PARIS NẮNG NÓNG 44 ĐỘ C, CHIẾC BẪY KHÍ HẬU CỦA TRUNG QUỐC KHIẾN CHÂU ÂU ÔM HẬN

Tri Thức Mới
2.1K Người theo dõi
1.7K Lượt xem video·2 thg 7, 2026
PARIS NẮNG NÓNG 44 ĐỘ C, CHIẾC BẪY KHÍ HẬU CỦA TRUNG QUỐC KHIẾN CHÂU ÂU ÔM HẬN
Thưa quý vị, mùa hè năm 2026 này, Paris thơ mộng phải chứng kiến một cảnh tượng chưa từng có.
Những bảng kế hoạch y tế khẩn cấp được kích hoạt khi nhiệt độ ngoài trời chạm ngưỡng kỷ lục hơn 44 độ C,
biến thủ đô nước Pháp thành một lò nướng đô thị đúng nghĩa.
Số người tử vong vì nắng nóng ở Pháp đã vượt mức hơn 1.000 người.
Giữa bối cảnh ngột ngạt và đầy áp lực, một phát ngôn từ vị phó thị trưởng Paris đã tức khắc gây bùng trái dư luận quốc tế
khi bà đăng đàn chỉ trích nước Mỹ bằng những lời lẽ đánh thép, yêu cầu một số người Mỹ đừng lên mặt dạy đời
và hãy chịu trách nhiệm cho đợt nắng nóng chết người này.
Hành động đổ lỗi xuyên đại dương của vị quan chức thủ đô Paris ngay giữa đỉnh điểm khủng hoảng
không chỉ gây ra những tiếng cười diễu mà còn vô tình hẽ mở một vết nứt sâu sắc bên dưới,
bề mặt của cái gọi là ý thức hệ môi trường tại phương Tây.
Từ lâu, Liên minh châu Âu vẫn luôn tự hào là ngọn hải đăng xanh của nhân loại,
dẫn dắt thế giới bằng các bộ luật khí hậu nghiêm khắc và các chỉ số năng lượng tái tạo đẹp như mờ.
Thế nhưng, sau khi giật mình trước lời cáo buộc của vị quan chức Pháp,
người ta buộc phải nhìn lại một thực tế ẩn sau bầu không khí trong lành của lục địa già.
Liệu châu Âu có thực sự xanh như những gì họ tuyên truyền,
hay cái sự sạch sẽ ấy chỉ là kết quả của một phép toán chuyển dịch ô nhiễm đầy vị kỷ?
Và khi cao rộng thống trách nước Mỹ phát thải môi trường khiến châu Âu nóng lên,
thì châu Âu có thực sự vô can khi đẩy ô nhiễm đó sang nhà sản xuất Trung Quốc mà vẫn không thể kiểm soát được.
Chương trình hôm nay sẽ mượn câu chuyện thời sự nóng như thời tiết này,
để thấy được bản chất của chủ nghĩa bảo vệ môi trường tại EU đã thất bại như thế nào trước thủ phạm lớn nhất,
không phải Mỹ mà lại là Trung Quốc, xanh vỏ đỏ lòng khi những con số biết nói.
Mỹ vốn là quốc gia tiêu thụ năng lượng khổng lồ cho hệ thống điều hòa không khí.
Thứ vốn bị nhiều chính trị gia cánh tả châu Âu coi là kẻ thù của khí hậu
vì làm gia tăng hiệu ứng nhà kính và khí thải carbon.
Tại Pháp, việc lắp điều hòa không khí luôn bị nhìn nhận với ánh mắt hoài nghi.
Tỷ lệ hộ gia đình có điều hòa ở Pháp chỉ khoảng một phần bốn,
khác xa so với sự phổ biến gần như tuyệt đối ở Mỹ.
Khi nắng nóng chết người xảy ra, thay vì tìm giải pháp thích ứng,
phản ứng đầu tiên của một bộ phận quan chức Pháp là quay sang chỉ trích lối sống tiêu thụ năng lượng của người Mỹ
như nguyên nhân gây ra biến đổi khí hậu toàn cầu.
Châu Âu, đặc biệt là Liên minh Châu Âu, luôn tự hào là ngọn hải đăng xanh của thế giới dựa trên hai yếu tố chính.
Thứ nhất là các con số thống kê ấn tượng, không thể phủ nhận những nỗ lực cắt giảm phát thải nội tài của EU.
Theo báo cáo European Electricity Review của Amber Energy, công bố đầu năm 2026, tính riêng trong năm 2025,
sản lượng điện tư gió và mặt trời tại Liên Âu đã đạt bốc kỷ lục, chiếm 30% tổng sản lượng điện toàn khối.
Lần đầu tiên trong lịch sử, tỷ trọng điện gió và điện mặt trời cộng lại đã chính thức vượt qua tổng tỷ trọng
của tất cả các nguồn năng lượng hóa thạch, than đá, khí đốt chiếm 29%.
Trong đó, điện than tại EU tụt dốc xuống mức thấp kỷ lục là 9,2%.
Nhiều quốc gia như Đan Mạch, Đức, Bồ Đào Nha có những ngày hệ thống điện chạy 100% bằng năng lượng tái tạo.
Thứ hai là hệ thống luật pháp và thuế nghiêm khắc.
EU sở hữu thỏa thuận xanh châu Âu, European Green Deal, với mục tiêu giảm 55% phát thải vào năm 2030.
Họ có cơ chế định giá carbon, bắt các ngành công nghiệp ô nhiễm phải trả tiền cho mỗi tấn CO2 thải ra,
và sắp tới là thuế carbon qua biên giới để phạt các sản phẩm nhập khẩu không xanh.
Nhìn từ bên ngoài, châu Âu trông rất sạch sẽ với những cánh đồng quạt gió ngoài khơi biển Bắc,
những mái nhà phủ kín pin mặt trời ở Đức và bầu không khí trong lành.
Tuy nhiên, tính chất xanh này sẽ bị đặt một dấu hỏi lớn nếu nhìn vào toàn bộ chuỗi vòng đời sản phẩm.
Châu Âu lắp đặt hàng triệu tấm pin mặt trời, nhưng họ không tự sản xuất hầu hết số pin đó.
Theo nguồn số liệu từ Eurostat, cơ quan thống kê châu Âu hoặc European Commission,
Quỹ ban châu Âu giai đoạn 2022 đến 2024, khoảng 80-90% pin mặt trời tại EU được nhập khẩu từ Trung Quốc.
Báo cáo đặc biệt Solar PV Global Supply Chain của cơ quan năng lượng quốc tế chỉ ra rằng
Bắc Kinh kiểm soát hơn 80% tất cả các giai đoạn sản xuất của tấm pin mặt trời từ thỏi silicon,
tấm wafer cho đến tế bào quang điện và hoàn thiện model.
Riêng đối với các linh kiện cốt lõi như foil, ingots và tấm mỏng wafer, tỷ lệ này dự kiến đạt tới 95%.
Cơ quan năng lượng quốc tế xác nhận năng lượng phục vụ cho ngành công nghiệp chế tạo pin mặt trời toàn cầu
hiện phụ thuộc chủ yếu vào hóa thạch. Than đá chiếm hơn 60% lượng điện phục vụ sản xuất pin.
Tại các trung tâm sản xuất lớn ở Trung Quốc như Tân Cương hay Tứ Xuyên, tỷ lệ điện than chạy nhà máy đúc silicon lên tới hơn 75%.
Chi phí sản xuất pin mặt trời tại châu Âu cao hơn tại Trung Quốc tới 35%,
nguyên nhân chính là do sự tranh lệch về giá năng lượng và chi phí vận hành thô.
Vấn đề nằm ở chỗ, quá trình sản xuất tấm pin mặt trời từ tinh luyện silicon, luyện kim,
chế tạo tấm wafer là một ngành công nghiệp cực kỳ tiêu tốn năng lượng và độc hại.
Trung Quốc phải dùng điện than, nguồn năng lượng rẻ nhất, để chạy các nhà máy sản xuất pin này.
Nghĩa là, để có một tấm pin sạch phát điện tại Pháp hay Đức, một lượng lớn CO2 và chất thải độc hại
đã được xả ra trước đó ở các tỉnh như Tân Cương hay Tứ Xuyên.
Nói cách khác, ngoại giới sẽ phải chịu bẩn, chịu độc, chịu đỏ lòng để cho châu Âu được xanh vỏ.
Thực chất, đây chỉ là quá trình dịch chuyển ô nhiễm.
Chưa hết, tuổi thọ của pin mặt trời là khoảng 20 đến 25 năm.
Thế mà hiện châu Âu vẫn chưa có một hệ thống tái chế quy mô lớn và hiệu quả kinh tế
cho hàng triệu tấn rác thải quang điện sắp hết hạn.
Việc bóc tách các kim loại nặng như chì, cadmium ra khỏi tấm pin cũ cực kỳ tốn chi phí
và dễ gây ô nhiễm đất và nước nếu đem đi chuột lấp. Đây lại là một quả bom hẹn giờ về rác thải.
Còn về điện gió của châu Âu, đặc biệt là Đan Mạch, Đức, Anh, nó được coi là hình mẫu,
nhưng nó có hai gót chân Achilles rất lớn. Vấn đề đầu tiên là rác thải sợi thủy tinh, sợi carbon.
Cánh quạt gió được làm từ vật liệu Composite cực kỳ bền chắc để chịu được bão biển.
Chính vì nó quá bền nên khó có thể tái chế một cách kinh tế.
Theo dự báo từ Tổ chức Nghiên cứu Công nghệ IDTechX cập nhật năm 2025,
lượng rác thải lũy kế từ cánh quạt gió cựu trao trên thế giới sẽ vượt mốc 14 triệu tấn vào năm 2046.
Các kinh bản nghiên cứu được lưu trữ bởi Quỹ khoa học quốc gia Mỹ NSF và tạp chí Chemical Engineering News cảnh báo rằng
nếu công nghệ tái chế không có đột phá, thế giới sẽ phải đối mặt với khoản tích lũy lên tới 43 triệu tấn rác thải cánh quạt gió vào năm 2050.
Hiện tại, hàng ngàn cánh quạt gió hết niên hạn ở châu Âu đang phải xử lý bằng cách,
băm nhỏ rồi đem trôn lớp dưới lỏng đất, tạo thành những nghĩa địa cánh quạt gió.
Vấn đề thứ hai là máy phát điện của chú binh gió cần một lượng khổng lồ các nguyên tố đất hiếm như neodymium để làm nam châm vĩnh cửu.
Quá trình khai thác đất hiếm, chủ yếu ở Trung Quốc và châu Phi, là một trong những hoạt động hủy hoại môi trường và nguồn nước tàn khốc nhất hành tinh.
Ngoài ra, các trang trại gió ngoài khơi và trên cạn cũng bị chỉ trích vì làm thay đổi dòng khí hậu cục bộ,
gây tiếng ồn hạ âm và giết chết hàng vạn sinh vật bay như chim, rơi.
Chính vì vậy, cái xanh của châu Âu là có thật trên lãnh thổ của họ, nhưng nếu xét trên phạm vi toàn cầu,
đó là một sự dịch chuyển vị trí ô nhiễm trước tổng lượng phát thải và tổn hại môi trường của nhân loại,
chưa chắc đã giảm đi tương ứng với những gì họ tuyên truyền, phản biện có thể có của châu Âu.
Để đáp lại những cáo buộc trên, châu Âu thường sẽ lập luận rằng họ không hề trốn tránh trách nhiệm phát thải từ hàng hóa nhập khẩu.
Các nhà kinh tế học châu Âu từ lâu đã thừa nhận khái niệm phát thải do gì,
nghĩa là lượng khí thải bị dịch chuyển từ nước giàu sang nước nghèo thông qua thương mại.
Để chứng minh mình không đạo đức giả, EU đã bản hành cơ chế điều chỉnh biên giới carbon.
Đây là loại thuế đánh thẳng vào các sản phẩm thô thép, si măng, phân bón, điện, nhôm nhập khẩu vào EU
dựa trên lượng CO2 thực tế xả ra trong quá trình sản xuất tại nước bản địa.
Họ có thể phản biện rằng chúng tôi không hề đẩy ô nhiễm sang Trung Quốc rồi phủi tay.
Với CBAM, chúng tôi buộc các nhà sản xuất Trung Quốc phải sanh hóa quy trình sản xuất nếu muốn bán hàng sang châu Âu.
Chúng tôi dùng quyền lực thị trường của mình để ép cả chuỗi cung ứng toàn cầu phải giảm phát thải.
Hoặc họ cũng có thể biện hộ bằng cách tính hiệu quả năng lượng trên mỗi đơn vị GDP khi lượng phát thải khí nhà kính.
Trên đầu người thấp hơn ở Mỹ rất nhiều.
Theo dữ liệu của Ngân hàng Thế giới, một người Mỹ trung bình phát thải khoảng 14-15 tấn CO2 mỗi năm,
trong khi một người Pháp chỉ phát thải khoảng 4-5 tấn CO2 mỗi năm.
Một phần cũng nhờ hệ thống điện hạt nhân khổng lồ của Pháp.
Về vấn đề điều hòa, người Pháp có thể lập luận rằng chúng tôi chấp nhận chịu nóng,
cải tạo đô thị bằng cách trồng cây, giảm bê tông hóa để thích ứng tự nhiên.
Trong khi đó, người Mỹ bật điều hòa 24 trên 7 ở mức nhiệt thấp trong những căn nhà ngoài ô rộng lớn
và lái những chiếc xe bán tải nguồn sang.
Nếu chưa đủ, họ sẽ dùng đến lập luận về trách nhiệm lịch sử,
vũ khí ngoại giao mạnh nhất mà các chính trị gia châu Âu dùng để đối đầu với Mỹ.
Mỹ là nước phát thải lưu kế lớn nhất,
tức là xét về tổng lượng phát thải tích lũy trong lịch sử từ thời cách mạng công nghiệp đến nay.
Châu Âu cũng cáo buộc Mỹ không có sự nhất quán và trách nhiệm của một siêu cường.
Mỹ từng rút khỏi Nghị định thư Kyoto,
sau đó thời Tổng thống Trump lại rút khỏi thỏa thuận khí hậu Paris.
Bởi vậy Phó Thị trưởng Paris mới có ý rằng,
khi nước Pháp hứng chịu đợt nắng nóng chết người do hậu quả tích lũy của bầu khí quyền bị hủy hoại,
chúng tôi có quyền chỉ trích quốc gia đã xả thải nhiều nhất lịch sử,
nhưng lại liên tục trốn tránh các cam kết quốc tế và từ chối thay đổi mô hình tiêu thụ năng lượng.
Tóm lại là Liên Âu không phủ nhận việc phụ thuộc nguồn cung,
nhưng họ tự coi mình là người đặt ra luật chơi.
Họ tin rằng bằng cách áp các tiêu chuẩn khắt khe và thuế carbon lên hàng nhập khẩu,
họ đang dùng túi tiền của người tiêu dùng châu Âu để ép Trung Quốc và phần còn lại của thế giới
phải tự chuyển dịch sang năng lượng sạch.
Nhưng liệu họ có làm được không?
Châu Âu ra luật, Trung Quốc dùng mưu lách luật.
Xin hãy khoản bàn đến kết luận rằng phát thải khí siêu 2 là căn nguyên của biến đổi khí hậu,
một chủ đề vốn đang vấp phải những tranh cãi gai gắt trên thế giới,
thậm chí bị cáo buộc là công cụ chính trị hóa nhân danh bảo vệ môi trường
để mưu cầu những nghị trình thiếu minh bạch.
Bây giờ chúng ta chỉ tập trung vào phân tích rằng,
khi châu Âu tự tin là kẻ đặt ra luật chơi để ép Trung Quốc phải sanh,
thì họ đã thấp mưu thua trí so với chính quyền Bắc Kinh trong trò chơi này như thế nào.
Bước sang năm 2026, khi cơ chế điều chỉnh biên giới carbon của EU
chính thức bước vào giai đoạn bắt buộc nộp tiền thực tế,
bản chất của vấn đề đã lộ diện rất rõ ràng qua mấy khía cạnh.
Thứ nhất là EU chỉ rửa sạch hóa đơn, chứ không khống chế được phát thải của Trung Quốc.
Trên thực tế, cơ chế điều chỉnh biên giới carbon của EU,
dù đánh thuế trực tiếp lên lượng phát thải của các mặt hàng như thép hay nhôm nhập khẩu,
nhưng lại hoàn toàn bất lực trong việc giải quyết tận gốc bài toán ô nhiễm toàn cầu.
Nguyên nhân cốt lõi nằm ở một hiện tượng mà giới kinh tế gọi là phân tách nguồn lực.
Các tập đoàn công nghiệp nặng khổng lồ của Trung Quốc không dạy gì
chuyển đổi sanh toàn bộ hệ thống sản xuất vốn đòi hỏi chi phí đầu tư đắt đỏ.
Thay vào đó, họ thực hiện chiến thuật phân tách dây truyền,
chủ động đầu tư một vài sưởng sản xuất nhỏ siêu sạch,
ví như luyện kim bằng hydro tại Hà Bắc hay chạy điện sạch ở Vân Nam,
chỉ để đúc ra một lượng hàng đạt chuẩn vừa đủ xuất khẩu sang châu Âu
nhằm vượt qua hàng giàu kiểm toán.
Trong khi đó, đại bộ phận sản lượng thép và nhôm gắn liền với điện than
vẫn được giữ lại để tiêu thụ nội địa hoặc tuôn sang các thị trường vùng trũng không ngạp thuế
như Đông Nam Á, Châu Phi và Mỹ Latin.
Hậu quả là tổng lượng khí thải xả ra,
bầu khí quyền toàn cầu từ các nhà máy Trung Quốc không hề giảm đi.
Châu Âu mua được một vài lô hàng sạch để làm đẹp báo cáo,
trong khi phần ô nhiễm thô bạo nhất vẫn nằm lại ở các tỉnh công nghiệp Trung Quốc,
và luật chơi của Châu Âu thì bị vô hiệu hóa ngay từ thượng nguồn.
Châu Âu có thể lại phản biện rằng,
chúng tôi biết Trung Quốc đang làm thế,
và đó chính xác là bước đi đầu tiên mà chúng tôi muốn.
Một khi công nghệ sạch đã được định hình
và chứng minh được hiệu quả kinh tế tại Trung Quốc,
nó sẽ dần thay thế các công nghệ cũ do áp lực giảm chi phí sản xuất hàng loạt.
Brussels không thể bắt Bắc Kinh sanh hóa 100% trong một đêm,
nhưng bằng cách ép họ sơn sanh 10% năng lực sản xuất để giữ thị trường EU,
Châu Âu đã kích hoạt quá trình chuyển đổi công nghệ ngay trong lòng đối thủ.
Đó có khả năng là lý luận và tính toán của EU.
Nhưng vừa hay, câu chuyện áp thuế CBAM và mớ lý luận đó
lại rất tương đồng với bài học thất bại khi phương Tây đưa Trung Quốc vào WTO năm 2001.
Khi đó, Tổng thống Mỹ Bill Clinton và các nhà lãnh đạo Châu Âu tin rằng
khi kéo Trung Quốc vào hệ thống thương mại toàn cầu,
các quy tắc thị trường tự do sẽ ép Trung Nam Hải phải cải cách thể chế,
minh bạch hóa tài chính, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
và xa hơn là mở cửa về chính trị, nhân quyền.
Phương Tây tự coi mình là kiến trúc sư thiết lập luật chơi,
chấp nhận cho Trung Quốc hưởng quy chế tối huệ quốc và các ưu đái ngắn hạn,
với niềm tin Bắc Kinh sẽ bị đồng hóa.
Nhưng thực tế là gì?
Bắc Kinh không hề bị đồng hóa.
Họ nghiên cứu luật WTO sâu sắc đến mức tìm ra mọi kẽ hở
để vừa hưởng lợi từ thị trường toàn cầu,
vừa duy trì mô hình kinh tế nhà nước, trợ cấp chính phủ ngầm
và ép buộc chuyển giao công nghệ.
Thay vì phương Tây thay đổi Trung Quốc,
Trung Quốc đã dùng chính dòng tiền từ WTO
để vươn lên thành đại công sưởng thế giới
và thách thức ngược lại phương Tây.
Bài học cũ vẫn còn nóng hổi, EU lại đã quên rồi sao?
Thứ hai, là thuế carbon có tương xứng với sự ô nhiễm thực tế?
Câu trả lời thẳng thẳng là không.
Khoản thuế này quá nhỏ bé và chỉ như gãi ngứa
so với quy mô hủy hoại môi trường thực tế
bởi vì lỗ hổng luật pháp mang tên điều chính của Hiệp định CBAM.
Điều khoản này quy định, nếu doanh nghiệp nước ngoài
đã trả tiền thuế carbon tại quốc gia bản địa của họ,
họ sẽ được khấu trừ số tiền đó khi vào châu Âu.
Để đối phó, Bắc Kinh đã mở rộng thị trường mua bán,
phát thải nội địa sang các ngành thép, xi măng và nhôm.
Tuy nhiên, giá carbon tại Trung Quốc chỉ giao động quanh mức khoảng 11 đô la,
trong khi giá carbon tại châu Âu neo ở mức rất cao,
từ 80-100 đô la mỗi tấn,
bằng cách bắt các nhà máy nội địa nộp một khoản phí carbon rất thấp ở trong nước.
Trung Quốc vừa danh chính ngôn thuận giữ lại dòng tiền thuế đó cho ngân sách của mình,
vừa được EU khấu trừ nghĩa vụ thuế theo điều chính.
Khoản bù trinh lệch mà châu Âu thu được thực tế rất nhỏ,
hoàn toàn không tương xứng để bù đắp cho hàng triệu tấn CO2
và chất thải độc hại phát sinh trong quá trình khai khoáng và tinh luyện thô tại Trung Quốc.
Châu Âu sẽ biện hộ rằng bản chất là lộ trình siết gọng kìm,
chứ không phải là sự thỏa hiệp.
Nói rõ hơn, EU có thể lập luận rằng,
cơ chế CBAM bước vào giai đoạn thực thi bắt buộc từ năm 2026
với tỷ lệ áp thuế tăng dần theo từng năm,
song song với việc cắt giảm dần hạn ngạch miễn phí
của các doanh nghiệp nội địa EU cho đến năm 2034.
Nếu Trung Quốc giữ giá carbon ở mức 10 đô la,
các doanh nghiệp của họ sẽ phải nộp phần tranh lệch khổng lồ
khoảng 70-80 đô la cho hải quan EU.
Để không bị mất dòng tiền thuế này vào tay châu Âu,
Bắc Kinh bắt buộc phải nâng giá sàn carbon nội địa
lên tương đương với mức của EU theo thời gian.
Do đó, điều chính của CBAM không phải là lỗ hổng để lách,
mà là một mồi nhử địa chính trị buộc Trung Quốc
phải tự tay bóp nghẹt các nhà máy điện than của chính mình
nếu muốn bảo vệ nguồn thu ngân sách.
Như vậy, EU tiếp tục một nước đi về luật pháp,
sau Trung Quốc lại đối phó bằng lách luật một cách hợp pháp
và tận dụng ưu đái.
Báo cáo phân tích chuối cung ứng năm 2026 của tổ chức Terawatt Times
đã định rằng đây là hiệu ứng khúc sạ CBAM
Trung Quốc đang lợi dụng cấu trúc thương mại để qua mặt châu Âu.
70,8% lượng thép và sản phẩm kim loại của Trung Quốc xuất sang EU
không đi trực tiếp từ nhà máy đúc quặng,
mà đi qua các công ty thương mại trung gian.
Cấu trúc chuối cung ứng này khiến việc truy xuất dữ liệu carbon
Khi không thể truy vết, EU buộc phải áp một mức thuế giả định.
Mức này thường cao bằng và vô tình tạo ra kẽ hở
cho các nhà sản xuất ô nhiễm nặng nề núp bóng sau các công ty thương mại sạch.
EU sẽ đối phó ra sao?
Họ sẽ phản biện rằng mình không hề cao bằng hay bỏ cuộc
trước các công ty thương mại trung gian.
Kể từ năm 2026, các quy định mới của EU bắt buộc mọi sản phẩm
thô gia công từ kim loại nhập khẩu phải có DPP,
một dạng khai sinh kỹ thuật số dựa trên công nghệ blockchain
để truy vết lượng phát thải từ tận mỏ khai khoáng.
Nếu một công ty trung gian không thể chứng minh nguồn gốc sạch
của quạng thô thượng nguồn bằng dữ liệu kiểm toán độc lập,
EU sẽ áp mức phạt bằng mức phát thải của 10% nhà máy bẩn nhất châu Âu.
Đây là mức phạt mang tính triệt hạ thương mại,
khiến việc lách luật qua nước thứ ba trở nên đắt đỏ hơn cả việc tuân thủ luật chơi.
Thế nhưng, nhìn từ bài học WTO,
Bắc Kinh sẽ không bao giờ để mình bị động chịu phạt.
Họ đang áp dụng một thứ binh pháp gọi là mượn đường diệt quắc.
Đó là câu chuyện vào năm 654 trước Cầu Nguyền,
vua nước Tấn muốn đánh nước quắc nhưng bị ngăn cách bởi nước Ngu.
Vua Tấn đã dùng ngựa tốt Ngọc Quý hối lộ vua nước Ngu để mượn đường.
Dù được can ngăn, vua Ngu vẫn đồng ý.
Sau khi quân Tấn đánh bại nước quắc,
trên đường rút quân đã nhận cơ hội tiêu diệt luôn nước Ngu yếu thế.
Ngày nay Trung Quốc mượn ngay con đường tiêu chuẩn xanh do châu Âu vạch ra.
Họ dùng tiềm lực tài chính để đáp ứng tiêu chuẩn đó,
biến nó thành công cụ để quét sạch các quốc gia đang phát triển nhỏ hơn
như Ấn Độ, Brazil, các nước châu Phi ra khỏi thị trường châu Âu,
bởi các quốc gia này không có đủ công nghệ và vốn để nâng cấp nhà máy.
Trung Quốc, với tiềm lực tài chính khổng lồ,
là quốc gia duy nhất đủ sức xây dựng các chuỗi cung ứng siêu sạch kỹ thuật số
để đáp ứng luật chơi của EU.
Hậu quả là thuế xanh của châu Âu.
Thay vì trừng phạt Trung Quốc,
lại giúp Trung Quốc quét sạch các đối thủ cạnh tranh khác tại thị trường châu Âu,
Trung Quốc sẽ độc quyền luôn cả mảng xuất khẩu xanh sang EU,
đẩy châu Âu vào thế phụ thuộc hoàn toàn vào chuỗi cung ứng vật chất của Bắc Kinh.
Đấy cũng có thể gọi là một mưu kế thuận thủ khiên dương,
thuận tay rắt dê mà Bắc Kinh áp dụng với Brazil,
tận dụng sơ hở hoặc một su thế có sẵn của đối phương
để thuận tay rắt con dê về phía mình, biến tình huống của địch thành lợi thế của ta.
Một cuộc đấu không cần sức
Thưa quý vị, trong kịch bản vừa rồi chúng ta đã chứng kiến một cuộc rượt đuổi và đấu trí
giữa một bên là tư duy pháp lý, luật lệ và những quy chuẩn đạo đức trên giấy của châu Âu,
bên kia là mưu lược chiến tranh tổng lực và dài hạn của Trung Quốc.
Phương Tây đặc biệt là Mỹ và châu Âu,
thừa kế tư duy quân sự từ thời Hy Lạp, Lama cổ đại,
đánh trận trực diện, phân định, thắng thua bằng quy tắc và luật lệ.
Họ thích những thứ rõ ràng. Chiến tranh ra chiến tranh, hòa bình ra hòa bình,
luật thương mại hay luật môi trường đều phải được viết thành điều khoản trắng đèn.
Họ tin rằng chỉ cần nắm chui luật, họ sẽ kiểm soát được đối thủ.
Thế nhưng, khi đối diện với mưu mẹo thời chiến áp dụng trong thời bình của Trung Quốc,
Phương Tây sẽ hoàn toàn bất lợi.
Trung Quốc không chọn cách lật bàn đèn để đối đầu trực diện với luật CBAM của châu Âu.
Họ thuận theo luật đó rồi dùng chính tiềm lực vật chất để biến mình thành kẻ duy nhất đáp ứng được luật.
Họ khiến châu Âu tự nguyện trói tay tra vào còng năng lượng của Trung Quốc
mà vẫn tưởng mình đang thắng lợi về mặt đạo đức.
Trong khi châu Âu mải mê tranh cãi về các khái niệm trừ tượng như quyền con người,
bảo vệ hành tinh, thì Trung Quốc âm thầm thực hiện thế trận vây thành,
mua đứt các mỏ tài nguyên, kiểm soát các cảng biển chiến lược
từ Piraeus, Hy Lạp cho đến các cảng ở châu Phi.
Khi EU giật mình tỉnh giấc, họ sẽ nhận ra cái lồng kính xanh của mình
đã nằm trọn trong lòng bàn tay của Bắc Kinh.
Trong khi châu Âu tự đặt mình vào vị thế nhà truyền giáo đạo đức cho cả thế giới,
họ tự tạo ra những luật lệ ngặt nghèo như cắt giảm năng lượng hạt nhân,
khai tử xe động cơ đốt trong,
vì áp lực của các phong trào cử tri cánh tả và lý tưởng xanh.
Bắc Kinh nhìn thấu điểm yếu này của nền dân chủ phương Tây,
biết rằng châu Âu bị trói buộc bởi chính những lời hứa đạo đức của họ.
Bắc Kinh sẵn sàng đóng vai người học trò ngoan,
ký kết các thỏa thuận khí hậu, hứa hẹn trung hòa carbon vào năm 2060.
Nhưng trên thực tế, họ tận dụng tối đa thời gian chuyển tiếp này
để tiếp tục đốt than, xây dựng năng lực công nghiệp áp đảo,
khiến châu Âu dần bị phi công nghiệp hóa vì chi phí năng lượng trong nước quá đắt đỏ.
Tiếc thầy, lý tưởng ngây thơ và luật pháp bình bạch đâu thể đối phó được
với giá tâm của một chế độ Bắc Kinh từ đầu đến cuối chỉ toàn là giả.
Châu Âu, nên trách ai?
Sự thất bại chiến lược của châu Âu trước chính quyền Trung Quốc trong cuộc chiến năng lượng xanh
không đơn thuần là sự tranh lệch về công nghệ,
mà là sự thất bại của một tư duy pháp lý ngây thơ
trước một nền tảng mưu lược thấm đẫm triết lý pháp gia và binh gia hàng nghìn năm tuổi.
Châu Âu bước vào thế kỷ 21 với niềm tin rằng các định chế luật pháp
và chuẩn mực đạo đức trên giấy có thể định hình được thế giới.
Họ đã quên mất rằng, đối với những nhà chiến lược kế thừa tư tưởng trận mạc
và lừa dối vốn dùng trong thời chiến tranh loạn lạc này đem áp dụng với đối tác,
thì luật lệ không phải là danh giới để tuân thủ, mà là công cụ để thao túng.
Và chính đạo đức của đối phương lại là điểm yếu tốt nhất để khai thác.
Khi châu Âu mải mê xây dựng một ốc đảo xanh trên giấy,
họ không nhận ra mình đang tự nguyện bước vào một thế trận vây thành vô hình,
nơi mà mọi nguồn lực sinh tồn đã bị định đoạt bởi đối thủ từ thượng nguồn chuỗi cung ứng.
Rõ ràng, muốn cải thiện môi trường chiến lược này,
phương Tây phải bắt đầu từ một nhận thức và hành động hoàn toàn khác
nếu không muốn chuốc lấy thất bại toàn diện.
Cục diện này đã được nhìn nhận một cách thực tế hơn ở bên kia bờ Đại Tây Dương.
Khi chính quyền Trump khiến nước Mỹ sực tỉnh trước thực tế rằng
mọi định chế quốc tế do phương Tây giày công xây dựng,
bao gồm cả các nghị trình môi trường, đều bị Trung Quốc lợi dụng để khống chế ngược lại họ,
Washington đã dứt khoát tìm cách rút lui khỏi các cam kết ràng buộc này.
Trái lại, châu Âu vẫn như một kẻ mộng du theo đuổi những lý tưởng viển vong,
tự tin một cách thái quá rằng mình đang ở thế thượng phong về cả mưu lược lẫn đạo đức.
Chưa bàn đến việc một chính quyền thủ đô không tự nhìn nhận trách nhiệm
trong quản trị nội tại và an sinh dân chúng,
lại đi đổ thừa thiên tai cho ngoại quốc đã là một sự kỳ cục.
Điều nực cười hơn chính là việc họ quay sang trách móc một đồng minh Hoa Kỳ
vốn đã đồng sàng dị mộng về hệ tư tưởng.
Thay vì chiếm mũi dùi vào Trung Quốc,
trùng cuối đã trục lợi từ lòng tin của phương Tây suốt hơn hai thập niên
kể từ khi mở cửa nền kinh tế,
châu Âu lại chọn cách đổ lỗi cho đồng minh thân cận nhất.
Khi mọi sự thật về chuối cung ứng vật chất đã phơi bầy không thể rõ ràng hơn,
sự chi trệ và ngái ngủ của lũ địa già quả thực khiến giới quan sát phải kinh ngạc.
Trong ván cờ địa chính trị tàn nhẫn này,
thay vì oán trách người,
có lẽ châu Âu chỉ nên tự trách sự nông cạn và ngây thơ của chính mình mà thôi.
Đến đây chương trình của chúng tôi cũng xin phép được tạm dừng.
Hãy để lại quan điểm của mình và cùng thảo luận với chúng tôi.
Còn bây giờ, xin chào và hẹn gặp lại!
