Khi còn nhỏ, mỗi khi đêm xuống, Văn Tĩnh thường nhìn thấy một ông lão dắt theo một bé gái bước ra từ bức tranh trên tường. Nhiều năm sau, ký ức ấy vẫn ở lại trong tâm trí cô như một câu hỏi chưa có lời giải.
Liệu có những điều tồn tại ngoài những gì mắt thường nhìn thấy? Liệu những ký ức, những trải nghiệm kỳ lạ của con người chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên, hay còn mang một ý nghĩa nào khác?
Những số tiếp theo của Đêm nay nghe gì, mời quý khán giả đến với Tiểu thuyết Hồi Quy - một câu chuyện nhẹ nhàng, sâu lắng, nhưng cũng đầy suy ngẫm về sinh mệnh, nhân duyên và con đường mà mỗi người đang lựa chọn cho chính mình.
Trong phần đầu của truyện, từ sự ra đi của người cha, câu chuyện sẽ dần mở ra những ký ức gia đình, những niềm tin bị lãng quên và hành trình tìm kiếm câu trả lời cho những câu hỏi về sinh mệnh, nhân duyên và nguồn gốc của con người...
Đêm nay nghe gì?
Khi còn nhỏ, mỗi khi đêm xuống, văn tĩnh thường nhìn thấy một ông lão giác theo một bé gái bước ra từ bức tranh trên tường.
Nhiều năm sau, ký ức ấy vẫn ở lại trong tâm trí cô như một câu hỏi chưa có lời giải.
Liệu có những điều tồn tại ngoài những gì mắt thường nhìn thấy?
Liệu những ký ức, những trải nghiệm kỳ lạ của con người chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên, hay còn mang một ý nghĩa nào khác?
Những số tiếp theo của đêm nay nghe gì?
Mời quý khán giả đến với tiểu thuyết Hồi Huy,
một câu chuyện nhẹ nhàng, sâu lắng nhưng cũng đầy suy ngẩm về sinh mệnh, nhân duyên và con đường mà mỗi người đang lựa chọn cho chính mình.
Trong phần đầu của chuyện, từ sự ra đi của người cha,
câu chuyện sẽ dần mở ra những ký ức gia đình, những niềm tin bị lãng quên
và hành trình tìm kiếm câu trả lời cho những câu hỏi về sinh mệnh, nhân duyên và nguồn gốc của con người.
Mời quý vị lắng nghe qua giọng đọc của Trúc Di,
được phát hành trên kênh Đêm Nay Nghe Gì vào 8h tối thứ Bảy hàng tuần trên nền tảng sạch không bạo lực Gangjin World.
Thiên lương bắt dứt giọng điệu của ông già,
nhiên đầu ra vẽ hết sức nghiêm túc nói với vàng tỉnh.
Nói một lần, cô không có phản ứng, đến lần thứ hai vàng tỉnh nhất vàng chân nhỏ,
cắn chặt môi dưới, trợn mắt nhìn anh, làm ra vẽ dữ dàng rồi khẽ đá một cái vào mông của Thiên lương.
Đá xong một cái, cả hai đều bật cười.
Thật ra Thiên lương chỉ là giả vợ đứng trên lập trường của cha vợ để chỉ trích hành động của mẹ vợ mà thôi.
Đúng vậy, kể từ khi cha của vàng tỉnh qua đời, mấy mẹ con họ đều vô cùng đau lòng.
Đến giờ đã khá lâu rồi, vậy mà vẫn gọi điện đường dài cho nhau để an ủi.
Cũng chẳng biết là ai đang an ủi ai, ai đang bảo ai đừng buồn nữa,
ai khuyên ai phải mạnh mẽ lên, phải nghĩ thoáng hơn.
Mẹ cô ấy, hai người chị gái của cô ấy, rồi chính cô ấy nữa,
hể xuất cảnh sinh tình là khóc nhưng lại dặn người nghe phải giấu không cho người kia biết.
Người kia đau lòng khóc một trận, rồi cũng dặn rằng nhất định đừng để người nào biết.
Những cuộc trò chuyện đứt quảng qua điện thoại khiến Thiên lương cũng chẳng hiểu.
Rốt cuộc ai đang an ủi ai, ai kiên cường hơn ai.
Theo Thiên lương chẳng có ai kiên cường hơn ai cả, tất cả đều như nhau.
Họ đều còn chìm đắm khá sâu trong cỏi hồng trần, đều có phần quá chấp trước vào tình đời.
Lòng già chưa đủ rồng mở khi phải đối diện với vấn đề sinh ly tử biệt mà ai cũng buộc phải trải qua.
Cha vợ qua đời là một người tu luyện, Thiên lương không khỏi đoán xem ông sẽ đi về đâu.
Thế nhưng lại không hề có bất kỳ dấu hiệu nào để suy đoán.
Thiên lương không mơ thấy ông, Văn tỉnh cũng không mơ thấy.
Ngoài ra còn có cách nào khác để nắm bắt những thông tin giúp phán đoán kiểu này nữa đâu.
Có những điều trong lòng Thiên lương không dám nói với Văn tỉnh.
Chẳng hạn như cha của Thiên lương đã qua đời từ vài năm trước, nhưng hướng đi sau khi mất của ông thì tương đối rõ ràng.
Có thể nói thế này, vài ngày trước khi cha qua đời, mẹ anh đã mơ thấy rất rõ hai con thiệt Nga.
Một con đắp xuống nằm ngoài cổng, còn con kia đầu trên mái che phía trên cổng, vương dài cổ kiều lớn về phía trong nhà.
Sau đó khi cha thật sự qua đời, đến lễ cúng tuần thất thứ năm,
người chị họ bên nội của anh nằm mơ thấy cha cưỡi Thiên Nga, mây lượng trên không trung.
Hẳn nữa giấc mơ của mẹ chưa từng kể cho người ngoài nghe,
nghĩa là giấc mơ của chị họ không phải do nghe mẹ kể rồi bị gợi ý mà có.
Hai người hoàn toàn có giấc mơ độc lập.
Về sau mọi người nhắc lại chuyện này, đều cho rằng hai giấc mơ có mối liên hệ tiếp nối và bổ sung cho nhau.
Sau khi mất bệnh, cha anh đã tu luyện Đại Pháp một thời gian, nhưng cuối cùng không tu tốt được.
Tầm chấp trước vào việc chữa bệnh không bỏ nổi, nên ông đã từ bỏ tu luyện.
Tuy vậy kết cục và nơi ông sẽ đến thì lại khá rõ ràng.
Hơn nửa em trai anh cũng từng nằm mơ thấy cha dường như đang làm một chiếc quang nhỏ nào đó.
Người thường mà, chẳng phải mục tiêu lớn nhất vẫn là thằng quang phát tài đó sao?
Còn sự ra đi của cha vợ thì lại không có những giấc mơ rõ ràng như vậy,
để ngầm báo cho biết ông sẽ đi về đâu và có kết cục như thế nào.
Tiên lương không dám suy đoán, càng không thể tùy tiện phỏng đoán.
Không phải anh nhất định muốn đoán trước những việc ấy,
mà là nếu có được những sự gợi mở như vậy, chẳng phải sẽ có thể an ủi nỗi đau của mẹ con họ sao?
Đồng thời cũng có thể giúp củng cố thêm niềm tin hữu thần, vốn vật dư thật sự vận chắc của họ.
Hữu thần hay vô thần, toàn nhìn dường như chỉ là những học tuyết suôn,
chẳng liên quan gì đến chuyện cơm áo gạo tiền.
Nhưng thật ra, đó lại là vấn đề lớn liên quan đến đúng sai căn bản,
có thể quyết định nơi quy tức của con người.
Thần là sinh mệnh cao cấp tồn tại khách quan trong vũ trụ, có thể cứu đổ con người.
Nếu con người không tin vào thần, thì thần làm sao cứu đổ được họ?
Vậy nên đó có phải là chuyện nhỏ hay không?
Để khuyên văn tĩnh, Thiên Lương thường xuyên lặp đi lặp lại những lời đã nói từ lâu.
Anh đã nói với em từ lâu rồi mà,
người thần nên nhận chang chỉ là duyên tạm thôi.
Trong vật giáo vật giảng như vậy,
cha mẹ thật sự của em ở trên trời,
tầng khác tầng khác mong em trở về.
Vậy mà em lại mê lạc ở chỗ này, quên mất ngôi nhà thật sự của mình.
Đúng vậy, kể từ khi bước vào tu luyện,
anh đã không ít lần nửa đùa nửa thật nói với cô những lời như thế.
Anh cũng thường xuyên đưa cho cô đọc các bài viết về luân hồi chuyển thế,
cũng như những nghiên cứu tiên phong của các học giả trong và ngoài nước
về liệu pháp thôi miên và các trường hợp đầu thai chuyển kiếp.
Nhờ vậy tư tưởng bồ thần vốn rất cố chấp của cô,
dần dần cũng được khai mở đôi chút.
Đối với sinh tử luân hồi, cô bắt đầu nửa tin nửa ngờ.
Nếu những đồng nghiệp mà cô tiếp xúc có người cổ suy những điều này,
thì cô sẽ tin có thần và quỷ.
Còn nếu những người xung quanh chế diễu những điều ấy,
thì cô lại cho rằng thần và quỷ chỉ là sản phẩm tưởng tượng của con người.
Sau nhiều năm được hung đúc như vậy,
cô đã tiến từ một người hoàn toàn vô thần đến trạng thái như hiện nay.
Đối với bó toán và bác tự,
tuy chưa hoàn toàn tin,
nhưng văn tĩnh cũng đã có phần kiên nhẹ và coi như tham khảo.
Đặc biệt là trong khoảng thời gian trước và sau khi cha cô qua đời,
một số chuyện kỳ lạ xảy ra,
cũng khiến cô dần dần từ bỏ giả thuyết vô thần.
Thế nhưng mẹ và các chị của cô thì thư tưởng vô thần vẫn còn khá nặng.
Mặc dù quan niệm hữu thần đang từng bước được mở rộng,
nhưng tiến triển vẫn chậm và cũng chưa thật sự vương chắc.
Vì vậy thiên lương luôn tìm cách củng cố niềm tin hữu thần của họ.
Tuy nhiên cách trở núi sông,
việc trao đổi cũng bị hạn chế bởi điều kiện khách quen.
Nên chỉ có thể từ từ mà làm.
Làm được đến đâu thì hay đến đó.
Dù sao thì mẹ của văn tỉnh cũng đã thoái khỏi đảng rồi.
Còn chuyện đua về phục hồi chế độ cũ thì phải kể từ đầu.
Chỉ là toàn những chuyện cụ rít như hạt mè hạt kê,
kể ra thì nhiều lắm.
Nên chỉ chọn những điều đáng nói, thông thả kể vài chuyện vậy.
Cũng như rất nhiều người Trung Quốc tại lục,
thiên lương sinh ra trong một gia đình tin vào thần,
nhưng lại lớn lên dưới nền giáo dục vô thần của tà đảng.
Vì vậy đến khi bước vào đời,
trong đầu anh hầu như chỉ đầy rảy những học thuyết tà ác của chủ nghĩa Mark Lennon.
Hồi còn đi xem Mark,
anh còn thào thào bất tuyệt với văn tỉnh về học thuyết đấu tranh tà ác ấy.
Lời lẽ hùng hồn, đầy vẻ tự tin,
nhưng ánh mắt nhất định là lạnh lùng, độc ác và vô tình.
Người tin theo thứ tà thuyết ấy nhất định sẽ mang một vẻ hùng dữ, cứng nhắc.
Thế nhưng từ trước đến nay,
thiên lương luôn rút ra một kết luận về hồn nhân của mình.
Hồn nhân đại sự, tất cả đều do chuyện phận định sẵn.
Bởi vì nếu chiếu theo những tiêu chuẩn lựa chọn bạn đời
mà anh từng hình dung trước đây,
thì văn tỉnh hoàn toàn không đáp ứng được những điều kiện nằm trong khu mẫu ấy.
Nhưng sau lần đầu gặp mặt,
anh lại có một cảm giác mơ hồ rằng
hai người không hề xa lạ, không hề khách sáo, như người một nhà.
Sau đó hai người cứ thuận theo tự nhiên mà đến với nhau,
không hề có quá trình kén chọn,
cũng chẳng có cơ hội để so sánh, cân nhắc.
Việc trong sâu thẳm ý thức thừa nhận tác dụng của duyên phận
cũng không thể lập tức làm thay đổi thế giới quan vô thần của anh.
Còn văn tỉnh thì sinh ra trong một gia đình hoàn toàn vô thần,
lại lớn lên dưới nền giáo dục vô thần.
Cô luôn giữ quan niệm mắt thấy mới tin,
mê tính vào khoa học hiện đại.
Nhưng thật ra theo chính hồi ước của cô,
nền tảng từ thổi nhỏ của cô lại vô cùng tốt.
Theo cách nhìn của giới tu luyện, chính là đã khai mở thiên mục.
Lúc khoảng 5-6 tuổi, mỗi buổi tối tắt đèn đi ngủ,
cô thường nhìn thấy trong bức tranh liên hoang dán trên tường nhà mình,
một ông lão dẫn theo một bé gái bước ra khỏi bức tranh.
Cô sợ đến mức là lớn.
Mẹ cô liên nói mau gỡ bức tranh đó xuống đi,
nhưng cô lại kêu lên.
Gỡ xuống thì phi lắm.
Không chịu đồng ý.
Sau rất nhiều lần như vậy,
cuối cùng bức tranh vẫn bị gỡ xuống,
và từ đó về sau không còn xuất hiện cảnh ông lão bước ra khỏi tranh nữa.
Thời đó có mấy ai hiểu thế nào là thiên mục hay không thiên mục,
đặc biệt trong một gia đình ngập tràn văn hóa tà đẳng.
Ngay cả khi gặp những chuyện kỳ lạ, khó hiểu như vậy,
người ta cũng không hề suy nghĩ sâu hơn.
Chỉ đơn giản kết luận một câu.
Hòa mắt thôi, tự mình tưởng tượng ra đấy.
Với một kết luận võ đoán và nông cạn như thế,
mọi chuyện cũng vì thế mà chìm vào quên lãng.
Cô còn thường kể rằng,
hồi nhỏ mọi thứ xung quanh mà cô nhìn thấy,
đều giống như tiền cảnh.
Bầu trời xanh trong hoàn toàn khác với bầu trời bây giờ.
Bầu trời ở châu Âu không thể sánh bằng.
Bầu trời ở Tây Tạng cũng không bằng.
Tất cả đều đẹp đẻ đến kỳ diệu.
Thế nhưng khi dần lớn lên,
vẻ đẹp tuyệt vời ấy cũng từ từ biến mất,
khiến cô thường xuyên thở dài viết núi.
Cô nói rằng,
đó hoàn toàn là một vẻ đẹp xuất phát từ tâm cảnh của mình.
Thật ra, ngay từ khi quen cô,
tiên lương đã cảm thấy cô là một người rất hiền lành,
chân thật và thuần phát.
Một đứa trẻ như vậy,
nếu có căng cờ tốt hơn một chút,
thì đôi khi mơ hồ cảm nhận được những điều siêu thường,
thậm chí nhìn thấy một số cảnh tượng ở không gian khác,
cũng không phải là chuyện gì huyền hoặc.
Trong xã hội nhân loại,
những ví dụ như vậy không hề hiếm,
chỉ là những tiềm năng ấy chưa từng được nhận thức một cách đúng đắn.
Rồi dần dần, dưới sự bao trùng của khoa học thực chấn,
cùng những định kiến và quan niệm có sẵn,
chúng bị chung vùi mà thôi.
Thế nhưng môi trường gia đình nơi cô lớn lên
thật sự quá tồi tệ.
Theo lời kể, khi mới 5 tuổi,
cô đã có thể thuộc lòng những bài ca tuyên truyền tà ác
như Lão Tam Thiên,
ba bài chính luận của Bao Trạch Đông
từng bị ép học thuộc trong xã hội Trung Quốc thời đó.
Đó là do ngày ngày nghe người lớn đọc thuộc,
nên thấm vào lúc nào không hay.
Chỉ như vậy cũng đủ thấy cô lớn lên
trong một hoàn cảnh gia đình như thế nào.
Trong gia đình ấy,
mọi hiện tượng siêu thường hay thần bí
đều được giải thích bằng những lý lẽ như
chơi khoa học khám phá
hoặc đó chỉ là hiện tượng tự nhiên
hay là tác dụng của tinh thần.
Ngay cả về phong tục dinh dàng cũng vậy,
gia đình cô không đốt vàng mã cúng tổ tiên,
không thờ cúng tổ tiên,
cũng không tính ngưỡng thần linh.
Theo hồi ước của cô,
có một thời gian khi còn nhỏ,
trước mỗi bữa ăn,
cả nhà đều đứng trước chân dùng màu tả
và hát lớn bài Đông Phương Hồng.
Hai người lớn dẫn các con cùng cất tiếng ca,
thanh kính ca tụng một kẻ đứng đầu tà linh
đã gieo hòa cho Trung Hoa.
Một nhóm trẻ vốn có can cơ tốt đẹp,
cứ như thế bị nhẫn tâm ném vào
chiếc thùng nhụm đầy buồn nhơ của tà linh.
Các vị thần trên trời nhìn thấy những tâm hồn
trẻ thơ trong sáng bị hủy hoại
và xâm thực như vậy,
có lẽ cũng không ít lần thở dài và rơi lệ.
Trong một môi trường gia đình như thế,
mỗi khi nhắc đến tính ngưỡng hay thần linh,
thái độ của họ hoàn toàn là kinh thường và chế diễu.
Chắc chắn chưa đợi người khác nói hết câu,
họ đã vội kết luận
mê tính, ngu mụi, vô trây.
Thực ra tình hình của mẹ vợ lại như thế này.
Từ nhỏ gia đình bà có thờ cúng tổ tiên
và cũng tin vào một số tính ngưỡng dân gian,
nhưng không theo các tôn giáo chính thống lớn.
Bà kể rằng mẹ của bà là người tộc Hách Triết.
Theo tính ngưỡng truyền thống của dân tộc này,
dưới chân chùm nước có thờ một người bằng dà cá.
Cứ cách một thời gian,
người ta lại thay dày cho hình nhân dà cá ấy.
Người lớn nói rằng hình nhân dà cá biết đi lại,
bằng đêm lúc con người không nhìn thấy thì nó đi ra ngoài,
đi đến nỗi dày cũng bị mòn hỏng.
Bây giờ bà giải thích rằng
có lẽ vì dưới chân chùm nước ẩm thấp
nên đôi dày của hình nhân dà cá đương nhiên bị mụt đát.
Tuy nhiên lúc ấy bà còn nhỏ,
bà cũng không rõ dày của hình nhân là bị mòn rách vì đi lại
hay bị mụt do ẩm ướt.
Dù là cách giải thích hiện nay
hay lời người lớn kể cho bà khi còn nhỏ
thì kết quả vẫn là phải thường xuyên thay dày cho hình nhân dà cá.
Đúng như tên gọi,
người dà cá là một hình nhân nhỏ được hâu bằng dà cá hôi.
Vì sao phải thơ cúng nó hay nó có tác dụng gì
thì không ai biết rõ.
Anh trai của mẹ vợ rất thông minh.
Khi còn nhỏ trong nhà họ có rất nhiều sách cổ.
Sau khi đọc sách,
ông lại kể cho bà con lối xóm nghe theo lối kể chuyện dân gian.
Vào dịp nông nhàng thường thu hút rất đông người đến nghe kể chuyện.
Có thể thấy rằng mẹ vợ lớn lên trong sự hung đúc của văn hóa thần truyền.
Theo lời bà hồi tưởng,
vào khoảng mười mấy tuổi,
có một lần ban ngày đang ngủ,
bà bỗng cảm thấy mình bay lên.
Bà cứ bay mãi, bay đến một nơi rất xa,
bay với tốc độ rất nhanh,
cảm giác vô cùng đẹp đẻ và dễ chịu.
Mọi thứ đều rõ ràng như thật.
Bỗng nhiên bà nghe thấy có người vừa đánh chiên gõ trống vừa gọi tên mình.
Âm thanh ấy từ xa vòng lại,
mơ hồ lúc ẩn lúc hiện.
Thế là bà lại bay trở về.
Khi tỉnh dậy,
bà thấy xung quanh mình còn có rất nhiều người đứng bay quanh,
ai nấy đều vừa hoảng sợ vừa mừng rỡ.
Mọi người nói nguy hiểm quá,
suýt nữa thì cô chết rồi.
Thì ra khi bà ngủ,
người ta phát hiện thân thể bà mềm nhũng như sắp chết,
gần như không còn hồ hấp và mạch đập nữa.
Vì thế mọi người vừa lớn tiếng gọi,
vừa mang chậu đến gõ vang,
cố gọi hồn bà trở về.
Kết quả là không phụ sự kỳ vọng của mọi người,
bà quả nhiên đã sống lại.
Thậm chí bà còn từng tận mắt chứng kiến
nghị thức cầu mưa của người dân.
Trên con đường dẫn đến miếu Long Vương,
rất đông người chậm rãi nối bước,
thanh kính hướng lên trời cầu mưa.
Miệng ai nấy đều lẩm nhẩm đọc lời cầu nguyện.
Trước miếu,
các hòa thượng thắp hương tụng kinh và cầu khấn,
hai bên đường người dân cầm những chậu nước,
vậy nước lên những người đang đi.
Đó là một hoạt động mà rất nhiều người tự nguyện tham gia.
Sau những lời cầu nguyện thanh tâm của mọi người,
cuối cùng trời đã đổ mưa.
Cơn mưa còn khá lớn,
thấm đẫm những cánh đồng đã chịu hạng hãng suốt một thời gian dài.
Sau đó có người nói là Long Vương đã gián mưa,
cũng có người cho rằng hạng hãng kéo dài đã đến lúc phải mưa.
Việc cầu nguyện chỉ là trùng hợp mà thôi.
Lại có người phân tích rằng,
nước mà người dân hát bên đường đã đóng vai trò như một yếu tố làm mồi dẫn,
nên mới khiến trời đổ mưa.
Thế nhưng những người tin rằng cơn mưa là do Long Vương ban xuống vẫn chiếm đại đa số.
Chỉ là về sau.
Sau khi tà đảng giành được chính quyền,
mẹ vợ chịu sự nhồi nhét tư tưởng,
lại làm việc trong cơ quan văn hóa của chính quyền tà đảng.
Vì thế bà hoàn toàn từ bỏ nhận thức về văn hóa thần truyền,
thay vào đó là tiếp nhận học thuyết đấu tranh của tà đảng.
Mẹ vợ rất thông minh,
cũng rất giỏi vận dụng các thủ đoàn đấu tranh.
Cái đời bà hầu như không chịu thiệt thòi,
nhưng cũng không làm hại đồng nghiệp.
Điều bà thường tự hào kể lại là cách mình đã khéo léo ứng phó,
xoay rỡ trong những cuộc đấu đá chính trị đầy tà ác ấy.
Trong rất nhiều phong trào do đảng tà ác phát động,
có một lần họ buộc một số phụ nữ rời khỏi vị trí công tác để trở về lo việc gia đình.
Thực chất là biến họ thành những bà nội trợ toàn thời gian.
Ngay cả trong những thời điểm đầy sóng gió và nguy hiểm như vậy,
mẹ vợ vẫn bình yên vô sự, không hề bị ảnh hưởng.
Thế nhưng dưới sự ảnh hưởng của học thuyết đấu tranh tà ác,
bà cũng mang tư tưởng đấu tranh ấy vào trong gia đình.
Vì thế suốt cả cuộc đời, bà thường xuyên cãi vã, xung đột với chồng.
Thực ra trong gia đình của văn tỉnh,
ngoài bản tính thiện lương vốn có của con người ra,
họ không coi trọng những đức tính như ôn hòa, kim nhường, cung kính, tiết kiệm và nhìn nhịn.
Họ cho rằng đó là đạo của khổng mạnh, là thứ cần phải lên án và bài trừ.
Đường diện trong phong trào phá tứ cựu,
cả cha vợ lẫn mẹ vợ đều thuộc vào hàng những người xung phong đi đâu,
là những người cách mạng hết sức trịt để.
Trong nhà còn cất giữ rất nhiều huy hiệu mao tả.
Thậm chí anh trai cả của mẹ vợ còn kể rằng,
mấy năm trước khi dọn một chiếc tủ cũ,
dưới đáy tủ vẫn còn tìm thấy chiếc băng tay của hồng vệ binh.
Đến bây giờ mới hiểu,
nhiều năm trước thiên lương đã cảm thấy gia đình ấy có một bầu không khí rất đặc biệt,
đó là thói quen bới lòng tìm vết.
Họ luôn dùng thái độ phê phản, chỉ trích để nhìn nhận mọi việc.
Ở trong một gia đình như vậy, người ta luôn cảm thấy căng thẳng, khó chịu.
Vì sao lại như thế?
Chính là do bị văn hóa ta đảng đầu độc quá sâu,
học thuyết đấu tranh và tinh thần phê phản đã vô thức thấm vào mọi mặt.
Họ không dễ tâm phục khẩu phục trước bất kỳ ai,
cũng không chấp nhận bất cứ điều gì mà không đem ra biện chứng một phen,
rồi dùng lý luận của ta đảng để đánh giá.
Cái mà họ gọi là dương khí, tức là giữ lại những gì họ cho là đúng,
còn những gì không thích thì gạt bỏ.
Gia đình họ không chỉ lưu giữ rất nhiều hiện vật của ta đảng,
mà còn cất cả một bộ sách hoàn chỉnh về chủ nghĩa Mark Lenin,
gồm hơn vài chục tập.
Có năm thiên lương đến nhà mẹ vợ,
còn mang về cả một chồng lớn sách Mark Lenin ấy.
Khi đó, anh đói muốn nghiên cứu kỹ để tìm con đường cứu dân tộc Trung Hoa.
Thậm chí thiên lương còn bàn với cha vợ rằng,
sau này hai người sẽ cùng viết sách,
viết các bài luận về học thuyết Mark Lenin trong Việc trị quốc,
nhằm chứng minh rằng ta đảng là lựa chọn duy nhất để cứu dân tộc.
Một người ngay từ khi sinh ra đã bị ta linh mê hoặc,
thì chính là như vậy.
Họ hoàn toàn không thể tự mình thoát ra khỏi sự trói buộc ấy
để nhận rõ bản chất tà ác của nó.
Quý khán thính giả thân mến!
Ba chương đầu của hồi huy khép lại bằng những ký ức gia đình tưởng chừng bình dị,
nhưng phía sau lại là những câu hỏi mà con người luôn trăng trở.
Sau khi rời khỏi thế gian, sĩ đi về đâu?
Và sự gặp gỡ giữa người với người trong đời chỉ là ngẫu nhiên?
Khi lắng nghe câu chuyện về cha của Văn Tĩnh,
về những ký ức tuổi thơ và những niềm tin dần bị lãng quên theo năm tháng,
mỗi chúng ta ít nhiều nhớ đến những người thân đã từng bước qua cuộc đời mình.
Có những câu hỏi tưởng chừng như đã ngủ yên từ lâu,
nhưng đôi khi lại bất chợt hiện lên trong những khoảnh khắc lặng lòng nhất.
Ở phần tiếp theo, câu chuyện không dừng lại ở những hồi ức của gia đình Văn Tĩnh.
Những khác biệt trong nhận thức, niềm tin và lựa chọn của mỗi người
trước những biến động của thời cuộc sẽ dần hiện rõ,
và hành trình của Thiên Lương bắt đầu bước sang một giai đoạn hoàn toàn mới.
Cảm ơn quý vị đã đồng hành cùng đêm nay nghe dì.
Hẹn gặp lại quý vị trong phần tiếp theo của Tiểu thuyết Hồi Huy.