Con Dâu Hãm Hại Mẹ Chồng Và Câu Chuyện Nhân Quả - Truyện Cổ Phật Giáo

Radio Suy Ngẫm
1K Người theo dõi
Con Dâu Hãm Hại Mẹ Chồng Và Câu Chuyện Nhân Quả - Truyện Cổ Phật Giáo
#radiosuyngam #kechuyenradiosuyngam #loiphatday
*Mọi vấn đề vi phạm chính sách Nguyên tắc cộng đồng, Luật bản quyền xin liên hệ trực tiếp với chúng tôi.
*Gmail: [email protected]
Lưu ý: Thông tin trong video chỉ nên dùng để tham khảo và đối chiếu với nhiều nguồn thông tin khác để kiểm chứng!
Mời quý vị theo dõi video vô cùng ý nghĩa ngày hôm nay!
Chuyện Cổ Phật Giáo
Câu Chuyện Hại Người Trở Lại Hại Mình
Hỏa xưa trong hàng bà Lam Môn, có một người dâm phụ, đường lúc tuổi còn xuân sanh, sắc duyên đàm thắm, mà trong lòng đã mang một khối tình rất lai láng.
Mặc dù nàng đã có chồng rồi, nhưng mà thường có tính lẳng lơ, vì thế hàng ngày mơ tưởng việc ngoại tình.
Tuy cái ý tưởng của nàng muốn như vậy, nhưng mặt trong nhà thì còn có mẹ chồng, nên nàng kiêng nể và phải đè nén lòng dục vọng của mình.
Một hôm nàng bên nghĩ ra một mưu kế rất hiểm độc.
Bề ngoài thì nàng thường giả mượn điều hiếu thảo mà đối với cả mẹ chồng, nên hàng ngày thường lo sắm những thức ăn ngon vật lạ cho bà ăn uống, trong lòng thì chờ cơ hội để hại bà.
Người chồng của nàng thấy vậy thì có ý mừng thầm mà nghĩ rằng,
Ngày nay mẹ của ta đã tuổi cao sức yếu rồi, mà lại may mắn gặp được một người vợ hiền hiếu thảo như vậy,
Biết lo hết bổn phận nàm dâu mà chăm sóc mẹ ta được ăn no ngủ khỏe,
Trong khi đầu bạc gia nhân như vậy, thật là một điều hết sức vui mừng.
Người dâm phụ biết chồng đã lầm kế của mình rồi, bên thừa cơ nói với chồng rằng,
Thưa chàng, tùy thiếp đã hết lòng nuôi dưỡng mẹ như vậy,
Nhưng mà sự ấy chẳng qua là để ở thế gian mà thôi,
Nên sự hiếu dưỡng cũng chưa lấy gì đáng gọi là mỹ mãn cho lắm.
Vậy chàng cũng nên tìm một phương pháp chi khác đi,
Đặng hóa xanh độ tử cho mẹ được siêu thoát linh hồn,
Và được vãng xanh về cõi trời mà hưởng những hạnh phúc thần tiên,
Thì chúng ta mới chọn đạo làm con,
Chờ những vật chất ở thế gian này thì cũng chỉ là giả dối trong lúc còn sống mà thôi.
Người chồng nghe vợ nói những lời tha thiết như vậy lên đáp rằng,
Nếu chúng ta muốn cho mẹ được mau siêu thăng lên cõi trời,
Thì chỉ một pháp của đạo Bà La Môn là phải dùng hầm chất củi mà đốt mẹ,
Nhưng ta không nỡ làm như vậy.
Người dân phụ nghe chồng đáp thì biết đã trúng kế của mình rồi,
Nên nói rằng,
Phải lắm,
Trong đạo hạnh của mình đã có pháp giải thoát siêu thăng như vậy,
Thì chúng ta cũng nên thi hành liền đi,
Đặng cho mẹ được lên trốn thiên đường hưởng lọc trời,
Mà chúng ta cũng đền đáp được ân sinh thành nữa.
Nghe qua mấy lời nói của vợ,
Người chồng liền tin,
Chứ chẳng có ngờ vợ xu hình độc làm như vậy là có ý quyết hại mẹ mình,
Nên chàng ra ngoài đồng ruộng,
Đào một cái hầm rất lớn mà lại thật sâu,
Và trở củi đem chất giấy hầm,
Rồi đốt lửa hừng lên đỏ lòm.
Đoạn chàng lại lập một cái tiệc ở gần cái hầm,
Rồi trở về nhà dẫn mẹ ra đó đứng để làm chủ tiệc,
Và mời cả thầy những bà con tân khách khác,
Cùng với cả chúng bà Lamôn đến dự và uống rượu nghe đờn.
Sau khi yến tiệc vừa xong,
Các tân khách đều lui về nhà,
Hai vợ chồng người dâm phủ bèn dẫn mẹ ra mé hầm xem,
Rồi thành linh xô mẹ xuống hầm.
Người vợ tưởng chắc rằng sát thịt của mẹ chồng đã tiêu ra cho rồi,
Còn người chồng thì lại tin rằng mẹ của mình đã tiêu diêu tự tại nơi cõi trời,
Nên dắt nhau trở về.
Ngờ đâu trong hầm ấy lại có một khoảng trống không có lửa,
Khiến cho bà xa vào đó mà chẳng có điều gì hại đến tính mạng của bà cả,
Nên bà có thể tìm đường chui ra được.
Khi bà ra khỏi trốn hiểm nguy rồi,
Trời đã vẻ khuya, bốn bè tĩnh mịch,
Bà lần mò theo đường cũ để trả vào nhà,
Nhưng vì đường xa và trời lại tối đen như mực,
Nên bà mới gắn leo lên một nhành cây to và rậm để ẩn thân.
Trong khi bà ngồi trên cây,
Bỗng đầu có một lũ ăn trộm vừa đến nghỉ tại dưới gốc cây,
Bà liền tăng hắng một tiếng lớn,
Bọn trộm kinh hoảng lật đật bỏ chạy tứ tán,
Để lại những đồ của chúng nó đã lấy của người khác.
Đến khi trời vừa dạng sáng,
Bà liền leo xuống thì thấy những đồ trâu báu tiền bạc đầy dưới gốc,
Nên bà lựa những món quý giá như là vàng bạc ngọc ngà,
Rồi lần lượt em về nhà.
Còn dâm phụ khi thấy mẹ chồng trở về,
Liền kinh hãi và tưởng rằng bà đã hiện hồn về nhà,
Nên nhắm mắt và lánh mặt cuối đầu,
Chẳng dám chào hỏi.
Còn chồng của nàng thì lại tưởng mẹ của mình đã được xeo xanh lên cõi trời,
Nay về thăm mình,
Nên lật đật chắp tay lại mẹ mà nói rằng,
Con nhờ vợ của con khuyên bảo,
Dùng phương pháp hóa xanh độ tử,
Hoát kiếp siêu hồn.
Nay mẹ đã được lên cõi trời về thăm con,
Thì con rất vui mừng.
Bà mẹ nghe con nói như vậy,
Nên bà nhân kế tự kế,
Nghĩa là bà dùng cái kế của người con dâu đã hại bà,
Rồi trở lại hại nó.
Bà bèn nói lại rằng,
Mẹ nhờ hai vợ chồng con làm phép siêu thăng cho mẹ,
Nên này mẹ được giải thoát xanh về cõi trời,
Thưởng được nhiều điều phúc báu.
Hai vợ chồng con ăn ở như vậy mới được chọn phần hiếu thảo.
Bà lại dạy qua mặt người dâu,
Và đưa mấy món trâu báu bà cầm nơi tay mà nói rằng,
Những món ngọc bông tai vòng vàng xuyến này,
Là vật của ông bà con cậy mẹ đem về cho con đấy.
Nhưng vì mẹ chân yếu gối trồn,
Thân gầy sức mỏng nên sách đem về chẳng được nhiều.
Và lại mấy người ấy nhắn với cả mẹ bảo con,
Cũng làm phép siêu thăng như con đã làm cho mẹ vậy,
Đặng con lên thiên đường,
Mà lãnh lấy những món đổ trâu báu ấy còn có rất nhiều.
Người con dâu dâm phụ nghe mẹ chồng của mình nói như vậy,
Tưởng là sự thật nên vui mừng,
Mà nói với cả chồng rằng,
Ngày nay mẹ có duyên xa xuống hầm lửa,
Mà được lên cõi trời hưởng những vật lạ của báu.
Nhưng tiếc về thân mẹ già yếu,
Nên chẳng thể đem hết của cải về được.
Vậy nếu chàng bằng lòng,
Cho phép thiếp làm phép siêu thăng như mẹ vậy,
Thì chắc thiếp sẽ đem tất cả những đổ trâu báu ấy về đây.
Khi ấy chúng ta sẽ trở thành đại phú gia,
Mặc sức cùng nhau mà hưởng sự sung sướng.
Người chồng nghe vợ tỏ ý như vậy thì cũng vui vẻ bằng lòng,
Lên đào một cái hầm làm y theo cách của mẹ.
Nhưng than ôi, khi hầm lửa vừa sắp đặt xuống,
Còn dâm phụ kia lên gieo mình xuống,
Của cải trâu báu chẳng thấy đâu,
Trái lại bị ngọn lửa thiêu đốt nóng không thể tưởng tượng,
Và kết quả tội lỗi tiêu tan thành cho bụi,
Thật là một quả báu dùng giận đáng làm gương cho nàng dâu,
Bất hiếu với mẹ chồng.
Hại người sẽ bị người hại,
Oán người sẽ bị người oán,
Mắng người sẽ bị người mắng,
Đánh người sẽ bị người đánh.
Chàng trai thật hết chỗ nói,
Chàng nghèo thật hết chỗ nói,
Cả sự nghiệp của chàng chỉ có một bà mẹ già mà thôi.
Lâu lắm người ta mới biếu cho chàng một cái búa,
Để đền ơn cứu sống một em bé chết đuối,
Được búa chàng đưa mẹ vào núi,
Tìm một hang đá,
Chàng lót dâm êm và có gió mát để mẹ ăn ở,
Nhờ thế chàng an tâm lắm,
Ngày ngày đi kiếm củi rồi về chợ đổi gạo,
Mặc dù ít tiền, chàng vẫn mua được thịt để mẹ sơi,
Tu Lại, tên của chàng,
Chàng những được lan rộng với chữ hiếu,
Mà người ta còn gọi chàng là tráng sĩ,
Vì chàng thường giúp đỡ người dân trong vùng ấy,
Bất luận gặp một tai nạn gì,
Chàng thường giúp đỡ họ tận lực,
Vì chàng ở núi,
Nên người ta đặt chàng những món tiền lớn
Để bắt các thú rừng hiền lành,
Nhờ nai, khỉ, trồn, thỏ v.v.
Tu Lại từ chối,
Vì chàng là một Phật tử chân chính,
Không bao giờ giết một sinh vật nào dù nhỏ nhất,
Chẳng những chàng không bắt chúng,
Mà còn yêu mến chúng nữa,
Nên lâu ngày chúng quen,
Và thường đến gần chỗ hai mẹ con chàng ở,
Cái hàng ấy bây giờ thành ra rất vui,
Hoa lạn ở hai bên,
Những tủ chim lại gần gũi hơn ở đó,
Mẹ chàng, mẹ Phật,
Chàng ngồi kế bên để kết mấy thiết cỏ khô,
Thành áo để mặc dùng cho mùa đông,
Nhưng đã sáu ngày nay,
Trời không mưa một hạt nào cả,
Gạo trong hang thì đã sầu cạn rồi,
Chàng lo lắng,
Nếu mưa cứ kéo dài như vậy,
Hôm nay trời bừng sáng,
Tu Lại sung sướng quá,
Chàng chào mẹ rồi vác búa ra đi,
Đến chỗ thường đốn cùi,
Thì phía xa xa có bóng của ba thiếu nữ,
Thấy con người ba bóng thiếu nữ kia thì đi nơi khác,
Chàng để bầu nước xuống và sửa soạn vào việc,
Thì thật ngạc nhiên,
Một chiếc kim toa ống ánh nằm ngả nghiêng bên tảng đá,
Không còn nghi gì nữa,
Chàng vội nhặt lấy rồi chạy theo ba thiếu nữ kia trả lại cho họ,
Người ta nhìn chàng với cặp mắt cảm ơn,
Nhưng người tráng sĩ không nhận trả ân bằng tiền gạo được,
Vì người ta biết được rằng tiếng của chàng thơm nhiều lắm,
Nhưng mà từ độ ấy về sau,
Nơi hang mẹ của chàng thỉnh thoảng có người đem biếu gạo trắng thịt ngon,
Trong lúc chàng đi làm củi vắng nhà,
Cứ thế rồi một ngày kia,
Một sáng mai,
Khi chàng còn chưa mơ màng tỉnh hẳn,
Thì có một nàng tiên đến ngồi cạnh bên chàng,
Nàng tiên ấy trên trời xa xuống lâu hay mau không rõ được,
Hồi nào cũng chẳng hay,
Nhưng mà nàng là tiên thật đấy,
Vì nàng đẹp quá,
Một tấm voan màu nước biển phủ nhẹ toàn thân của nàng,
Trên mái tóc xanh là một chàng hoa tươi,
Chàng phải gượng với bộ quần áo sơ xài của mình,
Tu lại ngồi phát dậy,
Nàng là ai? Sao lại ở đây?
Thiếp là xương phụ đánh rơi trước kim thoa hôm nọ,
Được tráng dĩ trả lại,
Về nhà thiếp đã suy nghĩ,
Ở đời giàu sang không phải chân hạnh phúc,
Được gần bậc hiền nhân,
Mới chắc chắn sống một lối sống của con người biết sống,
Tiếng này giàu có,
Của cải dư giật,
Cha mẹ không,
Chồng chết,
Chỉ có hai con thơ,
Này thiếp đến đây,
Nguyện theo chàng,
Mong chàng đừng phục,
Thiếp này thay chàng hầu hạ mẹ già,
Và giúp chàng học hành để thành danh đức,
Hầu sau làm lợi cho đời,
Nếu chàng cố chấp không nghe,
Thiếp rất tiếc,
Tài ba đức độ của chàng vùi sâu trong hang thảm,
Tiếng nàng trong và êm quá,
Trông như tiếng suối chảy vậy,
Êm như tiếng chim kêu,
Nàng nói với một vẻ thiết tha thành thật,
Câu chuyện mới cắt cớ làm sao,
Mỗi lời nói của nàng như giót vào tay của tráng sĩ vậy,
Tu lại mơ màng như người trong mộng vậy,
Chàng suy nghĩ,
Không biết là ta nằm mơ hay thật vậy,
Mà nàng là người hay là ma vậy,
Bỗng chàng nghiêm nét mặt và bảo,
Tôi xem nàng là người đoan chính lại giàu sang,
Là do phước bảo hút của đời trước đã gây tốt nhiều,
Còn tôi thì chỉ là một kẻ nghèo khổ thôi,
Làm sao xứng đáng với nàng đây,
Theo tôi một người xương phụ cần phải thờ chồng nuôi con,
Dạy vẽ cho con nên người,
Xứng với cả ý nghĩa con mới biết phải,
Thiết thật hơn tôi này còn có mẹ già,
Nếu tôi lập gia đình thì tình yêu mẹ sẽ bị săn xảy đi,
Nàng thì còn có con thơ,
Nếu mà nàng lập gia đình thì tình yêu cho con sẽ không nguyền vẹn nữa,
Mẹ tôi cần có tôi mới vui,
Con của nàng cần con nàng mới sống tốt được,
Vì vậy tôi khuyên nàng trở về nuôi con,
Và dứt bỏ câu chuyện này đi,
Còn nàng sợ đức độ tài ba của tôi sẽ mai một,
Nếu tôi quả có đức độ như nàng nói,
Thì trong rừng sâu,
Các loài cầm thú cũng cần có đức độ để che trở cho chúng,
Như thế có đức độ thì ở đâu mà lại không dùng cho được,
Nàng tiên ánh liền bay đi,
Trời đương sáng bỗng tối hẳn,
Người tráng sĩ cũng thấy nao nao trong lòng,
Nhưng mà rồi chàng lại vui vẻ lên nhiều,
Vì chàng đã chiến thắng,
Xong không hiểu sao,
Những chuyện kỳ lạ lại hay xảy đến với người nghèo lạ ấy,
Một hôm có một người lạ mặt hốt hoảng chạy đến,
Lôi ra một thỏi vàng,
Rồi thưa vết cả tu lại,
Thưa tráng sĩ, tôi xin biếu chút quả mọn này,
Nhờ tráng sĩ giúp cho tôi một việc,
Ngày mai đây nếu có ai hỏi,
Có một đoàn người đi qua đây hay không,
Thì tráng sĩ nói cho một tiếng là có,
Ở đây chỉ có tráng sĩ và tôi,
Ngoài ra không còn ai hay chuyện này cả,
Và lại tráng sĩ chỉ nói cho một tiếng cũng không sao,
Nói xong người bỏ lại vàng ở đấy,
Rồi chạy mất,
Tu lại chưa kịp suy nghĩ hiểu gì cả,
Nhưng mà chàng vội lượm vàng rồi chạy theo thật nhanh như chớp để kịp,
Tu lại kéo tay người kia,
Không không, vàng này ông cầm lấy đi,
Tôi không thể theo lời của ông được,
Tôi là một người Phật tử thì không bao giờ làm việc ám mũi,
Một lời nói của người quân tử trọng hơn nghìn vàng,
Nhưng một lời nói còn trọng hơn cả thân mạng,
Nếu ông đem nghìn vàng hay dùng uy thế để hại mạng tôi,
Bảo tôi nói dối,
Thà chết chứ không bao giờ tôi phạm giới cấm của Phật đâu,
Nói xong tu lại bỏ vàng rồi chạy thẳng,
Tiếng tốt của người tráng sĩ bay xa như ngọn gió mát,
Vô tình thổi từ rừng sâu đến thâm cung,
Vua A Dục là người hiếu kỳ,
Muốn thử chàng,
Nên những chuyện bỏ rơi,
Và người con gái đến tận hang,
Chính là do Đức vua A Dục,
Sau mấy lần thở thách,
Nhà vua biết tu lại là bậc hiền nhân,
Nên đem lòng đố kịp,
Sai người đến hại chàng,
Tôi vâng lệnh của nhà vua,
Đến giết tráng sĩ,
Người đao phủ cầm gương sáng bảo thế,
Hả,
Như vậy thì tốt quá,
Tôi rất cảm ơn Ngài,
Vì tôi mà hủy dùm cái thân ô quế đầy tội lỗi này,
Xong tôi còn chút mẹ già nhờ Ngài chiếu cố cho,
Tiên đao phủ ngạc nhiên trước thái độ thản nhiên của tu lại,
Ông là vô tội,
Nhà vua vì lòng đố kỳ sai tôi đến hại ông,
Vậy ông không giận nhà vua sao,
Không,
Tôi không giận mà còn thương hại nhà vua đã gây nhiều nghiệp ác,
Trước khi chết,
Tôi xin cầu Đức Phật cho nhà vua phát bổ đẻ tâm hồi hướng thiện niệm,
Tiên đao phủ mếm môi chặt lại,
Đỏ mặt đưa gơm lên cao,
Định ráng xuống đầu chàng,
Nhưng lưỡi gơm kia xuống từ từ rồi lại chẳng chém vào chàng nữa,
Sáng hôm sau vua A Dục lên tận hang chàng ở,
Đến nơi thì chàng đã đi đốn củi từ sớm rồi,
Vua chờ cả một ngày mới gặp,
Vua A Dục từ tốn bảo,
Chậm là vua,
Trong nước có hiền tài mà chậm biết chậm thật là đáng tiếc,
Ngày nay ở nước nhà loạn lạc,
Chậm mong tráng trĩ về chiều,
Cùng chậm trăm lo việc nước,
Được vậy thì thật là hạnh phúc cho nhân dân,
Chàng từ chối năm bảy lần liền,
Vua này nỉ cũng rất nhiều,
Cuối cùng chàng hẹn trong bảy ngày sẽ trả lời nhà vua,
Trong bảy ngày, ba lần nhà vua đến thăm,
Vua đều cho người hỏi thăm về chuyện đó,
Tu lại hỏi ý kiến của mẹ,
Mẹ chàng bảo,
Hiện nay mẹ ở trong nước,
Nhà vua thì đang yêu đương lãng mạn,
Hoang hôn, hà khắc dân tình,
Nhân dân oán thán đến nỗi họ đặt tên nhà vua là Chiêm Đà La A Dục,
Ông vua hung tận như người hàng thịt,
Triều đình thì nịnh thần ô lại,
Ngoài thì vua hung tàn,
Con ngỗ nghịch, vợ bất tránh, chồng bất lương,
Đạo đức hầu như mất hẳn,
Tất cả niệm xấu xa, độc ác kết hợp lại đó,
Do giặc cướp nổi lung tung,
Con này chấp kinh cũng phải tung quyền,
Vậy nhân cơ hội này con có dịp đem giáo lý của Đức Phật,
Để cảm hóa quần sanh hầu mong cứu vãn nhân tâm,
Đưa lại sự an ninh cho nhân loại,
Vâng lời mẹ tu lại về triều,
Vua A Dục lấy hai chữ quốc bổ, vật quý của nước,
Tặng tràng làm tên,
Trước hết quốc bổ đem ba pháp quy y,
Năm điều cấm dơ hít cảm hóa vua,
Vua A Dục từ khi biết quy đầu về Phật,
Thì không bao lâu đã trở thành một vị minh quân,
Ông đổi hẳn chính sách,
Lấy đức độ trị dân,
Không dùng oai thế tản bạo như trước nữa,
Vì thế mà nhân dân trong nước được trở lại cảm phục vua,
Từ đó đặt tên vua là Thích ca A Dục,
Ông vua hay làm điều nhân tử,
Trong nước nhà vua trọng những người hiền hiếu,
Trừng trị kẻ hoang dâm,
Cấm hẳn sự xa hoa cờ bạc,
Xăn bắn,
Triệt đẻ không rượu trẻ đàng điếm,
Người ra cả bệnh hoạn thì được săn sóc chú đáo,
Nhà nhà đều thở Phật,
Trọng tăng tu pháp thập thiện,
Nếu ai phạm một trong năm điều dân,
Phải bị trục xuất ra khỏi nước,
Nhờ vậy không bao lâu,
Trong nước trở lại thái bình an lạc,
Chú thích thập thiện,
Làm mười điều lành,
Thân không giết hại,
Không trộm cướp,
Không tà dâm,
Miệng không nói dối,
Không nói theo dẹt,
Không nói hai lưỡi,
Không nói độc ác,
Ý không tham lam,
Không giận dữ,
Và không si mê.
