Người Nhập Niết Bàn Trước Cả Đức Phật - Được mệnh danh là TRÍ TUỆ BẬC NHẤT là ai?

Radio Suy Ngẫm
1K Người theo dõi
Người Nhập Niết Bàn Trước Cả Đức Phật - Được mệnh danh là TRÍ TUỆ BẬC NHẤT là ai?
#radiosuyngam #kechuyenradiosuyngam #loiphatday
*Mọi vấn đề vi phạm chính sách Nguyên tắc cộng đồng, Luật bản quyền xin liên hệ trực tiếp với chúng tôi.
*Gmail: [email protected]
Lưu ý: Thông tin trong video chỉ nên dùng để tham khảo và đối chiếu với nhiều nguồn thông tin khác để kiểm chứng!
Mời quý vị theo dõi video vô cùng ý nghĩa ngày hôm nay!
Khi biết Đức Phật sắp nhập Niết Bàn,
Tôn giá Sá Lại Phất đã tận dụng khả năng thần thông chí huệ
để giáo hóa vô số người, phá tâm bồ đề, tu học, đạo giác ngộ.
Rồi đến trước đại chúng nói lớn,
Thưa chư đại chúng, tôi không yên lòng nhìn thấy cảnh Đức như lai vào Niết Bàn.
Nói xong Tôn giá Sá Lại Phất bay lên hư không,
dùng lửa thần thông tự thiêu đốt mình,
làm sáng giựt cả bầu trời mà vào Niết Bàn.
Trước cảnh lạ lùng khiến cho đại chúng ấy ai nấy đèo xúc động,
bàng hoàng, thương tiếc, chầm lặng nhìn nhau,
lắc đầu, não ruột, thầm than.
Đè dài tòa không khí yên lặng, nặng nề,
bao trùm nỗi hoài nghi trong lòng đại chúng.
Tôn giá An-an từ chỗ ngồi đứng dậy
đến trước phát tòa, đảnh lễ Đức Phật rồi kính cẩn thưa.
Bạch Đức Thế Tôn!
Tại sao Tôn giá Sá Lại Phất lại vội vàng dùng lửa thần thông
nhậm diệt trước Đức Thế Tôn?
Việc làm này khiến cho đại chúng đèo sửng sốt,
xót xa, thương tiếc như vậy.
Cúi mong Đức Thế Tôn rổ lòng thương xót
vì giải tỏa sự nghi ngờ của đại chúng và chúng sanh đời sau
mà giảng nói cho.
Đức Phật dạy rằng
Này An-an!
Chẳng những chỉ ngày nay Sá Lại Phất nhậm diệt
trước khi như lai vào nết bản đâu.
Mài nhiều kiếp về trước,
ông ấy cũng đã làm như vậy rồi.
An-an thưa!
Bạch Đức Thế Tôn!
Trong những kiếp quá khứ,
Tôn giá Sá Lại Phất cũng đã từng làm như thế.
Vậy việc ấy ý nghĩa như thế nào ạ?
Cúi xin Đức Thế Tôn rủ lòng tư bi
giảng nói nguyên nhân sâu xa
để cho đại chúng giất mối nghi ngờ.
Đức Phật bảo An-an rằng
Này An-an!
Ông hãy lắng nghe cho kĩ.
Cách đây hơn một kiếp A Tăng Kỳ,
có một vị quốc vương tên là Đại Quang Minh
tu hạnh bố thí không nghịch ý.
Hàng tháng nhà vua cho voi, ngựa, xe cổ, trò thức ăn, áo quần,
thuốc men, đồ dùng ra bốn cửa thành
bình đẳng bố thí cho những người thiếu thốn.
Dân chúng các tiểu quốc đều đến nhận lãnh đổ bố thí của nhà vua.
Đức bố thí của vua Đại Quang Minh
đã khiến cho dân chúng bốn phương đều được ấm no,
đất nước Thái mình thanh trị.
Tiếng thơm đổn xa
khiến khắp thiên hại nước lòng ca ngợi ân đức của nhà vua.
Lúc bấy giờ có vị tiểu vương, nước láng giềng,
thấy sự thanh trị, hùng cường của nước Ba-la-nải
và vua Đại Quang Minh
được khắp nhân gian bốn phương thiên hạ tôn sùng,
ân đức nhớ cha mẹ,
nên đem lòng ganh ghét oán thù.
Đức vật dạy rằng,
này An-an,
chẳng những chỉ ngày xưa sáng lợi phất nhập diệt trước
như lai vào nết bàn đâu,
mà nhiều kiếp về trước,
ông ấy cũng đã làm như vậy rồi.
Vị tiểu quốc vương nước láng giềng này biết vua Đại Quang Minh
tu hạnh bố thí bất nghịch ý,
nên đã triệu tập quần thần hỏi rằng,
này các khanh,
trong các khanh,
ai là người có thể vì ta mà đến kinh đô nước Ba-la-nải
để xin đầu nhà vua Đại Quang Minh đem về đây,
ta sẽ trọng thưởng trước đệ nhất quan đầu triều và ngàn cơn vàng.
Quần thần đều im lặng,
không ai dám nhận lãnh xứ mạng nguy hiểm này cả.
Trước sự im lặng đó,
khiến cho tiểu vương thất vọng buồn bực vô cùng.
Sau đó tiểu vương lại truyền lại khắp trong nước rằng,
ai đến thành Ba-la-nải,
xin được đầu của vua Đại Quang Minh đem về,
thì sẽ được trọng thưởng 10 ngàn cơn vàng.
Lúc ấy,
có người Ba-la-môn nghe được phần thưởng quá to lớn như vậy,
xanh lòng tham,
nên đã ý kiến tiểu vương xin nhận lãnh xứ mạng này.
Tiểu vương vô cùng mừng dỡ liền ra lệnh cấp lương thực,
xe ngựa,
và thúc giục người Ba-la-môn gấp rút lên đường.
Trải hơn tháng trời lên núi trèo đèo vượt rừng băng suối,
người Ba-la-môn mới đến được nước Ba-la-nải.
Khi người Ba-la-môn đến trước cửa thành Ba-la-nải,
thì trái đất bỗng nhiên trấn động nứt nẻ,
bầu trời u ám lạnh bút,
chìm muông sợ hãi bay tứ tán,
mặt trăng lưu mờ,
sao băng tinh tú chuyển động mất vị trí,
suối hồ ao giếng cạn khô,
hoa quả héo sầu,
cây lá vàng úa rơi rụng,
hiện tượng tiêu điều thê thảm hiện bày khắp cả nước Ba-la-nải,
khiến cho dân chúng kinh hãi, lo âu.
Lính các cửa thành thấy kẻ Ba-la-môn vừa đến,
thì xuất hiện nhiều hiện tượng suy đổi kinh hoàng,
nên hỏi người Ba-la-môn về xuất xứ từ đâu đến
và mục đích đến đây để làm gì.
Người Ba-la-môn kể lẻ nỗi khổ cực khi đã trải qua trên đường đi,
từ tiểu quốc Lân Bang đến đây,
vậy đến chỉ được mong ý kiến vua Đại Quang Minh để trình bày việc quan trọng.
Dù mấy lần quan giữ cửa gạn hỏi việc quan trọng ấy là việc gì,
người Ba-la-môn vẫn giữ bí mật, không nói ý định của mình,
mà chỉ năng năng nai nề xin được ý kiến đại vương.
Lính các cửa thành vẫn quyết không cho vào.
Người Ba-la-môn quyết tâm đứng ngoài cửa thành suốt 7 ngày đêm
và cuối cùng nói sự thật ý định của mình.
Nghe đại vương Quang Minh tu hạnh bố thí bất nghịch,
tiếng thơm đồn xa,
nên đến đây ra mắt để xin cái đầu của đại vương.
Vừa nghe thấy thì quân lính các trong thành nổi khí sung thiên,
giận dữ đánh đuổi quát mắng.
Nếu không có sự can giáp kịp thời thì người Ba-la-môn này đã không toàn tánh mạng rồi.
Thấy vậy, viên tiếng ngựa lâm quân đem việc xảy ra ngoài cửa thành trong 7 ngày vừa qua,
tầu viết cả vua đại Quang Minh.
Nhà vua nghe kẻ song đầu đuôi câu chuyện,
liên hạ lệnh quân các cửa thành cho người Ba-la-môn này vào chiều để ra mắt.
Vị quan đệ nhất đại thần đó chính là tiền thân xá lợi Phất,
kẻ Ba-la-môn kia là tiền thân đề bà Đạt Đa,
còn vua đại Quang Minh chính là tiền thân của Thích Ca Như Lai.
Người Ba-la-môn quý trước bẹ dòng dạo và khóc lóc kẻ về nỗi khổ cực nguy hiểm trên đường đi của mình,
nỗi nhục nhã bị quân lính giữ thành hành hạ 7 ngày qua.
Người Ba-la-môn tiếp tục lạy lục lê lịa, khóc than khẩn thiết thưa.
Dù vậy cũng không quản ngại,
kẻ tiện dân này từ xa đến đây được ý kiến đại vương là vạn phúc lắm rồi,
dù có bao nhiêu khổ nhục đi nữa thì cũng chẳng đáng gì cả.
Chỉ mong đại vương thương tình hứa khả cho xin một điều duy nhất thôi,
thì kẻ tiện dân này cũng thỏa nguyện lắm rồi.
Vua đại Quang Minh phán rằng,
Điều gì nhà ngươi cứ nói tự nhiên đừng e sợ.
Người Ba-la-môn vận dụng khổ nhục kế hết thiểu não với giọng khẩn thiết run giải thưa.
Tâu Đại Vương
Đức độ nhân tử cao cả của đại vương rộng lớn vang lừng 4 vương thiên hạ,
đều tôn sùng ngưỡng mộ bái phục.
Hạnh thu bố thí bất nghịch ý của đại vương,
mười vương thánh thần trời đất đều chứng giám.
Đức độ nhân tử của đại vương thì chỉ có một không có hai trên đời này.
Tiện dân tử vạn dọng lặn nội gian nan,
cam chịu vô cùng cực khổ đến đây.
Chỉ mong được đại vương mở lượng hải hà,
mà bố thí đầu của đại vương.
Thề ơn mưa móc cứu nhân độ thế của đại vương,
thần thật vô lượng vô biên.
Tiện dân này nghìn triệu kiếp ghi xương khắc cốt không dám quên.
Người Ba-la-môn vừa giất lời thề các vị đại thần nhìn nhau,
nhào nhào lớn tiếng nổi giận,
căm thức cực độ.
Muốn lôi của người Ba-la-môn này ra chém đầu ngay.
Nhưng vua đại quang minh thì vẫn thái độ ung dung trầm tính,
từ hòa can rán quần thần.
Này cá khanh, cá khanh đừng làm nghịch ý người.
Rồi nhà vua quay sang dùng lời hiền hòa,
an ủi người Ba-la-môn.
Người Ba-la-môn được thế thì lại tỏ ra thảm não khẩn thiết quỳ tàu tiếp.
Môn tàu thánh lượng,
ân đức bố thí bất nghịch ý của thánh thượng bốn vương thiên hạ xa gần,
ai nấy cũng nức lòng khâm phục, ca tụng, tôn sùng ngưỡng mộ.
Cho dù kẻ tiện dân này có chịu gian nan mất mạng,
mà được đại vương bố thí bất nghịch ý,
thì kẻ tiện dân này còn gì sung sướng phước đức cho bằng.
Nghe người Ba-la-môn này nói xong,
nhà vua trầm tư suy nghĩ.
Từ vô thỉ kiếp đến nay,
ta đã bao lần sinh tử tử sinh,
cũng chỉ vì than tiếc cái thân này.
Nay ta vì hoàn thành hạnh nguyện bố thí bất nghịch ý,
để cầu đạo quả vô thượng bổ đề, phổ độ chúng sinh,
thì có xá gì cái thân ô ế giả tạm này mà tiếc đây.
Hạnh bố thí của Đức Vô Đại Quang Minh,
tiền thân của Đức Phật.
Nay ta vì các người,
hết thải chúng sinh mà xả bỏ thân bố thí,
không vì lý do gì làm ngăn cản hạnh nguyện bố thí bất nghịch ý của ta.
Ngài cho người Ba-la-môn kia lấy đầu của Ngài,
thế nên người cận thần đau xót quá bẻ tự vẫn trước khi cảnh ấy diễn ra.
Người cận thần chính là Sáng Lợi Phất, đệ tử của Đức Phật.
Suy nghĩ một hồi,
rồi nhà vua nói với cả người Ba-la-môn rằng,
Người yên tâm, không có gì trở ngại,
ta sẽ làm cho người tọa nguyện.
Xin hãy chờ ta trong vòng 7 ngày,
để ta có thời gian sắp đặt người giao phó ngôi vua,
phu nhân, thái tử và quốc thành,
rồi ta sẽ tặng đầu cho.
Quần thần và phu nhân, thái tử cùng hoàng tộc nghe nhà vua quyết định,
đem đầu cho người Ba-la-môn.
Tất cả đều xúc động, bỏ ăn, mất ngủ,
lăn lộn, khóc lóc, thở than.
Tìm đủ mọi cách để can gián nhà vua,
nên bỏ ý định đó.
Cùng lúc ấy, hơn 500 vị đại thần út hận đau cổ,
đập mình xuống đất, than thở.
Họ muốn phanh thay, nuốt sống người Ba-la-môn kia.
Họ hỏi tại sao người Ba-la-môn không xin trâu ngọc vàng bạc quý báu,
mà lại cứ nằng nạc này nỉ,
xin cho được cái đầu móng mũ làm gì.
Họ thương lượng với người Ba-la-môn,
muốn đổi cái đầu làm bằng bảnh thứ báu kim cương,
thay vì cái đầu của nhà vua,
để cho người Ba-la-môn được giàu sang đời đời.
Nhưng thuyết phục dẫn dụ thế nào đi nữa,
người Ba-la-môn cũng đều từ chối,
chỉ nhất quyết xin cho được cái đầu của vua Đại Quang Minh mà thôi.
Mặc dù quần thần phu nhân thái tử và hoàng tộc khóc lóc lạnh lục van xin,
nhưng nhà vua đã quyết rồi nói,
nay ta vì các ngươi và hết thải chúng sinh mà xả thân bố thí,
không vì lý do gì làm ngăn cản hạnh nguyện bố thí bất nghịch ý của ta.
Nói rồi nhà vua chắc tay thành kính hướng về bốn phương đảnh lễ phát nguyện.
Kính lại mười phương chư Phật trưa về Bồ-Tát,
từ bi thương xót chứng minh ra hồ cho con,
được trọn thành hạnh nguyện.
Nói xong tự tay cắt lấy đầu,
trao cho người Ba-la-môn.
Ngay lúc đó trời đất rúng động,
trên hư không nhạc trời trúc tụng,
mưa hoa dài khắp trên mình nhà vua.
Đang trong lúc nhà vua thành tâm lễ lệ mười phương,
phát nguyện thực hiện hạnh bố thí bất nghịch ý,
thì trong quần thần có vị đệ nhất quan đầu triệu,
không nhẫn tâm,
nhìn thấy cảnh tượng đau lòng của nhà vua xả thân cắt đầu bố thí,
một cách đau đớn.
Nên đã vội vào phòng riêng một mình tự sát,
trước khi vua Đại Quang Minh thực hành tâm nguyện này.
Vậy là trải qua nhiều kiếp,
tôn giả xá lệ Phất đã thực hành tâm nguyện chết trước ta như vậy,
chứ nào phải chỉ riêng trong kiếp này.
Nói đến đây thì Đức Phật bảo Ngài An Nam rằng,
vị quan đệ nhất đại thần đó chính là tiền thân của xá lệ Phất,
kẻ 35 môn kia là tiền thân của đẻ bạc Đạt Đa,
còn vua Đại Quang Minh chính là tiền thân của thích cai như lai ta đây vậy.
Tôn giả xá lệ Phất,
người được coi là đệ nhất trí tuệ.
Xá lệ Phất vốn trí tuệ thông minh xuất trúng từ trong bụng mẹ,
từ khi còn bé đã có nhiều thuyết giảng,
lời nói trứng trạc, sâu sắc khiến cho nhiều người nể phục.
Sau khi Đức Phật ngộ đạo,
xá lệ Phất cùng bạn thân là mục kiền liên,
gia nhập tăng đoàn và mệnh danh là trí tuệ đệ nhất.
Về tôn giả xá lệ Phất, tôi tin là mọi người đều rất quen thuộc,
đều nhớ rất rõ vị tôn giả này,
vì tôn giả này có một đoạn nhân duyên khiến cho người ta không thể quên.
Cậu của tôn giả xá lệ Phất tên là Ma-ha-câu-hi-la,
thường cùng người trị biện luận với nhau.
Và mỗi lần biện luận như thế,
người trị luôn là người thua cuộc.
Còn Ma-ha-câu-hi-la luôn là kẻ thắng cuộc.
Nhưng sau khi người trị này mang thai,
thì điều kỳ lạ đã xuất hiện.
Điều kỳ lạ là gì?
Bây giờ mỗi lần ông và người trị biện luận,
thì ông luôn bị thua.
Trái lại, người trị thì luôn được thắng.
Do vậy mà Ma-ha-câu-hi-la biết rằng,
Ôi, chị mình trước kia không thông minh như vậy,
bây giờ lại thông minh như thế.
Đứa trẻ trong bụng của chị chắc chắn là người có trí tuệ.
Nó đến giúp mẹ biện luận.
Tôn giả xá lệ Phất là một trong mười đại đệ tử của Đức Phật.
Ông có trí tuệ hơn người,
ngay từ khi còn là bảo thai.
Lúc này thì ông cậu liền nghĩ,
Ồ, bây giờ mình phải đi học bản lĩnh.
Nếu như không học thành tài,
tương lai sau khi đứa cháu bên ngoại này sinh ra,
mình thân làm cậu là bậc tiền bối,
mà lại biện luận thua cháu thì thật là xấu hổ,
thật là mất mặt.
Thế là ông đi đến miền Nam Ấn Độ học Pháp.
Quý vị nói thử xem,
ông học như thế nào đây?
Ông đọc sách,
học Pháp cả ngày lẫn đêm,
học đến nỗi tóc không cắt,
dâu không cạp,
móng tay mọc dài đến cả tất cũng không cắt.
Vì sao không cắt?
Không phải là ông cố ý không cắt.
Ở đây tôi không nói đến hiện tượng phổ biến
của những thanh niên bấy giờ là
cũng đẻ tóc dài,
đẻ dâu dài,
không gọn gàng tươm tất,
cũng không học hành đàng hoàng nữa.
Ông thì sở dĩ khác với cả những thanh niên này,
là vì ông không có thể giờ để tự chăm sóc,
ngay cả cắt móng tay còn không có thể giờ.
Ông bận vào việc gì vậy?
Bận học,
học cả ngày lẫn đêm.
Quý vị thấy đây,
đây mới là thật sự là dụng công tu học,
việc học mà gác lại tất cả công việc khác,
không có thể giờ cắt móng tay,
không có thể giờ cạo dâu,
cắt tóc.
Do vậy mà mọi người đều gọi ông là
trường trào phạm trí,
tức người phạm trí móng tay dài.
Cứ thế,
ông học thuần thuộc tất cả các học vấn biện luận
của miền Nam Ấn Độ,
như y học,
bói toán,
triêm tinh.
Trở về nhà thì ông liền đi gặp chị của mình.
Gặp chị,
ông hỏi
Cháu của em đi đâu rồi?
Chị trả lời
Cháu của cậu đã đi xuất ra theo Phật rồi.
Vừa nghe nói cháu của mình xuất ra theo Phật,
ông liền khởi tâm,
tự cao tự đại,
nghĩ rằng
Ôi,
cháu của mình mới 8 tuổi,
đã có thể đăng tòa thiết pháp,
tiếng tầm vang dội ngũ thiên,
hết thầy,
năm nước lớn ở Ấn Độ đều chấn độc,
tất cả mấy trăm luận sư
đều bại trận dưới tay nó rồi.
Một đứa trẻ thông minh như vậy,
làm sao có thể đi xuất ra theo một xa môn chứ?
Thật là đáng tiếc.
Ông khởi tâm kêu ngạo như thế,
liền muốn đi gặp Phật,
ông nghĩ
Mình đi xem thử vị xa môn này có bản lĩnh gì,
mà có thể gạt được đứa cháu thông minh như thế của mình làm đại tử.
Đến nơi gặp được Đức Phật,
ông liền muốn đem tất cả phương thức ra tấn công Phật,
nhưng nghĩ không ra một cách nào cả.
Đã học suốt mười mấy năm trời dòng dã,
móng tay cũng không buồn cắt,
dự định trở về sẽ cùng cháu biện luận,
đâu ngờ trở về lại không có đất dụng võ,
đứa cháu đã xuất ra theo Phật.
Bây giờ gặp được Phật,
cũng không biết nên đem loại sách đã học nào ra để biện luận,
để có thể thắng được Phật.
Nghĩ tới nghĩ lui,
Phật hỏi ông,
ông lấy cái gì làm tâm?
Ông trả lời,
tôi lấy bất thọ,
tức không tiếp nhận làm tâm.
Bất thọ,
nghĩa là cho dù Ngài có giảng cái gì,
tôi cũng không tiếp nhận.
Ngài nói cái gì, tôi cũng chẳng quan tâm.
Tôi sẽ không tiếp nhận đạo lý của Ngài nói,
để xem Ngài có biện pháp gì.
Ngài nói đi.
Phật bảo,
được,
ông lấy bất thọ làm tâm,
thế thì ông có thể tiếp nhận được kiến giải
lấy bất thọ làm tâm của ông không?
Phật mới hỏi như thế,
đã làm cho ông cứng họng,
không trả lời được.
Nếu như nói,
chấp nhận kiến giải của mình,
thì đây là thọ.
Nếu như nói,
không chấp nhận kiến giải của mình,
thì căn bản sẽ không có tâm.
Ông đã nói,
lấy bất thọ làm tâm,
đây chính là kiến,
chính là chi kiến của ông.
Nếu như bảo bất thọ,
tức không thời nhận,
thì càng mâu thuẫn với cả chính mình.
Chứng tỏ điều mình nói không có đạo lý,
giống như trồng một cái cây,
nhưng không có gốc vạch.
Nếu nói,
thọ,
thời nhận,
kiến giải của mình,
thì trên căn bản,
tông chỉ này không thể đứng vững được.
Trước khi biện luận,
ông đã đánh cuộc với Phật rằng,
nếu như tôi biện luận thua,
tôi sẽ cắt đầu mình đưa cho Ngài.
Nếu như Ngài thua,
Ngài phải trả lại đứa cháu cho tôi.
Vậy mà lần này bị thua siểng niềng luôn.
Ông nghĩ,
đầu mà bị cắt xuống thế coi như xong đời rồi,
làm sao có thể như vậy được.
Nghĩ thế,
ông liền bỏ chạy.
Chạy được khoảng năm sáu dặm,
ông tự nghĩ,
ai ra,
mình là một nam tử hán đại trượng phu,
làm sao có thể nói mà không giữ lời được chứ.
Mình đã nói,
nếu như mình biện luận thua,
sẽ tự cắt đầu của mình.
Bây giờ mình lại bỏ chạy,
làm sao có thể như vậy được.
Phải trả lại cắt đầu của mình như đã giao ước mới đúng.
Ông nghĩ như vậy rồi liền quay trở lại,
bảo vết cả Phật cho mượn con dao.
Xin Ngài cho tôi mượn con dao.
Phật hỏi,
ông cần con dao để làm gì?
Ông đáp,
tôi đã lập ra điều kiện cho cuộc biện luận này với Ngài.
Bây giờ tôi thua rồi,
tôi phải cắt đầu của mình đưa cho Ngài.
Phật bảo,
trong giáo Pháp của Phật không có loại phương thức này.
Ông thua,
xem như xong,
hạ tất phải cắt đầu.
Thế là Phật thuyết Pháp cho ông nghe.
Vừa nghe thì ông liền đắc được Pháp nhãn tịnh ngay tại chỗ,
mở được con mắt Pháp.
Mắt Pháp vừa mở,
ông biết được Phật Pháp thâm diệu vô cùng.
Thì ra Pháp ngoại đạo mà mình đã học nhiều năm như thế,
đều không bằng một phần bạn của Phật Pháp.
Cho nên ông không những không bắt cháu của mình về,
mà chính ông cũng xuất ra theo Phật.
Cậu của Xá Lợi Phất có một nhân duyên đặc biệt như thế,
cho nên tôi tin rằng ai ai cũng đều biết đến tôn giả Xá Lợi Phất.
Xá Lợi Phất,
tiếng Phạn,
Trung Hoa Dịch là thu tử,
lại còn gọi là châu tử,
hay thân tử.
Tại sao gọi là thu tử?
Vì cặp mắt của mẹ tôn giả
giống như mắt chim thu lộ,
vô cùng xinh đẹp,
cho nên được gọi là thu.
Chữ Phất trong Xá Lợi Phất
chính là chữ tử,
con.
Do đó Xá Lợi Phất
có nghĩa là thu lộ chi tử,
con của thu lộ.
Tại sao gọi là châu tử?
Châu là tên của mẹ tôn giả.
Vì cặp mắt mẹ của ngài
giống như là hạt châu vậy,
cho nên bà còn được gọi là châu tử.
Tại sao gọi là thân tử?
Chính vì tôn giả là một đứa con
được tạo thành từ một phần thân thể
của người mẹ.
Chí huệ của tôn giả Xá Lợi Phất
đứng vào bậc nhất,
thần thông của ngài
thì cũng vô cùng quảng đại.
Nói như thế chẳng phải là ngài
đứng nhất về chí huệ
và đứng nhì về thần thông.
Không phải như vậy.
Vậy thì thế nào ạ?
Có một lần Ma Ha Mục
kiền lên cùng tôn giả đọ thần thông.
Đọ thần thông như thế nào đây?
Đức Phật Thích Ca Mô Ni
Đi đến nơi nào thuyết Pháp?
Tất cả các đệ tử đều phải đi theo
để được nghe Pháp.
Vì sao vậy?
Vì nếu không đi theo để nghe,
thì sau này không thể nào
được nghe lại Pháp Phật đã giảng qua.
Bởi vào thời đó không có máy thâu âm,
giống như bây giờ,
có thể thu lại lời thuyết Pháp của Phật.
Để nếu lần này
mình không được dự nghe,
thì lưu lại để sau nghe từ từ.
Thời đó vẫn chưa có phương thức như vậy,
cho nên các đệ tử của Phật
đều phải đi theo để nghe Pháp.
Duy chỉ có một lần nọ
xá lợi phất đang nhập định,
nên không đi theo.
Maha Mục Kiên Liên bảo
Thôi được, nếu tôn giả không xuất định,
tôi sẽ dùng thần thông
làm cho tôn giả xuất định.
Tôn giả Mục Kiên Liên thi triển
tất cả thần thông của mình,
muốn kéo tôn giả xá lợi phất đứng dậy.
Nhưng không những không kéo nổi xá lợi phất,
mà ngay cả treo áo của tôn giả
cũng không bị xê dịch.
Quý vị thử nghĩ xem
thần thông của tôn giả xá lợi phất
quảng đại như thế nào đây?
Tôn giả Mục Kiên Liên vốn là
thần thông đệ nhất. Nhưng mà đến khi
hai người đấu Pháp với nhau
thì Mục Kiên Liên không thể vượt qua
xá lợi phất. Điều đó đủ
thấy thần thông của tôn giả xá lợi phất
thật là quảng đại.
Và đó chỉ là một trong vô vàn
câu chuyện về tôn giả xá lợi phất.
Đến đây,
Raider Suy Ngẫm xin cảm ơn quý vị
đã theo dõi video. Chúc quý vị
và gia đình luôn an lành và hạnh phúc.
