Vào khoảng 560 năm trước công nguyên. Tín ngưỡng của người Hy Lạp đang ở trong thời kỳ phồn thịnh. người dân tin rằng con người và các vị thần có mối liên hệ chặt chẽ. Sự tồn tại của các vị thần ảnh hưởng đến đời sống của họ. Cuộc sống trầm ngâm hay thăng hoa của con người là do sự chiếu cố của các vị thần. Rhonbos trông như một người đàn ông trưởng thành và có địa vị trong xã hội. Bức tượng miêu tả chân trái của anh ta tiến về trước. Cũng giống như những bức tượng Kouros mà kỳ trước chúng ta thấy. Như vậy là người Hy Lạp trong gần 100 năm sau những Kouros vẫn tuân thủ những quy tắc chuyển động này. Anh ta trông như một người đàn ông trưởng thành vì có bộ râu rậm. Người thanh niên Kouros thì không có râu vì họ còn trẻ. Và bức tượng của Rhonbos còn khoác một chiếc áo choàng mỏng. Ở Athen vào thời cổ vương quốc Hy Lạp không ai mặc như thế này. Phải biết người Hy Lạp tôn thờ cấu trúc hình thể con người. Vì những cơ bắp tượng trưng cho sức mạnh và quyền lực. Do đó những bức tượng điêu khắc khoả thân là một khía cạnh tất yếu của nghệ thuật Hy Lạp và các quy ước của họ vào thời kỳ đó. Rhonbos là một người có quyền lực và địa vị cao trong xã hội. Ông muốn bức tượng của mình phải khác biệt so với những bức tượng khác. Và đặc biệt là phải thể hiện được địa vị của mình. Do đó mà phải có gì đó khác biệt và mang tính biểu tượng. Nếu như những bức tượng khác đều khoả thân vậy tại sao chúng ta cho bức tượng này mặc trang phục đi. Không được, mặc trang phục sẽ che đi những cơ bắp và nét đẹp của bức tượng. Thế thì chỉ cần mặc một chiếc áo choàng mỏng vừa tạo sự khác biệt vừa thể hiện được nét đẹp cơ thể. Thế thì được. Vậy nên người ta mới thấy Rhonbos mặc một áo choàng mỏng. Như vậy chứng tỏ một điều Rhonbos, người mặc áo choàng này là một người có địa vị cao trong xã hội lúc bấy giờ, một người đáng kính. Phải biết mặc một bộ trang phục không phải là một thứ gì đó ghê gớm. Tuy nhiên trong hoàn cảnh này, nó đánh dấu một sự khác biệt của Rhonbos so với những Kouros. Và sự khác biệt đó chính là địa vị. Quả thực không phải ai cũng đủ giàu có và quyền lực để có thể tạc một bức tượng cho mình. Mà lại còn là một bức tượng dâng cho các thần linh. Nếu xem ở những khu vực khác, thì hẳn người nào mà muốn tạc tượng cho chính họ thì sẽ bị xem là ra vẻ, và quá yêu bản thân hoặc chỉ có những người cai trị mới làm như vậy.
Ở kỳ trước, chúng ta đã có dịp kể về những bức tượng của Kurosh.
Những bức tượng đó xuất hiện vào thời kỳ cổ vương quốc Hy Lạp.
Có thể nói, qua tìm hiểu, chúng ta biết được mục đích mà những bức tượng đó được tạo ra
là để phục vụ cho những nghi thức tan lễ.
Nhưng còn những nghi thức thần thánh thì sao?
Phải biết, đời sống tâm linh của người Hy Lạp là vô cùng đau sắc.
Những câu chuyện trong thần thoại Hy Lạp
phần nào hao hao giống những câu chuyện của con người ở trong hiện thật giới.
Vào khoảng năm 480 trước công nguyên,
về thành Asen sau bao nhiêu năm tháng được bảo hộ bởi thần Asenor.
Nay, phải chịu đợt tấn công thứ hai của người Ba Tư.
Quân đội Ba Tư lúc bấy giờ tự sưng là quân đội mạnh nhất trên đại lục.
Có khi họ còn tự sưng là quân đội mạnh nhất hành tinh.
Với nguồn lực dồi dẹo,
các vị vua Ba Tư đã trang bị vũ khí và giáp trụ hoành tráng cho chiến binh.
Kết hợp cùng bản tính hiếu chiến,
phải nói là không có quốc gia nào trên thế giới
mà không sợ trước sự xâm lược của đế quốc Ba Tư.
Có một khoảng thời gian,
các chư hầu từ khắp nơi trên thế giới
tề tụ về Posepolis để tiếp kiến nhà vua Ba Tư.
Thành Asen nằm trong số những mục tiêu xâm lược của người Ba Tư.
Tuy mệnh danh là vệ thành công khó dễ phòng
nhờ địa hình ở trên cao,
nên đây là thành trì khó công phá bật nhất.
Nhưng trước sự tấn công vô cùng khủng khiếp và nguy hiệp
thì Asen đã bị thất thủ.
Xerxes I dẫn theo đoàn quân đứng trước chân đồi vệ thành Asen.
Một vị tướng lĩnh hét to,
binh lính đồng loạt hô ứng theo tiếng hiệu triệu.
Từng đoàn quân tiến công mạnh mẽ,
binh lính Hy Lạp đứng từ tượng thành của Asen,
dương cung chỉa thẳng về phía đoàn quân Ba Tư.
Từng đợt cung thủ thay phiên nhau xả tên.
Nhưng sức tấn công của Ba Tư quá mạnh liệt,
ký thế cao ngút trời.
Nhiều mũi tên bắn ra thậm chí còn không có nhắm trước,
kẻ thù đông đến nổi.
Kiến cho thứ cần làm bây giờ
là làm sao để bắn nhiều mũi tên nhất có thể.
Khi quân Ba Tư tiến tới gần hơn,
cổng thành Asen mở ra,
đoàn quân của Hy Lạp xuất thành nghen chiến.
Từng nhóm người song ra tiến vào lòng quân Ba Tư.
Người Hy Lạp thích tu luyện thể chất,
nên những chiến binh của họ là vô cùng mạnh mẽ.
Tuy nhiên,
Ba Tư lúc bấy giờ là một đế quốc.
Củ cải của họ có được
đa số là do cướp bóp từ chiến tranh.
Quân lực dồi dào và binh lính thiện chiến,
quân Ba Tư đã trải qua nhiều trận chiến sống chết
chỉ trong một cái chấp mắt.
Cho nên,
kinh nghiệm chiến đấu của họ
khá dễ gì quân Hy Lạp có thể so sánh được.
Tinh thần không gục ngã,
khiến cho quân Ba Tư máu sôi sùng sụp lao lên quân Hy Lạp.
Thật ra họ cũng không muốn đánh dấp lá cà với kẻ thù.
Có chăng là binh lính lao ra
để làm giảm những đợt tấn công như vũ bão của quân Ba Tư.
Trên thành,
thì cứ xả cung tên xuống tiêu hao lực lượng của kẻ thù.
Phía dưới cổng thành,
bộ binh Hy Lạp đứng thành một hàng ngang
tạo thành phòng tuyến.
Tương tự,
nhiều người đứng tạo thành những lớp phòng tuyến.
Về mặt chiến lược,
chiến thuật thì tốt.
Nhưng thực tế
thì sức càng quét của người Ba Tư là quá khủng khiếp.
Quân Hy Lạp như bờ đê ngoài biển
ngăn chặn những con sóng lớn.
Nhưng chiến lực của Ba Tư quá mạnh mẽ.
Họ không phải là những con sóng thông thường,
mà họ chính là sóng thầm.
Từng con sóng người liên hoàn sô vào những phòng tuyến.
Chẳng mấy chốc,
các phòng tuyến đã bị đổ vỡ,
cung thủ trên thành,
chưa kịp triệt tiêu lực lượng,
thì bộ binh đã chạy toán loạn.
Binh lính Hy Lạp
tháo chạy vào thành trước sự truy sát của kẻ thù,
quá mạnh mẽ và quá nguy hiểm.
Đó chính là địa chế Ba Tư.
Tin tức mau chóng truyền tới tai
của các quý tộc và hoàng thất Hy Lạp.
Phần lớn người dân Athens
đã tháo chạy khỏi thành phố
để tránh sự truy giết của người Ba Tư.
Hy Lạp xem người Ba Tư
là tài ác, là bọn mang rỡ.
Họ
đã cướp phá và đốt cháy hầu hết các ngôi đền của Hy Lạp.
Đó là trong thời kỳ cổ vương quốc Hy Lạp
mà chúng ta hay nhắc tới.
Trước khi rời đi,
để tránh những món đồ thiên liên bị xúc phạm,
họ đã chôn các chúng
và bảo quản một cách trang trọng.
Sau này,
người Athens đã xây dựng lại các ngôi đền
và họ cũng điêu khác những bức tượng mới.
Nhưng với họ,
những gì của quá khứ vẫn còn một giá trị vĩnh cũ.
Năm 863,
một đoàn những người khám phá đã quay trở lại nơi đây.
Một trong những tác phẩm cực kỳ nổi tiếng trên thế giới được tìm thấy
chính là bức tượng Marshal Forest,
hay còn được gọi là Người Khiên Công Bê.
Được tìm thấy trong tàn tích của Acropolis
thuộc vệ thành Earthen.
Các nhà khám phá,
họ dùng những cây cọ với bụi trên chân của bức tượng
do thời gian và các bụi phủ quá nhiều.
Và họ cũng không muốn bức tượng
bị sứt mẻ thêm nữa
cho dù là một bế trầy sứt.
Nên cũng tốn khá nhiều thời gian
để phủi đi các vết bụi dính trên đó.
Sau khi hoàn tất,
trên chân đế của bức tượng
có một dòng chữ hiện ra
Ta là Rhombus, con của người.
Thính dân lễ vật này cho thần Athena
khi thấy dòng chữ này.
Ý nghĩa của bức tượng thì khá rõ ràng.
Quan sát thêm một tí,
phía trên phần đế là một người đàn ông
trên vai vác một con bê.
Con bê tượng trưng cho lễ vật hiến tế
mà anh ta muốn dân cho vị nữ thần Athena
trở về quá khứ vào năm 560 trước công nguyên.
Tính ngưỡng của người Hy Lạp
đang ở trong thời kỳ Phộng Thịnh.
Người dân tin rằng
con người và các vị thần
có mối quan hệ rất chặt chẽ.
Sự tồn tại của các vị thần
ảnh hưởng đến đời sống của họ.
Cuộc sống trầm ngâm hay thăng hoa của con người
đã do sự chiếu cố của các vị thần.
Rhombus trông như một người đàn ông trưởng thành.
Và có địa vị trong xã hội.
Bức tượng miêu tả chân trái của anh ta tiến về trước
cũng giống như những bức tượng của Kouros
mà chúng ta thấy trước kia.
Như vậy, là người Hy Lạp
trong gần 100 năm sau những bức tượng Kouros
vẫn tuân thủ những quy tắc về chuyển động như thế này.
Anh ta trông như một người đàn ông trưởng thành
vì có một bộ râu rộng.
Người thanh niên Kouros thì không có râu
vì họ còn trẻ.
Và bức tượng Rhombus
còn khoác một chiếc áo troèn mỏng.
Ở Earthen, vào thời kỳ cổ vương quốc Hy Lạp,
không ai ăn mặc như thế này.
Phải biết,
người Hy Lạp tôn thờ cấu trúc hình thể của con người
vì những cơ bắp tượng trưng cho sức mạnh và quyền lực.
Do đó, những bức tượng điêu khắc khỏa thân
là một khía cạnh tất yếu của nghệ thuật Hy Lạp.
Và nó phù hợp với các quy ước của họ vào thời kỳ đó.
Rhombus là một người có quyền lực
và địa vị cao trong xã hội.
Ông muốn những bức tượng của mình
phải có gì đó khác biệt so với những bức tượng khác
và đặc biệt là phải thể hiện được địa vị và quyền lực của mình.
Do đó, mà phải có gì đó khác biệt và mang tính biểu tượng.
Nếu như những bức tượng khác đều khỏa thân,
vậy tại sao chúng ta không cho bức tượng này mặc trang phục đi?
Không được.
Mặc trang phục thì sẽ che đi những cơ bắp
và nét đẹp của bức tượng.
Thế thì chỉ cần cho mặc một chiếc áo mỏng
vừa tạo sự khác biệt vừa thể hiện nét đẹp của cơ thể.
Thế thì được.
Vậy nên, người ta mới thấy Rhombus mặc một chiếc áo tràng mỏng.
Như vậy chứng tỏ một điều.
Rhombus hay là người mặc áo tràng này
là một người có địa vị cao trong xã hội,
một người đáng kính.
Phải biết, mặc một bộ trang phục trong thời kỳ này
không phải là một cái gì đó ghê gớm.
Tuy nhiên,
trong hoàn cảnh này nó đánh dấu một sự khác biệt của Rhombus
so với những bức tượng của Rose.
Và sự khác biệt ở đây đó chính là địa vị.
Quả thật,
không phải ai cũng đủ giàu và quyền lực
để có thể tạc một bức tượng cho mình
mà lại còn là một bức tượng dâm cho thần linh.
Nếu xem ở những khu vực khác,
thì hẳn người nào muốn tạc tượng cho chính mình
thì sẽ bị xem là ra vẽ
và quá yêu bản thân
hoặc chỉ có những người cai trị mới làm như vậy.
Vậy còn quyền lực thì sao?
Họ đã thể hiện quyền lực của các bức tượng như thế nào?
Và những cơ bắp kia
chưa đủ để thể hiện sức mạnh hay quyền lực hay sao?
Không, còn một điểm nữa
mà tiêu chí này được thể hiện rất rõ ràng và hiệu quả.
Ngoài ra,
điểm này còn là một ý tưởng khá thú vị và táo bạo.
Rhombus vác trên vai một con bê,
hai tay của ông nắm chặt chân của con bê
tạo thành một hình chữ X trước ngực.
Phải nói,
có nhiều điểm đáng để tán thưởng
trong cách thể hiện hình ảnh như thế này.
Xem nào!
Đầu tiên là hình ảnh của một người đàn ông
vác trên vai một con bê.
Tưởng tượng nếu bạn làm điều tương tự
thì sẽ biết
nó rất là khó bởi vì con bê không hề nhẹ.
Phải có sức lắm thì mới làm được như vậy.
Kế tiếp,
con bê này trông như vẫn còn sống
vì đầu nó hướng về phía người chính diện.
Một con bê còn sống,
khá dễ vì để người ta vác trên vai như vậy.
Chắc chắn,
sẽ có sự vùng bẫy.
Như vậy,
cần bao nhiêu sức mạnh
để một người có thể cố định một con bê như thế này?
Rõ ràng,
người đó phải rất khỏe.
Như vậy,
chỉ với một ý tưởng hình ảnh trong đơn giản
mà quyền lực và sức mạnh được thể hiện rõ ràng.
Chưa kể,
biểu tượng hình chữ X trước ngực của người khiêng bê
đó là một dấu vết của thời kỳ hình khối.
Một thời kỳ trước kia của Hy Lạp,
người ta thường sử dụng hình khối
trong thiết kế các tác phẩm.
Chân bê được giữ rất chắc,
tạo ra một bố cục hình chữ X táo bạo.
Cũng chính điểm này
là điểm kết nối giữa Ron Boss và con bê,
tạo ra một bố cục chặt chẽ,
chắc chắn.
Đôi chân bắt chéo của con bê
với cánh tay của người khiêng
tạo ra một thể thống nhất
về lẫn hình thức,
lẫn thể chất.
Lần đầu tiên mà chúng ta thấy
sự kết hợp này,
nhưng nó chắc chắn là rất hiệu quả.
Đề bài về thể hiện địa vị
và quyền lực ban đầu đưa ra
nay đã có đáp án.
Tuy đơn giản,
nhưng để đi đến được sự đơn giản đó,
người ta phải lai hoay
dưới chốn hiện tượng đầy cám dỗ.
Đó chính là tư duy.
Nó thử ngẫm lại,
phải chăng những người tự cho mình là thẳng thắng,
đi thẳng vào vấn đề,
thì trước đó họ đã phải đi lòng vòng
đi tìm lợi giải.
Bằng không,
làm sao họ có thể một lần
mà đâm thủng được bức màng hiện tượng
để đi tìm tới câu trả lời.
Thôi, tiếp tục khảo cổ nè.
Tới đây,
thì gần như là bạn đã hiểu hết mọi thứ
quan trọng về bức tượng này rồi.
Nhưng còn một vài điểm nữa
thì mới hoàn thiện.
Tại sao mà khuôn mặt của bức tượng này
lại có một nụ cười?
Khuôn mặt của người khiên bê
khác rõ rệt so với khuôn mặt
của những bức tượng Hy Lạc trước đó,
bao gồm cả bức tượng
trong nền văn minh Lưỡng Hà
và Ai Cập.
Anh ta mỉm cười,
hoặc ít nhất là trông giống như vậy.
Và thậm chí kể từ thời kỳ này
trở về sau,
những bức tượng Hy Lạc cổ đại
có một chi tiết trùng lập
là môi luôn mỉm cười.
Ngay cả khi những bức tượng đó
mô tả một chiến binh đang khắp hối,
những mũi tên cắm thẳng
vào ngực của anh ta,
thì khuôn mặt của người đó
vẫn luôn nở một nụ cười.
Một người khi họ cười
thể hiện là họ đang hạnh phúc.
Khi chụp hình mà họ đang cười
tức là họ đang vui vẻ.
Nhưng tại sao mà khi chụp hình
người ta lại kêu bạn cười lên đi?
Há chăng họ bảo bạn hạnh phúc đi,
vui vẻ đi?
Chuyện đó khá vô lý.
Hóa ra hiện tượng nụ cười này
cũng được các nhà khảo cổ nghiên cứu qua.
Này anh,
kỳ lạ lắm.
Tại sao khi tôi nhìn bức tượng này
lại thấy có một cảm giác có sự kết nối?
Như thế là nó đang nói chuyện với tôi vậy?
Các nhà khảo cổ nghệ thuật
có nói rằng
đó được gọi là nụ cười cổ xưa.
Nếu chúng ta hiểu nụ cười này
là cách thể hiện
một người đang hạnh phúc,
một khuôn mặt đang hạnh phúc thì cũng được.
Chẳng qua nó còn một tầng ý nghĩa nữa.
Đó là quý ước cổ xưa
của người Hy Lạc.
Nụ cười chính là cách
họ thể hiện bức tượng này
được tạc dành cho người còn sống.
Đúng vậy.
Nụ cười hiện lên trên bức tượng
mô tả người đó còn sống
trong khoảng thời gian mà bức tượng được tạo ra
hoặc là một ý niệm
về người đó sẽ mãi sống.
Nụ cười chính là cách
mà con người thể hiện khái niệm về còn sống
trong tiếng Anh gọi là Alive.
Nghe hơi ghê rợn
nhưng thật chất
Ngay cả trong giây phút này
khi bạn chụp hình mà bạn mỉm cười
thì trông có sinh khí hơn.
Cười nghĩa là còn sống
là một quan điệm hay là một quý ước cổ xưa
mà người Hy Lạc đã tạo ra.
Nó vẫn còn
có những tác động cho tới bây giờ.
Dĩ nhiên
không phải lúc nào chụp hình
thì chúng ta cũng cần cười.
Nhưng nếu muốn thêm một chút sinh khí
cho tác phẩm hay là bức hình
thì nụ cười
là một cách hay.
Trong khi người Ai Cập
thì lại không có quý ước này.
Do đó, bằng cách áp dụng nụ cười cổ xưa
các nghệ sĩ Hy Lạc
báo hiệu rằng
họ cũng có những quý ước riêng cho mình.
Hẹn gặp bạn vào video lần sau.
Chúng ta sẽ tiếp tục
thám phá nền văn minh Hy Lạc.