MỸ - NHẬT SONG KIẾM HỢP BÍCH, TRUNG QUỐC KẸT TRONG ÁC MỘNG TRỪNG PHẠT THỨ CẤP

Tri Thức Mới
2.1K người theo dõi
648 Lượt xem video·5 thg 5, 2026
MỸ - NHẬT SONG KIẾM HỢP BÍCH, TRUNG QUỐC KẸT TRONG ÁC MỘNG TRỪNG PHẠT THỨ CẤP
Thưa quý vị, trong mấy ngày gần đây, Iran đang trông đợi phản ứng từ sức ép của Quốc hội Mỹ
nhằm cản trở kế hoạch quân sự của chính quyền Donald Trump với chế độ cầm quyền tại Tehran.
Thế nhưng mà điều bất ngờ đó là hôm 1 tháng 5, trong một bức thư mà gửi cho các lãnh đạo quốc hội,
Tổng thống Trump đã nói rằng các hành động thù địch với Iran đã chấm dứt,
ngụ ý rằng là thời hạn 60 ngày để mà xin phê chuẩn từ cơ quan lập pháp đã không còn có hiệu lực nữa.
Ông Trump đã ngay lập tức bẻ lái sang một cái mặt trận khác, đó là mặt trận tài chính, của dầu mỏ và của tiền.
Với Iran thì chính quyền Trump hiểu rất rõ một điều, kéo dài chiến dịch quân sự sẽ mở ra cái mặt trận
chính trị ngay trong lòng nước Mỹ, bởi vì quốc hội, truyền thông, phe đối lập và tâm lý mệt mỏi,
chán nản chiến tranh của người dân Mỹ đều có thể trở thành giao cản với lại chính quyền Trump.
Nhưng nếu dừng cái chiến dịch quân sự đúng thời hạn, rồi chuyển toàn bộ sức ép sang dầu mỏ,
tài chính, vận tải biển và hệ thống thanh toán quốc tế, thì Washington đã không còn đánh Iran
bằng bom đạn thông thường nữa, mà cái đòn đánh nó đã chuyển sang là đòn đánh tài chính, đánh vào huyết mạch
kinh tế. Đó mới là cái cú đánh then chốt sau khi mà đối thủ đã bị suy yếu nghiêm trọng về sức mạnh quân sự.
Iran có thể chịu được vài tuần bị oanh kích, có thể tuyên truyền rằng họ đã đứng vững trước sức mạnh quân sự Mỹ,
thậm chí có thể chờ đợi sự chia rẽ trong chính trường Hoa Kỳ để kéo dài thời gian để có được lợi thế,
nhưng họ rất khó chịu được một cái cuộc bóp mẹt kéo dài vào nguồn thu dầu mỏ.
Bởi vì dầu mỏ nó không chỉ là hàng hóa xuất khẩu, mà còn là ngân sách,
là tiền nuôi lực lượng vũ trang, là ngoại tệ và là nguồn sống của mạng lưới ủy nhiệm khu vực.
Ngày 4 tháng 5, Hoa Kỳ lại còn tung một cái cú đòn trừng phạt cảng dầu vào các các công ty
quản lý tàu biển có trụ sở tại Trung Quốc. Ở đây, Washington cũng nhắm vào khoảng 40 công ty vận
tải và tàu thuộc hạm tội bóng tối của Iran, tức là cái mạng lưới tàu biển dùng để che dấu,
chuyển tải, đổi tên, đổi giấy tờ nhằm đưa dầu Iran ra thị trường.
Và cái điểm đó chú ý là Mỹ không chỉ đánh Iran, mà họ còn đang đánh thẳng vào cái 10 người mua dầu Iran,
người vận chuyển dầu Iran và người bảo hiểm ngân hàng thanh toán, công ty môi giới.
Cuối cùng là chuỗi sản phẩm đầu ra từ dầu Iran. Họ đánh cả một hệ thống như vậy,
chứ không chỉ đơn giản là tấn công vào Iran riêng lẻ nữa.
Đây không còn là một cái lệnh trừng phạt đơn giản, đơn thuần. Nó là cách Mỹ biến dầu Iran thành
một loại hàng hóa nhiễm độc về mặt tài chính. Bất kỳ ai chạm vào nó cũng có thể bị theo dõi,
bị cắt khỏi hệ thống thanh toán đồng USD, bị mất quan hệ ngân hàng,
đóng băng tài sản và mất khách hàng quốc tế. Và đó là lý do mà Trung Quốc đã phản
ứng rất mạnh mẽ bằng cách ngăn chặn lệnh trừng phạt của Mỹ với 5 nhà máy lọc dầu của mình.
Nếu chỉ là vài nhà máy lọc dầu nhỏ bị Mỹ trừng phạt thì Bắc Kinh có thể im lặng,
để doanh nghiệp tự xoay sở. Nhưng lần này họ phản ứng rất mạnh mẽ. Điều này cho thấy là các
lệnh trừng phạt đã gây ra khó khăn cho các nhà máy lọc dầu, từ việc nhận dầu thô đến việc
phải bán sản phẩm tinh chế dưới tên khác. Các nhà máy này nó vốn chiếm khoảng 1 phần 4 công suất
lọc dầu của Trung Quốc lại đang hoạt động với biên lợi nhuận hẹp, thậm chí có lúc âm trong bức
cảnh là nhu cầu chống nước yếu. Nếu Iran là người bán đang cần tiền thì Trung Quốc là người mua
giúp Iran biến dầu thành ngoại tệ. Nếu Iran có hạp đội bóng tối để đưa dầu ra khỏi cái vòng
trừng phạt thì Trung Quốc có các cái nhà máy lọc dầu độc lập để mà hấp thụ dòng dầu đó. Đôi
bên họ kết hợp với nhau rất nhuẩn nhuyễn từ lâu nay. Nếu Iran cần né hệ thống USD thì mạng lưới
thương mại Trung Quốc, công ty bình phong, ngân hàng trung gian, thanh toán bằng nhân dân tệ và vận
tải biển mờ ám nó chính là cái lớp đệm giúp cho dòng dầu này tiếp tục chảy.
Vì vậy, khi Mỹ đánh vào các cái nhà máy lọc dầu Trung Quốc thì cú đòn nó đã trở nên nghiêm trọng,
ít nhất là ở 3 cái khía cạnh này. Thứ nhất là Iran sẽ mất đi cái khách hàng an toàn nhất của họ.
Chỉ riêng Trung Quốc đã mua khoảng 90% lượng dầu xuất khẩu của Iran, trong đó các nhà máy lọc dầu
độc lập nó giữ một vai trò chủ chốt. Lúc này, Iran đã mất cảm giác rằng thị trường Trung Quốc là
cái nơi trú ẩn, không thể đụng tới. Thứ hai là Trung Quốc mất lợi thế dầu giảm giá.
Ta biết là dầu Iran thường được bán với cái mức triết khấu vì bị trừng phạt. Ít người dám mua,
ít ngân hàng dám tài trợ, ít hãng bảo hiểm dám tham gia. Các nhà máy lọc dầu độc lập của Trung
Quốc có thể hưởng lợi từ nguồn dầu rẻ này để mà giảm chi phí đầu vào. Nhưng khi Mỹ biến dầu Iran
thành rủi ro pháp lý và tài chính thì cái giá ấy nó không còn rẻ nữa rồi.
Thứ ba mới là cái điều đau đớn nhất. Mỹ đang lần theo sản phẩm đầu ra của cái dầu Iran trong
công nghiệp Trung Quốc. Đó mới là cái nghiêm trọng. Dầu thô sau khi mà vào nhà máy lọc dầu thì không chỉ
biến thành săng, dầu diesel hay là nhiên liệu máy bay đâu. Nó còn biến thành muôn hình vạn trạng. Rất
nhiều sản phẩm, từ nguyên liệu hóa dầu, nhựa, sợi tổng hợp, đến hóa chất công nghiệp,
hàng tiêu dùng, dệt may, ô tô v.v. Rất nhiều. Một khi dầu Iran được lọc tại Trung Quốc thì nó có
thể chảy tiếp vào hàng nghìn sản phẩm made in China. Bởi vậy khi Washington thực sự đánh vào
cái đòn này ấy thì họ chính là đang đánh vào dạ dày hóa dầu của nền sản xuất Trung Quốc. Và đó là
một cái điểm cực kỳ quan trọng. Bởi vì ta biết là Trung Quốc không chỉ là một cái nền kinh tế
tiêu thụ dầu. Họ là một cái cỗ máy chế biến dầu thành hàng hóa công nghiệp. Nếu dầu là máu thì lọc dầu
và hóa dầu là gan, là thất, là hệ tiêu hóa của cái nền công nghiệp Trung Quốc. Mỹ không cần đánh
vào toàn bộ nền công nghiệp của Trung Quốc cùng lúc. Mà chỉ cần đánh vào một nhóm các cái nhà
máy lọc dầu có liên hệ với Iran. Rồi cảnh báo ngân hàng và doanh nghiệp quốc tế rằng là mọi
giao dịch liên quan đều sẽ đi kèm rủi ro. Như vậy là đủ để tạo ra một cái hiệu ứng tàn phá rồi.
Doanh nghiệp, ngân hàng, hãng tàu, công ty bảo hiểm đều sẽ né xa các sản phẩm có liên quan đến Iran.
Đó mới là sức mạnh thật sự của cái đòn trừng phạt tài chính Mỹ. Nó làm cho cả hệ sinh thái
xung quanh người bị trừng phạt phải tự cô lập, tự tránh xa. Lâu nay, vì sao, ký do vì sao mà bị Mỹ
trừng phạt tài chính nó nguy hiểm là như vậy. Nguy hiểm bởi cái đòn đó nó không đánh, chỉ đánh
vào cái đối tượng bị trừng phạt mà còn đánh thư cấp, là cái đòn trừng phạt thư cấp. Khiến cho không
ai dám chơi với anh nữa. Bị cô lập. Mà một khi bị Mỹ cô lập thì cái hậu quả như là chúng ta thấy
vô cùng khủng khiếp. Và đây cũng là chỗ mà ông Trump xử lý rất cao tay. Ông ấy không cần tuyên bố
chiến tranh dài hạm với Iran để mà vướng vào cái bẫy pháp lý và xa lầy. Ông ấy chỉ cần kết thúc
chiến dịch quân sự đúng lúc, tuyên bố một thắng lợi rồi chuyển sang cuộc chiến mà Mỹ có lợi thế
áp đảo nhất, đó là đồng USD, cệ thông ngân hàng, bảo hiểm hàng hài, luật trừng phạt thư cấp,
và cái khả năng truy dấu dòng chảy dầu mò toàn cầu. Iran có tên lửa, có lực lượng quỷ nhiệm,
có eo biển, hô mút thật đấy. Nhưng mà Mỹ thì có mạng lưới tài chính toàn cầu. Bên nào mạnh hơn,
hẳn là quý vị cũng đã biết. Bloomberg nhận định cái việc Bắc Kinh lần đầu yêu cầu doanh nghiệp trong
nước phớt lờ lệnh trừng phạt Mỹ có thể trở thành một cái bước ngoặt. Bởi vì trước đây, Trung Quốc thường
phản đối bằng lời nói, nhưng vẫn để doanh nghiệp âm thầm tuân thủ, tránh gây tổn hại đến cái khả năng
tiếp cận hệ thống tài chính Mỹ. Lần này, khi mà Bắc Kinh ra lệnh chống lại, dù do nó không còn nằm ở vài
cái nhà máy lọc dầu nữa, mà nó có thể lan sang hệ thống ngân hàng Trung Quốc. Bởi ngân hàng là cái
nơi mọi dòng tiền cuối cùng phải đi qua. Đây là cái thế kẹt của Bắc Kinh.
Nếu Trung Quốc để doanh nghiệp tuân thủ lệnh Mỹ, Bắc Kinh sẽ bị mất mặt. Điều đó giống như thừa nhận
rằng quyền lực tài chính của Washington có thể vượt qua chủ quyền pháp lý của Trung Quốc. Nhưng nếu
Trung Quốc bắt doanh nghiệp không tuân thủ, thì những cái doanh nghiệp ấy và cả ngân hàng phục vụ họ
có thể bị Mỹ đưa vào cái vùng trừng phạt thứ cấp. Một bên là mất thể diện chính trị, một bên là mất
an toàn tài chính. Với Bắc Kinh, đây là cái lựa chọn cực kỳ khó.
Cái điều đau đớn hơn nữa đó là Mỹ chọn đúng đối tượng. Các nhà máy lọc dầu độc lập,
đặc biệt ở Sơn Đông và các khu vực công nghiệp có biên lợi nhuận yếu. Đây không phải là các
tập đoàn nhà nước khổng lồ có thể dễ dàng được Bắc Kinh bơm cứu chợ vô thạng. Các nhà máy lọc dầu
nó vốn sinh tồn nhờ mua dầu rẻ, lọc nhanh và bán linh hoạt. Và khi bị trừng phạt thì họ có thể gặp khó
trong cái nhập dầu, bán sản phẩm, vây vốn, mở tín dụng thư, bảo hiểm hàng hài hay là thanh toán quốc tế.
Và trong thương mạng quốc tế thì quý vị biết là tên tuổi nó rất quan trọng, danh tiếng, thương hiệu rất
quan trọng. Một khi mà công ty đó bị đưa vào danh sách rủi ro thì hàng hóa của họ sẽ rất khó
xử lý, rất khó được tiêu thụ. Dù là chất lượng của họ không đổi nhưng giá sẽ phải giảm. Dù khách hàng
muốn mua nhưng ngân hàng sẽ không dám xử lý. Và dù tàu muốn trở thì bảo hiểm có thể từ chối.
Dù nhà máy vẫn chạy thì trường quốc tế có thể đóng cửa từng phần. Đây là cái kiểu tổn thương ăn mòn
từng ngày cực kỳ khó chịu. Với Iran tổn thương là mất tiền, còn với Trung Quốc tổn thương là mất cái độ
sạch của chuỗi cung ứng. Một cái nền kinh tế xuất khẩu như là Trung Quốc sợ nhất không phải chỉ là
thuế quan đâu. Thuế quan làm hàng hóa đắt đỏ hơn, tất nhiên rồi, nhưng trừng phạt thì nó làm hàng hóa
trở nên nguy hiểm hơn về mặt pháp lý. Thuế quan còn có thể thương lượng, có thể chia sẻ chi phí giữa nhà
sản xuất, nhà nhập khẩu và người tiêu dùng. Nhưng trừng phạt thì khác, nó hoàn toàn là cắt đứt khỏi
cái hệ thống thanh toán. Bộ Tài chính Mỹ thậm chí họ cũng cảnh báo các tổ chức trài chính phải tăng
kiểm soát rủi ro đối với giao dịch liên quan đến các cái nhà máy lọc dầu Trung Quốc nhất là tại Sơn Đông,
họ chỉ định ra như vậy. Đồng thời nêu rõ các thủ thuật né tránh gồm công ty Bình Phong ở châu Á và
UAE, môi giới trung gian, hạm đội bóng tối, chuyển dầu giữa các tàu, làm giả giấy tờ và thao túng
danh tính thẩm. Quan trọng hơn, Washington cảnh báo là sẵn sàng dùng trừng phạt thứ cấp với các
tổ chức tài chính nước ngoài tiếp tục hỗ trợ hoạt động của Iran. Và đây là lúc mà Bắc Kinh phải lo lắng
thật sự. Bởi vì họ có thể ra lệnh cho doanh nghiệp trong nước không tuân thủ lệnh của Mỹ, nhưng Trung Quốc
không thể ép toàn bộ ngân hàng quốc tế, hãng bảo hiểm quốc tế, nhà nhập khẩu quốc tế hay là công ty
vận tải quốc tế cùng đứng về phe mình. Họ sẽ tự hỏi là giữa một cái nhà máy lọc dầu Trung Quốc
và quyền tiếp cận hệ thống USD, tôi phải chọn bên nào đây? Và câu trả lời thường rất lạnh lùng,
đó là họ chọn USD. Nói một cách dễ hiểu thì Mỹ đang làm ba việc cùng lúc, vừa cắt tiền của Iran
mà không cần tiếp tục ném bom Iran, vừa buộc Trung Quốc phải trả giá cho các ve chò chống lương kinh tế
của Iran, lại vừa gửi tín hiệu cho toàn bộ thị trường rằng dầu Iran là rủi ro pháp lý. Trung Quốc muốn
dùng quy mô thị trường của mình để che trở cho Iran, nhưng lại không muốn mất quyền tiếp cận thị trường
và hệ thống tài chính phương Tây. Họ muốn chứng minh rằng họ có chủ quyền kinh tế, nhưng mà cái nền
kinh tế xuất khẩu của họ vẫn cần ngân hàng quốc tế, bảo hiểm quốc tế, tuyến vận tải quốc tế,
cách hàng Mỹ và châu Âu. Trung Quốc muốn nói rằng họ không sợ trừng phạt Mỹ, nhưng phản ứng gai gắt
của họ cho thấy họ hiểu rất rõ rằng là nếu Mỹ mở rộng cuộc săn lùng thì đây sẽ là chuyện sống còn
của một cái phần lớn của bộ máy công nghiệp của họ. Trump đang đánh vào mắt xích nối Tehran với Bắc Kinh.
Một bên là chế độ cần dầu để sống và một bên là công sưởng cần dầu rẻ để mà chạy. Và ở giữa nó
là hệ thống tài chính toàn cầu mà Mỹ vẫn nắm cái chiếc chìa khóa lớn nhất. Đây là cái lý do mà cuộc
chiến sau tiếng súng đôi khi nó còn đáng sợ hơn là cuộc chiến lúc mà gai cắn nhất, lúc mà tiếng súng nổ ra
lớn nhất. Bởi khi bom ngừng rơi, người ta đã tưởng là chiến tranh kết thúc, nhưng thực ra với Iran và Trung Quốc
thì cuộc chiến đầu đơn nhất có thể chỉ vừa mới bắt đầu thôi.
Bây giờ thì chúng ta hãy đánh mắt rộng hơn trên bàn cờ chiến lược, sẽ thấy là Nhật Bản cũng
đang có những động thái song song để đánh vào nỗi sợ thiếu năng lượng của Đông Nam Á,
vốn là cái khu vực mà Trung Quốc muốn giữ làm sân sau kinh tế của mình.
Hôm 15 tháng 4, Nhật đã công bố khuôn khổ tài chính 10 tỷ USD để giúp các nước châu Á,
đặc biệt là Đông Nam Á, bảo đảm nguồn năng lượng, mua dầu khẩn cấp, tăng dự trữ và xây dựng hạ
tầng lưu trữ trong bối cảnh khủng hoảng Trung Đông làm gián đoạn chuỗi cung ứng.
Khuôn khổ này được triển khai qua các định chế như JBIC hay NEHI,
tức không phải là tiền phát không mà là tiến dụng, bảo lãnh, khoản vay và công cụ tài chính nhà
nước Nhật để mà kéo các nước khu vực vào một mạng lưu kinh tế do Tokyo dẫn dắt.
Một cái điểm đáng chú ý hơn nữa là kế hoạch này còn bao gồm hỗ trợ mua nguồn năng lượng thay thế,
trong đó có dầu thô Mỹ và hỗ trợ xây dựng kho dự trữ dầu.
Và đây chính là cái chỗ mà ta thấy là cái thế cờ của Liên minh Mỹ-Nhật đã bắt đầu khởi sự.
Mỹ ở phía trước đánh Iran bằng trừng phạt dầu và tài chính, làm cho dầu Iran trở thành
cái thứ hàng hóa nguy hiểm, nhặt ở phía sau lại mở một cái đường thoát cho Đông Nam Á.
Nếu khu vực này bị sóc vì giá dầu, thiếu dầu, chi phí bận tải tăng thì Tokyo đưa ra tiến dụng,
bảo lãnh và hạ tầng để các nước không phải chạy sang Trung Quốc cầu cứu.
Và trong các cuộc khủng hoảng, ai đưa được tiền, dầu, tiến dụng và hạ tầng đúng lúc thì người
đó giành được ảnh hưởng, giành được chiến thắng. Chúng ta biết rằng, Trung Quốc nhiều năm qua đã xây
được cái ảnh hưởng rất mạnh mẽ tại Đông Nam Á bằng một những công thức quen thuộc, cho vay, xây cảng,
xây đường, xây điện, mua nguyên liệu, bán hàng giá rẻ, rồi biến sự phụ thuộc kinh tế thành
ảnh hưởng chính trị. Nhưng lần này, Nhật bước vào đúng lúc mà khu vực đang sợ cú sóc năng lượng.
Họ không nói rằng là hãy chống lại Trung Quốc, mà họ nói rằng là chúng tôi giúp các bạn có dầu,
có được tiến dụng, kho giữ chữ và chuỗi cung ứng ổn định. Nghe có vẻ mềm mỏng hơn rất nhiều,
nhưng mà hiệu quả chiến lược nó lại sâu sắc hơn. Bởi vì một cái quốc gia Đông Nam Á khi thiếu dầu,
thiếu ngoại tệ, rồi thiếu cả cái nguồn nhập khẩu ổn định, rất dễ phải chấp nhận các điều quản,
điều kiện bất lợi từ các cường quốc lớn. Nếu Trung Quốc bước vào đó thì Bắc Kinh có thể nói là,
tôi cho anh vay, tôi bán dầu, cung cấp hàng, tôi giữ nhà máy của anh chạy. Đổi lại,
anh đừng có mà đứng quá gần Mỹ-Nhật. Nhưng khi Nhật đưa ra cái gói 10 tỷ đô thì phương án của Trung
Quốc nó mất đi tính độc quyền. Các nước Đông Nam Á lại có thêm cửa thoát. Và đây là bản chất của
song kiếm hợp bích Mỹ-Nhật. Điểm đau đớn nhất của Trung Quốc nằm ở chỗ là Đông Nam Á không phải là
vùng ngoại vi bình thường. Đây là cửa ngõ phía Nam của Trung Quốc, là tuyến thương mại sống còn,
là vùng đệm của Biển Đông và là nơi đi qua Malacca. Đó là khu vực mà Bắc Kinh luôn muốn giữ trong
trạng thái không ngả hẳn về phía Mỹ. Phải đứng trung lập ít nhất là lĩnh vận. Nếu không về phe mình thì
phải là trung lập. Nếu Mỹ gây sức ép tại Hormuz, Nhật củng cố năng lượng ở Đông Nam Á,
Úc cung cấp khí hóa lỏng và khoáng sản, Việt Nam tham gia chuỗi khoáng sản và bán dẫn,
Philippines tăng hợp tác an ninh với Mỹ-Nhật, Indo giữ vị trí chiến lược quanh Malacca,
thì Trung Quốc sẽ thấy một cái vòng cung mới đang hình thành, một cái thong lọng đang siết cổi.
Đó không phải là một vòng cung quân sự thuần túy, mà là một vòng cung năng lượng,
tài chính, khoáng sản, công nghệ, hàng hải. Và đó mới là cái thứ mà Bắc Kinh sợ hãi nhất,
ám ảnh nhất. Bởi vì quân sự thì có thể đối đầu bằng tàu chiến, máy bay. Nhưng mà chuỗi
cung ứng thì khó hơn. Nếu từng nước Đông Nam Á bắt đầu có vốn Nhật, bảo lãnh Nhật, dầu Mỹ,
kho dự trữ do Nhật hỗ trợ, công nghệ Nhật, tiêu chuẩn Nhật, thị trường phương Tây,
thì ảnh hưởng của Trung Quốc không biến mất trong một ngày, nhưng sẽ bị bào mòn từng lớp.
Trung Quốc từng dùng cơn khát hạ tầng của Đông Nam Á để mờ rộng ảnh hưởng.
Nay Mỹ-Nhật đang dùng cơn khát an ninh năng lượng và chuỗi cung ứng để mà kéo khu vực ra khỏi
cái bóng Trung Quốc. Câu hỏi đặt ra đó là liệu các nước Đông Nam Á có thể một mặt thì nhận tiền của
Mỹ-Nhật, một mặt thì đứng cùng Mỹ-Nhật, nhưng trong bóng tối vẫn đi đêm với Trung Quốc hay không?
Chúng tôi nghĩ là vẫn có thể xảy ra đấy. Đông Nam Á không phải là một khối thuần nhất chống Trung Quốc.
Nhiều nước trong khu vực có quan hệ thương mại rất sâu sắc với Bắc Kinh. Họ cần thị trường Trung Quốc,
khách du lịch Trung Quốc, đầu tư Trung Quốc, linh kiện, hàng trung gian và đôi khi là cả sức im lặng
của Trung Quốc trong các vấn đề biên giới, biển đảo hoặc chính trị nội bộ. Vì vậy sẽ không có chuyện
chỉ vì Nhật đưa ra 10 tỷ đô mà cả Đông Nam Á lập tức quay lưng lại với Bắc Kinh.
Nhưng vấn đề nằm ở đó. Đi đêm với Trung Quốc, nó không còn dễ như trước nữa.
Trước đây, một nước Đông Nam Á có thể chơi cái trò cân bằng khá thoải mái, nhận vốn của Nhật,
nhận an ninh từ Mỹ, nhận thương mại Trung Quốc rồi tuyên bố trung lập. Nhưng khi Mỹ bắt đầu dùng trừng
phạt thứ cấp và truy giấu dòng dầu của Iran, khi các giao dịch liên quan đến Trung Quốc có thể bị soi
dưới kính lúc tài chính, thì cái việc đi đêm không chỉ là chuyện ngoại giao thông thường,
mà có thể trở thành rủi ro ngân hàng, bảo hiểm, vận tải và thậm chí là rủi ro xuất khẩu nữa.
Các chính phủ Đông Nam Á có thể vẫn muốn giữ quan hệ tốt với Bắc Kinh,
nhưng ngân hàng của họ liệu có dám xử lý thanh khoản liên quan đến dầu Iran hay không?
Công ty bảo hiểm của họ có dám bảo hiểm tàu nghi dính tới mạng lưới hạm đội bóng tối Iran hay không?
Rồi doanh nghiệp xuất khẩu của họ liệu có dám để chuỗi cung ứng bị nghi liên quan đến hàng hóa
Đông Nam Á bị trừng phạt hay không? Đó vẫn là những câu hỏi và chưa thể có câu trả lời ngay bây giờ.
Và đây là cái điểm mà Mỹ cũng cao tay. Washington không cần cấm mọi ngả đường để các nước Đông Nam Á
giao thương với Trung Quốc. Họ chỉ cần biến một số loại giao dịch thành vùng nguy hiểm,
khiến các tăng nhân kinh tế tự lùi lại. Nói một cách dễ hiểu thì các chính phủ có thể muốn đi đêm,
nhưng ngân hàng và doanh nghiệp lại sợ bật đèn. Và với Trung Quốc mà nói thì mặc dù chưa hết đường,
nhưng con đường đang ngày càng hẹn. Cái nguy hiểm nhất với họ không phải là bị Đông Nam Á quay lưng
ngay lập tức, mà là Đông Nam Á bắt đầu có khả năng mìm cười với Trung Quốc,
nhưng không còn phải sống nhờ Trung Quốc nữa. Họ sẽ trở nên độc lập hơn, phát trung tốt hơn.
Đến đây thì chương trình ngày hôm nay cũng xin phép được tạm dừng. Xin mời quý vị chia sẻ
quan điểm cá nhân của mình ở phần dưới. Lê Bình xin chào và hẹn gặp lại!
