạt nhân, Lâm và Trương có sự tương tự.
Lâm Bưu từng là người kế vị được đích thân Mào Trạch Đông lựa chọn
và đưa vào điều lệ đảng.
Mào từng nói, ai phản đối phó chủ tịch Lâm thì hãy đập nát đầu chó của cái đó.
Còn Trương Hữu Hiệp là bạn thùa nhỏ với Tập Cận Bình.
Giữa hai gia đình có sự kết giao khi Trương Tông Tốn và Tập Trọng Huân
là bạn chiến đấu cũ trong dã chiến quân Tây Bắc.
Trong nhiệm ký thứ nhất và thứ hai, Tập đã dựa vào Trương để ổn định quân đội,
quét sạch tan dư của Tư Tây Hậu và Quách Bá Hùng.
Trương Hữu Hiệp có vị thế quá gần gũi và đáng tin cậy với Tập Cận Bình.
Đến lúc thanh trừng, thì các thủ đoạn được sử dụng hết sức giống với cách Mào thanh trừng Lâm Bưu.
Chẳng hạn, trong khi Mào chặt đứt vây cánh gồm bốn thân tín nắm huyết mạch quân sự
dưới tay Lâm Bưu, đó là Hoàng Vĩnh Thắng, Tổng tham mưu trưởng, Ngô Pham Hiến,
tư lệnh không quân, Lý Tác Bằng, chính ủy hải quân và Khâu Hội tác,
chủ nhiệm Tổng cục Hậu Cần, thì Tập Cận Bình trước tiên bắt giữ Lý Thượng Phúc,
người kế nhiệm của Trương, sau đó bắt 17 tướng lĩnh thuộc văn phòng quân ủy và bộ trang bị.
Khi vây cánh bị cắt hết, Lâm Bưu bị rôn vào đường cùng, cuối cùng bỏ chạy và tử nạn trên phi cơ,
còn Trương Hù Hiệp đã bị vô hiệu hóa và bắt giữ.
Và nguyên nhân cốt lõi của nó. Khác với các triều đại Trung Hoa,
mặc dù có công thần bị thanh trừng sau khi lập quốc vì quân vương e sợ bị cướp quyền,
nhưng hiện tượng này không nhất thiết luôn xảy ra và không kéo dài trong cả triều đại,
ngoại trừ trong triều Nhà Minh. Ngược lại, suốt từ năm 1949,
từ khi CCP giành được chính quyền, thậm chí là kể cả từ trước đó kéo dài cho tới tận ngày nay,
là những cuộc tranh đoạt quyền lực liên miên trong nội bộ tổ chức này với mức độ gây gắt người sống ta chết.
Tại sao vậy? Bởi nền tảng tư tưởng của họ là triết học đấu tranh mà có thể tóm gọn lại
bằng ba từ giả, ác, đấu, và có thể minh họa bằng phương châm nổi tiếng của Mao,
đấu trời, đấu đất, đấu người thật thống khoái, hoặc là quyền lực sinh ra từ nòng súng.
Chính vì sưng sống tư tưởng này mà từ những ngày đầu thành lập, họ đã là sống trong khủng hoảng.
Nếu không phải đối phó với thế lực bên ngoài trong nội chiến quốc cộng,
thì sẽ là kiểm thảo gắt gao ở riêng nan. Rồi từ năm 1949, khi họ nắm quyền,
thì luôn luôn có những khủng hoảng nội bộ. Hết cuộc vận động chính trị này,
đến cuộc vận động chính trị khác. Hết cuộc thanh chừng này, đến cuộc thanh chừng khác.
Nếu không có khủng hoảng, thì lãnh đạo tối cao cũng phải tạo ra khủng hoảng.
Bởi vì có khủng hoảng, thì lãnh đạo mới nắm được quyền lực tuyệt đối thông qua nòng súng.
Cho nên, chúng ta thấy hệ thống tiên truyền của Bắc Kinh luôn nhai nhải về rất nhiều kẻ thù,
luôn luôn là những thế lực chống đối quyết tâm tiêu diệt chúng ta, như lời của ông Tập,
và không chỉ riêng ông. Hệ thống này liên tục hù dọa về những kẻ thù nhan nhản
từ trong nội bộ đảng đến thế giới bên ngoài, như Mỹ, Nhật, phương Tây, v.v.
Cho nên, vào thời Mao mới dồn dập các cuộc vận động chính trị,
từ cải cách ruộng đất, chấn áp địa chủ, phản cách mạng cuối thập niên 1940,
đầu thập niên 1950, đến tam phản 1951, ngũ phản 1952, trăm hoa đua nở,
trăm nhà đua tiếng 1956-1957, phản hữu 1957-1959, tứ thanh đầu thập niên 1960,
đại nhảy vọt 1958-1961, diệt bốn loài hại 1958-1962.
Cách mạng văn hóa 1966-1976, v.v.
Thời Đặng Tiểu Bình là cuộc đàn áp sinh viên và người dân Bắc Kinh
ở Thiên An Môn ngày 4 tháng 6 năm 1989.
Thời gian chạy dân là bức hại phong trào khí công Pháp Luân Công
từ ngày 20 tháng 7 năm 1999, dầm dộ những ngày đầu
và âm thầm những khốc liệt từ sau đó cho đến nay.
Chỉ có thời hô cầm đào là không tạo ra khủng hoảng nào,
cho nên trong nội bộ CCP, ông không nắm được nhiều quyền lực.
Còn khi Tập Cận Bình nắm quyền thì bất tất phải nói thêm
về những việc đang diễn ra trong thời đại chúng ta.
Lịch sử lặp lại hay là lịch sử sắp sang tráng?
Như vậy thì chúng ta có thể kết luận rằng,
trên bề mặt thì vụ bắt giữ trương hữu hiệp và lưu chấn lập
giống với một số vụ thanh trừng công thần trong lịch sử Trung Hoa.
Nhưng thực ra về bản chất,
nó là sự lặp lại các vụ thanh trừng trong nội bộ CCP
từ khi thành lập đến nay mà thôi.
Vào cuối thời kỳ cách mạng văn hóa,
CCP có nguy cơ đổ sụp thì nước Mỹ vụn tính
thời Nixon và Kirchinger đã chia tay giúp đỡ
và tiếp tục duy trì sinh mệnh cho họ.
Đảng Tiểu Bình tiếp tục dùng miếng mồi kinh tế
để tiếp sức cho nó,
khi vận động tạo thần thời Mao đã mất thiền.
Nhưng cả sự hỗ trợ quốc tế
và cả lợi ích vật chất giờ đây đều không còn
khi Trung Quốc gần như bị cô lập
và kinh tế thì đang khủng hoảng.
Nội bộ đúng lúc này lại dối ghen nhất.
Cả lòng quân, lòng dân đều bất bình.
Ông Tập sẽ dùng con bài gì đây?
Tiếp tục đàn áp và tiếp tục thêm hơi
cho nổi áp suất quốc nội hay sao?
Thành ra, tình huống gần giống nhất
trong lịch sử đối với Trung Nam Hải
và cá nhân ông Tập Cận Bình lúc này
có lẽ là khi Hoàng đế Sùng Trinh
vì nghi ngờ mặt sự tội lăng trì viên Sùng Hoán
hòn đã tảng cuối cùng về quân sự
của Triều Đại Nhà Minh chống lại Hậu Kim
hay Mán Thành sau này.
Và sau đó là sự ngoảnh mặt quay lưng
của quan tướng, nhân dân, lính tráng.
Thế rồi quân nổi dậy của Lý Thự Thành
tràn vào chiếm giữ Bắc Kinh,
dẫn đến kết kết bi đát của Sùng Trinh Đế và Minh Triều.
Chẳng trách có người
vẫn được so sánh với Sùng Trinh.
Vị Hoàng đế cần chính, càng làm càng hỏng.
Phẩm chất cao khiết như viên Sùng Hoán
thì ngày nay Trung Nam Hải không có.
Nhưng kẻ có năng lực làm tướng thật sự
thì ngoài trương hữu hiệp gia,
hiện chưa thấy có ai thay thế.
Song gió thì ngày càng mạnh mẽ.
Thành ra, lịch sử lặp lại hay là lịch sử sắp sáng chát?
Chúng ta hãy cùng chờ xem.
Đến đây thì chương trình ngày hôm nay
xin được phép tạo dừng.
Xin mời quý vị chia sẻ quan điểm cá nhân ở phần dưới.
Lê Bình xin chào và hẹn gặp lại.
