Bí Ẩn Những Chiếc Đèn Cháy Suốt 1000 Năm, Khoa Học Ngày Nay Vẫn Chưa Thể Giải Thích | Duyên Vạn Cổ

Duyên Vạn Cổ
2.1K người theo dõi
546 Lượt xem video·18 thg 5, 2023
Bí Ẩn Những Chiếc Đèn Cháy Suốt 1000 Năm, Khoa Học Ngày Nay Vẫn Chưa Thể Giải Thích | Duyên Vạn Cổ
Xin kính chào Quý khán giả của Kênh Duyên Vạn Cổ. Chúng tôi mong muốn mang đến cho mọi người những video với nội dung về Văn hóa Truyền thống, Đạo Đức, Nhân Quả, Hướng Thiện. Giúp cuộc sống của xã ngày một an lành và tốt đẹp hơn.
Tôn chỉ của Kênh là Truyền thống - Sự thật - Lương tri. Hy vọng mọi người có được những thông tin bổ ích, quý báu cho cuộc sống nhân sinh này.
Chúc mọi điều bình an đến với mọi người!
Đèn dầu cháy suốt một ngàn năm, bí ẩn công nghệ người xưa.
Trên đỉnh Thiên Trụ ở núi Võ Đan, hồ Bắc Trung Quốc, có một ngôi điện vàng.
Trong nội điện thợ phụng tượng Chân Vũ Đại Đế.
Đặt trước tượng là một chén nhỏ, thắp một ngọn đèn không mờ, không tỏ, không lay lác, rung động.
Bất kể bên ngoài là ánh nắng chói chan hay cuồng phong giông bão,
ngọn đèn vẫn luôn thủy chung, tỉnh lặng và bình an.
Như thế nó đã đạt đến cảnh giới siêu xuất, bất dĩ vật thủy, bất dĩ kỹ bi.
Đây là một trong tứ đại thần tích của núi Võ Đan.
Từ thời vĩnh lạc Triều Minh đến nay, 600 năm đã qua đi, ngọn đèn trường cứu này vẫn sáng mãi, chưa bao giờ tắt.
Nhìn qua thì nó trông giống như một ngọn đèn dầu phổ thông, với một chén dầu nhỏ bé, ước tính chỉ có thể bảo trì ngọn lửa trong một ngày.
Nhưng nó đã cháy sáng liên tục trong suốt 600 năm.
Làm sao có thể như vậy chứ?
Bí mật ngọn trường Minh Đăng trên núi Võ Đan
Chúng ta hãy quay về với Triều Minh.
Minh Triệu coi trọng và tuôn sùng đạo giáo, và coi Hoàng đế Chân Vũ là vị thần bảo quốc.
Chân Vũ Đại Đế là vị Hoàng đế đầu tiên từng tu luyện đắc đạo trên núi Võ Đan.
Sau khi đã một mình độc tu hơn 40 năm, có một hôm, vì một quan nhỏ chưa vượt qua được, mà ông nhất thời náng chí đi xuống núi.
Trên đường xuống núi, ông gặp một bà lão, bà đang mài một cây sắt thành kim.
Điểm hóa cho ông ngộ ra rằng, chỉ cần công phu thâm sâu, một cây sắt lớn cũng có thể mài thành kim.
Chân Vũ Đại Đế là người có căn cơ tốt.
Lập tức lĩnh hội, bạn quay lại tiếp tục tu luyện, cuối cùng tu thành chính quả.
Giờ đây, Giếng Mài Kim vẫn là một điểm thăm quan danh tiếng trên núi Võ Đan.
Nói về chính câu chuyện này, nếu các bạn có dịp đến thăm, hãy chụp ảnh lưu kỷ niệm, dùng năng lượng thuần chính để cổ vũ kích lệ chính mình nhé!
Nhiều quần thế cung điện bàn đại trên núi Võ Đan mà chúng ta đang thấy hiện nay,
rất nhiều đều được kiến lập bởi Minh Thành Tổ Chu Lệ và chúng được kiến tạo chiều theo quy cách của Hoàng Cung.
Với quy cách cao cấp như vậy, đương nhiên nhiều kỳ trân dị bão đã được trang bị cho nơi đây.
Kim Điện Trường Minh Đăng Chính là một trong số đó.
Tương truyện trên đỉnh của nó có một viên ngọc định phong để đảm bảo cho ngọn đèn trường cử luôn sáng.
Vào Triều Minh, câu chuyện đẩy sắt mải kim đã được lưu truyền rộng rãi,
vì vậy ngọn đèn trường cử trước bức tượng chân vũ này,
chính là để cổ vũ kích lệ những người tu luyện,
với ý nghĩa nhất tu đáo đẻ bất trung đồ phóng,
nhất tâm tu thế cùng không bỏ cuộc dưới chân,
giữ cái tâm luôn sáng như ngọn đèn trường cử.
Và mặc dù ngọn trường Minh Đăng này rất hiếm có,
nhưng nó không chỉ được tìm thấy trên núi Võ Đăng.
Vào năm 1956, trong quá trình khai cuộc lang mộ của Hoàng đế Vạn Lịch Trường Minh,
các chuyên gia khảo cổ cũng đã phát hiện ra một ngọn đèn trường cử
được đặt trong một thùng lớn bằng sứ màu xanh ngọc.
Dầu đèn được dùng là sáp ôn.
Người ta nói rằng khi các chuyên gia vào lang mộ,
chiếc đèn vẫn sáng.
Và tính ra, nó đã thắp sáng hơn 400 năm.
Trường Minh Đăng, trong một ngôi đền Ai Cập cổ.
Hiện tượng đèn sáng trường cử này không chỉ có ở Trung Quốc,
mà còn xuất hiện ở nhiều nơi trên thế giới.
Ở Ai Cập cổ đại, có một ngôi đền tên là Les Or,
hay đền mặt trời, được xây dựng từ thế kỷ thứ 14 trước công nguyên,
đến nay đã hơn 3.400 năm.
Theo ghi chép lịch sử ở Ai Cập,
có một ngọn đèn vĩnh cửu trên đỉnh chính muôn của đền
biểu thị cho tin nắng mặt trời vô tận và không bao giờ tắt.
Đây cũng là ngọn lửa thánh trong tâm thức của người Ai Cập cổ đại.
Ghi chép này nói rằng ngọn trường Minh Đăng được đặt trong thủy tinh pha lê.
Mỗi khi màn đêm buông xuống, ngọn đèn trở nên càng phát sáng
và ánh sáng có thể được nhìn thấy từ cách xa hàng trăm dặm.
Điều thêm chốt nhất là ngọn trường Minh Đăng này không cần tra thêm nhiên liệu
và nó sẽ không tắt ngay cả trong cuồng phong bão tố,
giống như ánh sáng vô tận của thần mặt trời chiếu xuống Ai Cập cổ đại.
Nhưng đáng tiếc là ngôi đền ngày nay chỉ còn những bức tường đổ nát,
chính muôn không còn.
Ngọn trường Minh Đăng từ lâu soi sáng đã biệt vô tâm tích.
Vào năm 527 sau Công Nguyên, một số binh lính của đế chế Đông La Mã
được lệnh đống quân trên một con đèo ở Syrah.
Một ngày nọ, họ phát hiện một ngọn đèn sáng trong một ngách của con đèo.
Ngọn đèn được che bởi một cái chảo tinh xảo,
có vẻ như được dùng làm kính trắng gió.
Từ những ký tự được khắc trên đó,
ngọn đèn này được thắp sáng vào năm 27 sau Công Nguyên
và cho đến khi được những người lính phát hiện xa,
nó đã liên tục cháy sáng được 500 năm.
Vào năm 1540 sau Công Nguyên,
Giáo hoàng Paul III đã phát hiện một ngọn đèn đang thắp sáng
trong một ngôi mộ cổ ở Rome.
Nằm trong ngôi mộ được cho là con gái của chính khách La Mã cổ đại, Cicero,
người đã chết vào năm 44 trước Công Nguyên.
Nói cách khác, tính đến thời điểm được phát hiện,
ngọn đèn đã được thắp sáng trong phần mộ đóng cánh này,
rộng rã suốt 1.584 năm.
Đã có rất nhiều câu hỏi được đặt xa
về việc những ngọn đèn này có thể cháy sáng nghìn năm không tắt,
đặc biệt là khi phần mộ không được cung cấp đủ dưỡng khí,
thì càng khó tin hơn.
Làm sao đèn có thể cháy được hàng trăm, hàng nghìn năm?
Nhưng những ngọn đèn này thực sự tồn tại, điều này thật kỳ lạ.
Thuyết đèn tạm ứng đã được mọi người đưa xa
với hy vọng giải mã được phần nào về những ngọn đèn trường cũ này.
Theo quan điểm khoa học, một số người cho rằng
đèn luôn sáng trong các ngôi mộ cổ thực ra không phải lúc nào cũng sáng,
chúng chỉ giống như đèn tạm ứng trước nhà và sau nhà của họ.
Khi có người đến gần thì sẽ sáng,
vì vậy khiến cho người ta cảm giác như nó luôn sáng ở đó.
Điều đó được thực hiện như thế nào?
Khởi tác dụng than chốt, nhất là phút pho trắng.
Đèn phải tắt sau khi oxy trong ngôi mộ kính gió cạn thiệt
và nó sẽ không tồn tại được lâu.
Tuy nhiên, đèn có thể chứa phút pho trắng.
Phút pho trắng có điểm bắt lửa rất thấp
và sẽ tự bốc cháy khi có oxy ở nhiệt độ phòng.
Lửa ma trời mà mọi người nhìn thấy trong tự nhiên
thường là do quá trình đốt cháy tự phát của phút pho trắng.
Khi ai đó mở cửa lăn mộ và đưa không khí trong làng ngào,
chất lân sinh trắng sẽ tự bốc cháy và thấp đèn sáng trở lại nhờ có oxy.
Giải thích về đèn tạm ứng này có vẻ khá ổn,
nhưng có một vấn đề lớn ở đây là phút pho trắng rất bất ổn.
Thời gian sẽ chuyển biến dần thành phút pho đỏ ổn định.
Phút pho đỏ cũng giống như cục diêm sinh gắn trên đầu que diêm.
Nó chỉ bắt lửa khi có ma sắc mạnh.
Điểm bắt lửa là 250 độ C,
vì vậy nó sẽ không tự bốc cháy ở nhiệt độ phòng.
Chúng ta chưa bao giờ nghe nói về một hộp diêm có thể tự phát cháy phải không?
Vì vậy, ngay cả khi đèn chứa phút pho trắng lúc đầu,
nó không có cách nào trở thành đèn cảm ứng.
Những ngọn đèn này phá trăng đã dùng mỡ của người cá trong truyền thuyết.
Trong sử ký Tần Thủy Hoàng bản kỹ,
có một mô tả về ngọn đèn vĩnh cữu trong địa cung của Tần Thủy Hoàng.
Sách viết,
Dĩ nhân cao vi trúc, độ bất diệt giả cữu chi.
Nghĩ là trong làng mộ Tần Thủy Hoàng có một ngọn đèn trường cữu,
được chế tạo bằng mỡ của nhân ngư người cá.
Người ta nói rằng loại mỡ này có điểm bắt lửa rất thấp,
chỉ một giọt có thể cháy trong vài tháng.
Điểm bắt lửa thấp đồng nghĩa với việc tiêu thụ ít oxy hơn.
Nhưng không gian trong làng mộ của Hoàng đế rất rộng,
không thể có một ngọn đèn như vậy có thể cháy trong 1.000 hoặc 800 năm.
Mặc dù người cá giao nhân nhân ngư chỉ là truyền thuyết mỹ nhân đối với chúng ta,
nhưng qua thái độ ghi chép nghiêm cứng của Thái sự công tư Mã Thiên,
không thể tùy tiện hạ bút viết nếu không có chứng cứ thật như đinh đống cuộc.
Có thể thời cổ xác thực đã có người cá sinh sống.
Liệu ngọn trường bình đăng trên núi Võ Đăng có sử dụng loại mỡ này không?
Có những người đã tìm thấy câu trả lời vào thời kỳ Đức Phật Thích Ca đang truyền Pháp.
Vào thời kỳ Đức Phật Thích Ca đang truyền Pháp,
có một người phụ nữ nghèo tên Nanya ở bàn Savatava kiếm sống bằng nghề khớp thực.
Nanya thấy mọi người đều đang dùng đèn dân lên Đức Phật.
Trong tâm bà cũng khao khát làm điều đó.
Sau khi đi tứ xứ An Sinh ngày hôm đó,
bà kiếm được một xu liền đi mua dầu đèn để dân lên Đức Phật.
Một xu tiền chỉ mua được một ít dầu.
Người bán dầu cảm thấy bà thành tâm với Phật,
nên đã cho bà một lượng dầu gấp đôi để thắp đèn.
Nanya vui mừng đặt ngọn đèn dầu trước mặt Đức Phật,
trong tâm phát nguyện rằng
Đời này tôi nghèo khổ, chỉ có thể dùng ngọn đèn nhỏ này để cuốn dường Đức Phật.
Nguyện rằng với công đức chân thành này,
hy vọng rằng kiếp sau sẽ có Đại Trí Huệ
Nanya nói xong, liền bái chào Đức Phật và rời đi.
Sáng hôm sau, khi thu thập đèn,
Tôn Giá Mục Kiền Liên, đệ tử của Đức Phật Thích Ca,
thấy các đèn khác đều tắt hết,
chỉ còn một ngọn đèn vẫn sáng.
Nhưng dù đèn không hề giảm thiểu,
bức đèn giống như mới nguyên.
Mục Kiền Liên dùng cách gì cũng không thể dập tắt ngọn đèn.
Đức Phật Thích Ca nói với ông,
ngọn đèn dù này không phải là thứ mà ngươi có thể dập tắt được,
bởi vì người cuốn dường ngọn đèn này có nguyện lực phi thường bàn đại.
Ngươi dù có dùng nước bốn biển cũng không thể dập tắt được,
đại phong trên núi cũng không thổi tắt được nó.
Phải cho người xưa thành tâm lễ Phật,
với tung kính thần linh thuần khiết,
thắp một ngọn đèn sáng trước mặt Đức Phật,
trong tâm hứa một chân nguyên, tâm và đèn tương liên.
Tâm ý thành khẩn, ngọn đèn sẽ sáng trường cữu.
Thông qua câu chuyện ngọn trường Minh Đăng trên núi Võ Đăng,
chúng tôi cũng mong rằng,
trong trái tim mỗi người đều có tâm hướng thiện,
giống như ngọn đèn trường cữu này,
mãi mãi soi sáng trong tâm,
soi sáng cho bản thân,
và cũng soi sáng cho mọi người.
