Đập Tam Hiệp: Tượng Đài Cho Sự Ngạo Mạn Của Con Người

Làm Vườn
324 Người theo dõi
Lê Minh xin kính chào quý vị.
Thưa quý vị, những trận mưa như chút nước kéo dài đã khiến nhiều khu vực ở Trung Quốc
chìm trong sóng nước, gây tổn thất cực kỳ lớn đến cuộc sống người dân và kinh tế của đất nước.
Người xưa cho rằng, thủy hỏa, đạo tạc là bốn thứ tai hỏa gây gớm, trong đó hỏa nước là kinh khủng nhất.
Mặc dù lũ lụt là một hiện tượng phổ biến trên toàn cầu,
sông cũng chẳng có mấy nơi mà nó lại trở thành một hoạt động thường niên như là ở Trung Quốc.
Hỏi vì sao lại thế?
Bởi mưa lớn là tại thiên tai, nhưng lũ lụt nhiều khi lại vì nhân họa.
Trên khắp thần châu đại địa, sinh linh đồ thán, nhà tan cửa nát, vật mệnh nổi trôi.
Trải qua một cuộc bể dâu, những điều trông thấy mà đau đến lòng.
Câu thơ của thi hào Nguyễn Du lại có thể được hiểu thêm một nghĩa trực tiếp.
Một thứ vận nước đang lên theo đúng nghĩa đen là tai hỏa thường trực mà người dân phải đối diện hàng ngày.
Trái gược hẳn với những tô vẽ bóng bẩy trong diễn ngôn chính trị của Trung Nam Hải.
Những giấc mơ, những kế hoạch dự tính viển vông.
Trong chương trình này, chúng ta sẽ tìm hiểu đến gốc rẽ nguyên nhân của mối họa thủy ở Trung Quốc.
Đập tam hiệp, quả bom nước treo trên đầu dân chúng Trung Quốc
Theo Bộ Tài nguyên nước Trung Quốc, quốc gia này có hơn 98.000 con đập,
nhiều hơn mọi quốc gia khác trên thế giới.
Đa số chúng đều là những con đập quy mô vừa và nhỏ.
Cụ thể hơn, Trung Quốc sở hữu gần một nửa trong số 50.000 con đập lớn trên thế giới.
Còn trong danh sách 11 đập thủy điện lớn nhất thế giới,
Trung Quốc sở hữu tới 6 công trình, ví dụ như là đập tam hiệp, khê lạc độ, bạch hạc than, v.v.
Mưa lớn liên tục thách thức giới hạn chịu đựng của những con đập.
Trong đó có đập tam hiệp, con đập thủy điện lớn nhất thế giới,
nằm ở dốn của vùng lũ là tỉnh Tứ Xuyên và Hồ Bắc.
Vậy hãy lấy đập tam hiệp làm đại diện để nghiên cứu.
Đập tam hiệp được khởi công xây dựng cách đây trên dưới 30 năm và bắt đầu chứa nước từ năm 2003,
nhưng đã liên tục xuất hiện cảnh báo nguy hiểm vỡ đập.
Công trình này từ khi mới nằm trên giấy tờ đã không nhận được sự tông thuận của giới chuyên gia thủy lợi Trung Quốc.
Tuy nhiên, vì mục tiêu của cả hệ thống chính trị,
bất chấp sự phản đối của xã hội và các tầng lớp dân chúng,
nó đã được xây dựng để thỏa mãn giấc mơ vĩ đại của Đảng Cộng sản Trung Quốc CCP.
Nếu đập tam hiệp vỡ, dòng nước khổng lồ sẽ ảnh hưởng đến nhiều triệu người,
làm ngập luột các thành phố ở hạ du và xóa sổ các khu đất trùng tròn rộng lớn.
Vì thế, Trung Quốc sẽ càng căng thẳng vì an ninh lương thực,
con đập này như quả bom nước khổng lồ treo trên đầu dân chúng hết năm này qua năm khác.
Nhưng cũng ở vùng đồng bằng tứ xuyên màu mỡ đó,
có một công trình thủy lợi cổ đại vẫn đứng vững và hoạt động hiệu quả trong hơn 2.000 năm.
Đó là công trình nào và điều gì có thể khiến nó trương tồn như thế?
Đô Giang Yển, thành tiệu trị thủy 2.200 năm tuổi với chiếc lý thuận theo tự nhiên.
Đô Giang Yển là công trình thủy lợi cổ đại đã đứng vững suốt 2.200 năm,
đóng vai trò chính để tứ xuyên vùng đất Ba Thục xưa,
trở thành vựa lúa và sản vật nông nghiệp của Trung Quốc xưa nay.
Đô Giang Yển được xây dựng vào thời chiến quốc bởi một viên quan thái thú có tên là Lý Băng.
Đô Giang Yển gồm một con đê nâm hình miệng cá ngăn nước phân lũ nằm giữa sông Mân,
chia sông Mân thành sông trong và sông ngoài.
Con đê này không phải dùng để ngăn nước lũ mà nằm ngay giữa dòng sông,
tự động chia nước thành bên 4 bên 6.
Mùa nước lũ, nước chảy vào sông ngoài 6 phần, sông trong 4 phần.
Còn mùa nước cạn, nước chảy vào sông trong 6 phần, sông ngoài 4 phần.
Nước chảy vào sông trong, đổ vào cửa bảo bình,
chảy về phía đông cấp nước cho vùng đồng bằng xuyên Tây.
Để tiến thêm một bước nữa khống chế dung lượng nước chảy vào cửa khẩu bảo bình,
tại phần đuôi của đập chia nước miệng cá, người ta lại tu sửa mương bình thủy,
dùng để phân nước lũ và đường tràn lũ đập phi xa.
Khi mực nước sông trong quá cao, nước lũ sẽ men theo mương bình thủy qua đập phi xa ra sông ngoài,
đảm bảo khu thủy lợi sông trong tránh khỏi bị ngập úng.
Dòng nước xoáy từ đập phi xa chảy vào dòng nước sông ngoài,
đảm bảo bùn cát không tích tụ lại phía trước và phía sau cửa bảo bình.
Việc sửa chữa con đập của các triều đại sau này được thực hiện trên cơ sở bổ sung,
hoàn thiện thêm trong nguyên tắc thiết kế vĩ mô và bảo trì con đập,
khiến Đô Giang Yển có thể trường tồn và mang lại lợi ích đời đời cho các thế hệ người dân Trung Quốc.
Thậm chí vào năm 2008, cơn động đất vấn xuyên với sức tàn phá khủng khiếp
gây thiệt hại nặng nề cho thành phố Đô Giang Yển.
Nhưng về cơ bản, đập Đô Giang Yển vẫn bình yên vô sự.
Điểm đặc biệt của công trình này đó chính là chiết lý thuận theo tự nhiên
và tư tưởng thiên nhân hợp nhất của cổ nhân Trung Hoa.
Chiết lý ấy ở việc xây dựng Đô Giang Yển là tiếp nối tinh thần xa xưa
trong đền văn hóa thần truyền 5.000 năm Trung Hoa.
Đó là không đối đầu mà chung sống hòa bình với tự nhiên,
lại khéo léo mượn được sức mạnh của tự nhiên để biến điểm bất lợi trở thành thuận lợi.
Do vậy, đã nói đến Đô Giang Yển, ta phải chờ ngược lên 4.000 năm trước
tới công trình trị thủy của vua Đại Vũ Nhà Hạ.
Đại Vũ và Đạo lý trị thủy trong văn hóa thần truyền
Khi vua Nghiêu trị vì, lưu vực sông Hoàng Hà xảy ra nhiều thủy tai.
Bây giờ Nghiêu mới giao nhiệm vụ trị thủy cho Cổn,
vốn là hội rệ của hiên viên hoàng đế và có tài năng xây dựng các bức tưởng.
Tuy nhiên vì kiêu ngạo ngoan cố, Cổn chỉ biết đắp hết con đập này
đến con đập khác để ngăn lũ, và kết quả là khi nước dân cao đập vỡ
khiến hậu quả càng tai hại hơn. Việc ấy diễn ra trong suốt 9 năm.
Khi Thuấn thay Nghiêu làm vua, ông thấy Cổn vô năng
gây nhiều hậu quả do trị thủy bất thành. Bèn trị tội,
rồi lấy Vũ là con trai Cổn để thay Cổn trị thủy.
Vũ đã không làm vua Thuấn thất vọng. Ông đổi cách làm của cha.
Đại Vũ dùng cách khơi thông để trị thủy, gặp núi xẻ núi, gặp dốc đắp đê,
khơi thông dòng nước, thuận theo thế dòng chảy mà dẫn nước,
cuối cùng đưa ra biển. Trong suốt 13 năm làm việc không ngừng nghỉ,
cuối cùng Đại Vũ đã thành công. Ông được vua Thuấn chuyển ngôi và lập ra nhà hạ.
Cách trị thủy của Đại Vũ và sau này là lý băng với đập đô giang hiển
quá khác biệt với công trình đập tam hiểm. Khác biệt ấy là gì?
Chính là sự đối lập giữa đạo lý thuận theo tự nhiên của cổ nhân Trung Hoa
với quan điểm đấu trời, đấu đất, đấu người của chính quyền Trung Quốc.
Cách đặt vấn đề đối lập nhau, kết quả tất nhiên sẽ hoàn toàn khác biệt.
Sự khác biệt trong chiếc lý trị thủy của văn hóa thần truyền và văn hóa của CCP
Dòng sông Trường Giang hay Dương Tử chính là một trong vài con sông lớn nhất
trên thế giới. Trong thi phẩm Lâm Giang Tiên, Dương Thận viết
Cồn cồn Trường Giang đông thệ thủy, lãng hoa đào tận anh hùng.
Trường Giang cuồn cuộn chảy về đông, bạc đầu ngọn sóng cuốn anh hùng.
Con sông ấy đã trở nặng ký ức lịch sử của Trung Hoa suốt mấy nghìn năm nay.
Ngày đêm nó cuồn cuộn không ngừng chảy ra Đông Hải, mang theo một lượng nước khổng lồ.
Tuy nhiên từ thời cổ, người Trung Hoa chỉ biết đến Hà Hoạn,
tức là nạn sông Hoàng Hà, chứ hiếm khi biết đến Giang Hoạn,
tức là lũ lụt sông Trường Giang.
Chính là vì rừng nguyên sinh trên thượng du Trường Giang có năng lực
trữ khoảng 400 tỷ khối nước.
Nhưng sau khi CCP giành được chính quyền, họ đã tàn phá rừng nguyên sinh bừa bãi
khiến rừng mất đi khả năng giữ trữ 300 tỷ khối nước,
tương đương với 10 công trình tam hiệp, và chỉ còn giữ trữ được 100 tỷ khối.
Năm 2020, Fan Xiao, một nhà địa chất Trung Quốc và là người theo dõi lâu năm
về con đập tam hiệp, cho biết rằng một trận mưa lũ lớn sẽ mang đến hơn 244 tỷ mét khối nước,
tức là khoảng gấp đôi thể tích của biển chết có thể đi qua đập tam hiệp trong 2 tháng,
theo tính toán của Phan.
Ông còn nói thêm, khả năng chứa của hồ chứa của đập chỉ có thể xử lý khoảng 9% lượng đó,
nó giống như việc sử dụng một chiếc cốc nhỏ để xử lý một bồn nước lớn.
Về mặt kiểm soát lũ lụt, chi phí của con đập chắc chắn cao hơn lợi nhuận thu được.
Giờ đây khi toàn bộ lượng nước đã đổ xuống lòng sông, chính quyền Bắc Kinh lại chặt ngang lưng
con sông Trường Giang ở hai đầu hồ Bắc và Trung Khánh với tham vọng quây nhốt dòng sông hùng mạnh
như hồng thủy mánh thú này trong một cái chuồng chật hẹp.
Công trình được giới lãnh đạo Bắc Kinh coi như vạn lý trưởng thành thứ hai
với những cánh nhất thế giới và tuyên truyền rằng để cài tạo thiên nhiên, bắt thiên nhiên phục vụ con người.
Thực ra là để chứng tỏ rằng CCP tài ba, vĩ đại hơn cả tạo hóa,
chính là thể hiện tinh thần đấu trời đấu đất một cách cực đoan và ấu trị nhất
với cách làm cầu thà và thiếu trách nhiệm nhất.
Cồn mà có sống lại, chắc cũng phải trao thua Trung Nam Hải về độ phá hoại,
nói riêng về việc dùng các con đập.
Đã dám đấu trời đấu đất thì ngại gì không đấu người,
nên xã hội Trung Quốc từ khi áp dụng triết lý đấu tranh này mới triển miên loạn lạc, chém giết bức hại.
Người với người đấu với nhau đến một mất một còn, khi văn hóa chiến lang thịnh hành,
con người không bao giờ được hưởng hạnh phúc thực sự của một xã hội thái bình,
nơi đạo đức và văn minh ngợi trị.
Còn các công trình trị thủy cổ đại chính là dư ở trên đạo lý thiên nhân hợp nhất
và thuận theo tự nhiên của cổ nhân Trung Hoa.
Thế nào là thiên nhân hợp nhất?
Người xưa quan niệm rằng con người là một tiểu vũ trụ, tức là một vũ trụ thu nhỏ.
Do vậy giữa con người và trời đất, môi trường tự nhiên có sự tương đồng và cảm ứng lẫn nhau.
Ta hãy lấy một vài ví dụ tiêu biểu.
Vào cuối những năm 60 thế kỷ trước, nhà khoa học về môi trường và tương lai học của anh
tên là James Lovelock đã đưa ra giả thuyết Gaia
cho rằng trái đất là một vật thể sống có thể tự điều tiết nội tại để duy trì trạng thái ổn định của mình.
Đây là một đặc tính mà chỉ có vật thể sống hữu cơ mới có,
nên có thể gọi là cân bằng nội tại.
Trạng thái này tương tự với khả năng tự chữa bệnh của con người.
Do vậy, sự cân bằng nội tại này giúp cho trái đất có thể giữ ổn định các đặc tính vật lý hóa sinh,
ví dụ như là thành phần trong không khí hay độ mặn của nước biển, v.v.
Đồng thời trái đất còn có khả năng hồi phục, tự chữa lành sau các thiên tai định họa.
Nước ba phủ 3 phần 4 bề mặt trái đất cũng tương tự nước chiếm 3 phần 4 trọng lượng thân thể người.
Các con sông chính trên trái đất cũng nằm gần vĩ độ 30 độ Bắc, giống như máu của cơ thể chảy qua tim.
Hệ thống tuần hoàn máu trong cơ thể của con người được chia thành các động mạch và tính mạch,
cùng các mau mạch đan chéo nhau.
Trên trái đất cũng có những con sông lớn như động mạch chảy qua các khu vực quan trọng nhất,
như là sông Trường Giang chảy qua Trung Quốc, sông Mississippi chảy qua Hoa Kỳ,
sông Nile chảy qua Ai Cập và sông Danube chảy qua hầu hết các nước châu Âu.
Nhiều nhánh của những con sông lớn đó và một số dòng sông nhỏ,
như các mau mạch chạy trong cơ thể con người, chúng uốn khúc và chạy tới mọi ngóc ngách trên trái đất.
Trái đất cũng có các mạch huyệt là đường đi của khí, của năng lượng,
cũng tương tự như là hệ thống kinh lạc trên cơ thể người.
Việc châm cứu trên các huyệt cơ thể người cũng tương tự như là chấn trạch trên huyệt đất,
đều là tác động tới dòng năng lượng chạy trong cơ thể người hay mạch đất,
từ đó mà chữa bệnh hay hóa giải tai họa đem lại phúc khí.
Thiên nhân hợp nhất cũng tức là có sự tương ứng tương tự giữa cơ thể người và cơ thể thiên nhiên.
Chặt đất một dòng sông bằng đập nước cũng tương tự như bóp nghẹt mạch máu trên cơ thể người.
Cơ chế thuận theo tự nhiên đã bị cơ chế nhân tạo thay thế,
nhưng có thể thay thế được không?
Người tắc mạch thì người chết, sông tắc dòng thì sông cũng chết.
Chỉ là cái chết của nó không ngay lập tức như cơ thể người,
nhưng sông núi thiên nhiên mà chết, hỏi con người tồn tại được chăng?
Vì thế tuân theo triết lý thiên nhân hợp nhất cũng chính là thái độ thống nhất với thuận theo tự nhiên.
Trong tác phẩm kinh điển của Đạo gia là Đạo Đức Kinh, Đức Lão Tử viết
nhân pháp địa, địa pháp thiên, thiên pháp đảo, đảo pháp tự nhiên,
tạm dịch là người thuận theo đất, đất thuận theo trời,
trời thuận theo đảo, đảo thuận theo tự nhiên.
Ngày nay, chính quyền Trung Quốc dạy con người ta làm điều ngược lại,
đấu trời đấu đất, đấu cả con người.
Con người mà đấu cả trời đất thì lấy đâu ra chỗ nương thân đấy?
Con người ham đấu với nhau thì lấy đâu ra thiên hạ Thái Bình?
Ngược lại, chính vì triết lý thiên nhân hợp nhất nên trân trọng trời đất thiên nhiên
thì cũng là trân trọng con người chứ không đề cao đấu tranh.
Vì con người là một tiểu vũ trụ, một sinh mệnh thượng đẳng trên mặt đất,
là sáng tạo của thần theo hình ảnh của thần.
Dẫu là câu chuyện sáng thế trong văn hóa phương Tây,
hay chuyện nữa hoa tạo ra con người trong văn hóa Trung Hoa,
hay của các dân tộc khác đều là như thế.
Điều này cũng được thể hiện ở mọi phương diện trong văn hóa thần truyền.
Thậm chí cả ở trong quân sự, nơi tưởng như chỉ có tranh đấu sát phạt,
thì đỉnh cao binh pháp của tôn tử cũng là không cần đánh mà làm kẻ địch khuất phục
mới gọi là sáng suốt nhất trong sự sáng suốt.
Đức Lão Tử cũng viết,
Binh đao là vật bất tường, ai cũng ghét, cho nên người có đạo chẳng thích dùng.
Ngài lại viết,
Binh đao là vật bất tường, quân tử chẳng nên dùng nó, bất đắc dĩ mới phải dùng.
Người quân tử ưa sống điềm đạm, thắng không có mừng.
Mừng vì thắng hẳn là tâm địa kẻ thích giết người.
Thích giết người không thể cai trị thiên hạ.
Còn thi tiên Lý Bạch viết,
Nãi chi binh giả thị hung khí, thánh nhân bất đắc dĩ nhi dụ chi.
Tạm dịch là,
Xưa nay binh lửa là hung khí, thánh nhân chẳng đặng mới dùng thôi.
Chiến thành nam, nguyễn duy chính dịch.
Tế ra, dù là thiên nhân hợp nhất,
thuận theo tự nhiên trong hoàn hoa thần truyền
hay đấu trời, đấu đất, đấu người của chính quyền Trung Quốc,
thì đối xử với tự nhiên cũng chính là đối xử với con người.
Và chị Thủy chính là chị quốc, chị nhân.
Chị Thủy chính là chị quốc, chị nhân.
Hãy một lần dừng lại và ngắm dòng người đang di chuyển cuồn cuộn trên đường,
chúng ta sẽ nhận thấy sự tương đồng với một dòng nước chảy.
Dòng nước đang chảy xuôi, khi gặp chứa ngại vật,
nó sẽ khéo léo tìm những khe hở, kẽ nứt để rẽ ra hai bên vật trắn
và nhập lại để rồi chảy tiếp.
Dòng người đang lưu thông cũng thế.
Thiên nhân hợp nhất vốn có nhiều nội hàm.
Người Việt ta cũng có câu, nhân sao vật vậy.
Do vậy, chúng ta hãy thảo luận về một khái niệm gọi là phép tràn.
Nước vốn chảy ngầm, thuận theo đạo tự nhiên,
tư động tuần hoàn và tịnh hóa ở trong các mạch nước ngầm,
vô hình, không dấu phết, lặng lẽ làm lợi cho vạn vật.
Khi mạch nước ngầm bị phá hoại, tắt nghẽn,
không thu nhận và rung nạp được nhiều nước như trước,
thì phần nước ngầm tương ứng sẽ dần dần trào lên mặt đất,
tràn ra sông hồ, ngập đất đai, trở thành tai hạ.
Lúc này cần phải học theo đạo tuần hoàn của nước ngầm.
Trên mặt đất cần mở rộng hay khai thông sông ngòi ao hồ
để dẫn phần nước tràn trở về với đạo của tự nhiên,
tiếp tục tuần hoàn, tịnh hóa, làm lợi cho vạn vật trên mặt đất
mà không tạo thành tai hạ.
Cùng với việc môi trường tự nhiên không ngừng bị tàn phá và xấu đi,
sông ngòi trên mặt đất cũng dần dần bị cản trở hoặc biến dòng,
khiến nước tràn khỏi sông ngòi, ngập đất đai, tạo thành lũ lụt.
Lúc này cần khơi dòng sông ngòi, hoặc đào thêm kênh,
đồng thời men theo dòng chảy để đắp đê,
khiến nước sau khi tràn ra khỏi sông vẫn bị đê điều ngăn chặn,
tiếp tục xuôi theo dòng sông chảy.
Cuối cùng, nước đổ về biển lớn mà không gây ngập lụt, phá hoại.
Đó là cách trị thủy của đại vũ của Lý Băng.
Nếu xây những con đập trắng ngang để dốt nước thì át tức nước vỡ bờ,
sẽ có lũ lụt sinh linh đồ thán và đó là cách làm của chính quyền Trung Quốc.
Cùng với cái lý như vậy, thùa ban đầu nhân tâm vốn là tốt đẹp,
thuần chân, thiên hạ tự nhiên vận hành trong đảo,
hài hòa và hoàn mỹ, giống như nước tự động vận hành ở các mạch ngầm.
Cùng với sự phát triển của xã hội và ô nhiễm hậu thiên,
tâm hồn nhân loại trở nên không còn thuần chân nữa,
từ đó lệch khỏi đảo, sinh ra các loại tư tâm tham dục.
Đảo không thể nào hoàn toàn chế ước cái tâm con người được nữa và sẽ xảy ra tràn.
Mức độ tràn lớn đây đâu là tương ứng với sự thoát ly của con người ra khỏi đảo đây đấy.
Dần dần đảo suy giảm mức độ ảnh hưởng lên nhân tâm so với hàng nghìn năm trước,
nhưng tinh hoa văn hóa truyền thống vẫn còn, nó vẫn là một bộ phận của đảo
và nó vẫn giúp duy trì, ước thúc đạo đức, văn hóa của xã hội Trung Hoa
Những quy tắc ứng xử như là vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con,
hoặc là cha nhân tử, con hiếu thuận, anh thuận thảo, em cung kính,
vợ chồng thì kính nhau như khách, cùng những giá trị quan hiểu thần
của cả xã hội về nhân quả báo ứng, hay trên đầu ba thước có thần linh, v.v.
Ở Trung Hoa cổ, các triều đại đi sau luôn cố gắng đưa xã hội
quay trở lại trạng thái đạo đức cao hơn triều đại trước,
hoặc ít ra phải giữ được giá trị đạo đức căn bản nói trên.
Do vậy, vẫn có những nỗ lực để dẫn cho nhân tâm đang tràn quay lại với đạo, với đức.
Triều đại nào thất bại trong nhiệm vụ ấy, sẽ diệt vong.
Nhưng CCP bây giờ thì hoàn toàn làm ngược lại, vì mục tiêu phá hủy của họ
là tín ngưỡng lòng kính thần, văn hóa truyền thống hay văn hóa thần truyền,
chính là phá hủy đạo đức và nhân tâm hay là lòng người.
Giống như mạch nước bị phá hoại khiến nước ngầm tràn lên bề mặt,
nhân tâm không chịu sự tự ước chế theo tiêu chuẩn đạo đức truyền thống,
thì sẽ đem lại tai nạn cho xã hội.
Thế là các loại tội phạm và chiến tranh bắt đầu xuất hiện trên diện tích lớn.
Sự tốt đẹp và hài hòa của xã hội vì thế mà bị phá vỡ,
rồi để ngăn chặn, Bắc Kinh lại tiếp tục xây những con đập pháp luật ngày càng cao,
những quy định ngày càng hà khắc và thiên vị, khiến cho không gian sống ngày càng tù túng ngột ngạt.
Đồng thời, họ dùng bạo lực và lừa dối để đối phó,
chứ hoàn toàn không có ý định quy chính hay giáo hóa con người,
theo những tiêu chuẩn đạo đức đã duy trì xã hội ổn định cả hàng nghìn năm.
Thành thử ra, những con đập tam hiệp nhân tạo ở trong lòng người Trung Quốc cũng đang vỡ lở.
Phương Tây hiện đại trị thủy như thế nào?
Thưa quý vị, ở phương Tây hiện nay, về nguyên tắc,
người ta hiểu rằng không thể nào cưỡng bức dòng nước được,
nên chỉ có cách là tạo chỗ để tháo nước và dẫn dòng nước thoát đi.
Tình cờ, đó lại chính là nguyên lý thuận theo tự nhiên.
Tại châu Âu, đã có các chính sách chống lụt vào thiên tai một cách tổng thể và dài hơi,
thay vì đối phó khi thiên tai xảy ra vì khí hậu biến đổi,
mưa bão dữ dội là các vấn đề lớn mang tính toàn cầu.
Đó là trồng rừng ở thượng nguồn các sông ngòi,
để cây to giữ đất tránh sụt lở và thảm rừng xanh thấm nước ngay từ đầu trận mưa.
Đó là duy trì các hồ nước gần đô thị lớn, gọi là letting pools,
có đường dẫn thông với sông ngòi quanh vùng dân cư để điều tiết nước.
Chẳng hạn, bang Houston của Mỹ đang lên kế hoạch xây hồ lớn ở ngoài Âu
trị giá 400 triệu USD để đề phòng lụt to.
Ở châu Âu, sông ngòi đang được tháo gông khỏi những con đập để điều phối nước tự nhiên.
Anh quốc lên kế hoạch mang tên National River Restoration Inventory
để phục hồi 1.500 km sông trên cả nước qua 2.700 dự án nhỏ.
Cho đến nay, chừng 1.500 dự án đã hoàn tất, nhiều đoạn sông bị lấp nay được khơi lại.
Ở Tây Ban Nha, sông lớn Riro nay đã được chảy tự do với mọi đập chắn bị dỡ đi.
Ở Pháp, nhờ cuộc vận động của giới bảo vệ môi trường,
sau 20 năm, sông Loa đã thoát khỏi con đập Sierre de la Fere gần Lê Phủy.
Tại Đan Mạch, sông Sken giành lại các đầm lầy ven bờ để nước lụt tràn ra tự nhiên.
Ngay cả con sông Đam Nip cũng đã được phục hồi gần hết những khu vực bị nắn dòng
và bị cắt đứt khỏi dòng chảy trung.
Đây là nỗ lực hợp tác của 19 nước châu Âu nơi con sông chảy qua.
Hiện nay, hợp tác quốc tế đã phục hồi gần hết các khu vực đó,
vừa tạo môi trường tuyệt vời cho hệ sinh thái ven sông, vừa lập các khu chứa nước tràn.
Một trong các biện giải về mục đích xây dựng các con đập nói chung
và đặc biệt là đập tam hiệp nói riêng,
đó chính là ngoài chức năng phát điện thì còn để kiểm soát lỗ lụt, điều tiết nước tưới tiêu.
Sau ngày nay, mục đích căn bản ấy đều phá sàn cả,
nên cứ mỗi năm người dân Trung Quốc khốn khổ vì mưa của trời còn ít hơn vì đập của người.
Lịch sử nhân loại đã chứng minh rằng những thứ phản đảo,
đi ngược lại quy luật của tự nhiên và lòng người thì tất yếu sẽ diệt vong.
Nếu coi quá trình trị thủy cũng chỉ là một biểu hiện ở khía cạnh khác của trị quốc,
thì chẳng phải điều cốt yếu của một xã hội an bình, ổn định,
chỉ là lòng người, là nhân tâm bên trong hay sao?
Ngoại lực vĩnh viễn sẽ không thay đổi được nhân tâm,
cũng như những con đập chẹn ngang dòng nước được tạo bởi sức người,
sẽ không bao giờ có thể khống chế được sức mạnh của tự nhiên và vũ trụ.
Vậy thì con đường đúng đắn để phát triển không phải là khoán trời đổi đất,
cải tạo thiên nhiên hay bắt thiên nhiên phục vụ mình,
mà phải là thuận theo tự nhiên, nương theo tự nhiên,
cũng như nhân tâm chỉ có thể khuất phục bằng đạo đức,
bằng lòng bao dung bác ái và bằng sự thật.
Như thế thì xã hội sẽ tự khắp an hòa mà không cần phải xây thêm con đập ngăn nào nữa.
Mưa lớn như đổ nước từ trời xuống,
các tỉnh miền Nam Trung Quốc ngập trong biển nước mênh màng.
Ngày 24 tháng 6, lượng mưa chút xuống thành phố Trường Sa, tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc.
Trong một tiếng đồng hồ, có số lượng nước đã đủ để đổ đầy 54 tây hồ ở Hàng Châu.
Ở Trường Sa, có nơi nước sâu đến cổ người lớn.
Nhiều nơi khác ở miền Nam Trung Quốc cũng đang có mưa lớn và lỗ lụt,
như là các tỉnh Triết Giang, An Huy, Phúc Kiến, Giang Tây, Hồ Bắc, Hồ Nam, Quý Châu,
Quảng Đông và khu vực Quảng Tây.
Thành phố Quế Lâm, tỉnh Quảng Tây hứng chịu trận lũ tồi tệ nhất trong 30 năm qua.
Kể từ giữa tháng 6, do mưa lớn liên tục và lũ từ thượng nguồn xả ra
khiến mức nước dân cao đột ngột đã ảnh hưởng đến hơn 180.000 người.
Mức nước tại trạm thủy văn thành phố Quế Lâm từng có thời điểm lên tới gần 149 mét.
Nước sông dân cao và tràn vào khu vực đô thị,
thành phố Mai Châu, tỉnh Quảng Đông cũng biến thành biển nước mênh mông.
Người dân Trung Quốc ở nhiều địa phương miền Nam cho biết
chưa bao giờ thấy mưa lớn và lũ dâng lên nhanh đến vậy.
Tài sản mất mát, sinh hoạt khó khăn, môi trường sống bị hủy hoại
và tính mạng người dân bị đe dọa nghiêm trọng.
Những công trình và di tích văn hóa có hàng trăm năm, cả nghìn năm tuổi
cũng bị trôn vùi tan nát trong rổng nước, chẳng hạn như ở tỉnh An Huy.
Nguyên nhân của tất cả những thiên tai dị tượng này là gì?
Hãy cùng chúng tôi khảo cứu trong chương trình hôm nay.
Có phải chỉ vì nước từ trời tuôn xuống?
Ở tỉnh An Huy, có làng Trình Khảm, là nơi mà nhà triết học Chu Huy
từng gọi là giang nam đệ nhất thôn.
Đây là một trong những ngôi làng có số lượng di tích kiến trúc cổ Huệ Châu lớn nhất,
chẳng hạn như là đền La Đông Thư và quần thể tòa nhà cổ.
Ở đây còn có cây cầu Hoàn Tú được xây dựng từ thời nhà Nguyên,
đến nay đã có khoảng 700 năm tuổi, song đã bị lũ lụt làm hư hại.
Chưa hết, đài phát thanh văn nghệ Thanh Đảo hôm 24 tháng 6 đưa tin
tượng nhà thơ Lý Bạch ở thị trấn Đào Hoa Đàm,
thành phố Tuyên Thành, tỉnh An Huy, đã bị ngập tới ngực.
Đây là bức tượng nằm trong quần thể di tích miêu tả cảnh tượng
hào sĩ Uông Luân tiễn thi tiền Lý Bạch bên bờ đầm Đào Hoa.
Đi cùng với nó là một kiệt tác thi ca về tình bạn khi ly biệt.
Một thi phẩm chỉ có bốn câu, 28 chữ,
mà còn để lại nghìn năm lưu luyến cho hậu thế.
Nó có tên gọi là Tặc Uông Luân.
Lý Bạch thừa chu tương dục hành,
hốt văn ngạn thượng đạp ca thanh,
Đào Hoa đàm thủy thâm thiên sích,
bất cập Uông Luân tống ngã tỉnh.
Dịch giả Ngô Văn Phú dịch là
Lý Bạch lên thuyền sắp sửa xa,
trên bờ nhịp nhảy rộn lời ca,
Đào Hoa đầm rộng sâu ngàn thước,
khôn sánh tỉnh Uông đưa tiễn ta.
Chuyện kể rằng, vào năm 754,
tức năm Thiên Bảo thứ 13 đời nhà Đường,
có Uông Luân là một hào sĩ ở Kinh Xuyên,
từng làm huyện lệnh ở Kinh huyện,
nay thuộc tỉnh An Huy,
rất thích giao du với các danh sĩ và vô cùng hâm mộ Lý Bạch.
Một lần nghe nói Lý Bạch đang trên đường du ngoạn sắp qua nơi đây,
Uông Luân bèn gửi thư đón mời.
Trong thư có nói rằng,
trộm nghe thơ, mộ ngưỡng mộ tiên sinh đã lâu,
tiên sinh thích du sơn ngoạn thủy trắng,
ở đây có 10 dặm đào hoa,
tiên sinh thích uống rượu à,
ở đây có vạn gia tiểu điếm,
xin chắp tay đứng chờ trước cửa.
Lý Bạch xem thư cho rằng đó là nơi rất đáng đi ngao du,
nên nhận lời mời ngay.
Đến nơi, Uông Luân mới cho biết,
cái gọi là 10 dặm đào hoa,
là đầm nước có tên là đầm hoa đào,
tức là đào hoa đàm.
Cái gọi là vạn gia tiểu điếm,
vạn quán rượu,
chỉ là một quán rượu có tên là vạn gia mà thôi.
Chỉ có tấm tình ước mộ,
quyến luyến Lý Bạch là thật mà thôi.
Lý Bạch nghe xong không giận mà cười lớn,
rồi ở lại chơi với Uông Luân vài ngày.
Khi từ biệt, Uông Luân tặng Lý Bạch 8 con ngựa
và 10 cuộn gấm đẹp.
Cuộc chia ly diễn ra trong một sớm thu
hơi may man mát,
Uông Luân đích thân tiễn chân Lý Bạch,
cả hai người đều trong tâm trạng
dùng răng nửa ở, nửa về.
Dường như họ biết,
cuộc tao ngộ này lần đầu
cũng là lần cuối,
vì đất thần châu này đủ bao la
cho một đời ưa xê dịch của Lý Bạch.
Hốt nhiên, Lý Bạch nghe tiếng Uông Luân
hát điệu đạp ca,
tức là vừa đi vừa hát,
vừa dậm chân làm nhịp phách,
tình cảm vừa thuần phát, vừa chân thành.
Lý Bạch trong lòng xúc động,
ví von rằng nước đầm đào,
trong vắt sâu đến ngàn thước,
cũng chẳng sâu sắc bằng
tình bằng hiếu mà Uông Luân
dành tặng cho mình.
Phép tác thơ cổ đại là lời kị thẳng,
ý kị nông, mạch kị lộ,
vị kị cắn.
Nhưng với bài thơ này,
Lý Bạch phạm các kiêng kị phép tác thơ ca
thẳng thắn, dung dị, bộc lộ,
tuy lời thẳng, mạch lộ,
mà ý chẳng nông,
vị càng nồng,
được người đời ca ngợi là
không gọt, không rũa,
tự nhiên thành vần điệu,
lời nói từ tình cảm hết sức chân thành,
cho đến trở thành tuyệt diệu.
Và quân thể tượng Uông Luân
tiễn Lý Bạch trên bờ đầm đào hoa
cũng nhờ đó mà trở nên nổi tiếng.
Song bức tượng Uông Luân ngồi
lúc này chim nghìm trong lòng nước giữ.
Uông Luân nếu là người thật người đó,
thì giờ đây chỉ có thể thở ra
mấy cái bong bóng để đáp lễ,
vì đào hoa đầm này đã sâu hơn cả
ngàn thước, cũng chẳng phân biệt được
đâu là đầm, đâu là bờ nữa.
Còn tượng Lý Bạch bị nước
ngập lên ngang ngực, chỉ còn thấy
khuôn mặt ông ngước lên, tay trái
dơ chén rượu hướng lên trời
như muốn than với bạn mình rằng
Anh không thấy, nước hoàng hà
từ trời tuôn xuống, chảy
nhanh ra biển, chẳng quay về.
Chính là câu thơ mở đầu
trong tuyệt phẩm Tương Tiến Tử
của Lý Bạch mà giờ đây được cư dân mạng
Trung Quốc coi như là một lời tiên tri
của vị tiên thơ.
Nhưng nước từ trời tuôn xuống
cũng chẳng hại bằng nước dông người dâng lên
vì thảm họa lụt lội này
quyết không phải chỉ vì mưa lớn.
Đập nước xả lũ
không báo trước là nguyên nhân
của lũ lụt tăng nhanh.
Mưa lớn cũng chỉ là một phần nguyên nhân
gây ra lũ lụt, bởi vì chưa bao giờ
mưa có thể khiến cho lũ lụt dâng lên
nhanh như vậy ở Đông Bằng. Chẳng hạn
vào ngày 23 tháng 6, tài khoản
Video Tiêu Điểm trích dẫn một đoạn
video từ đài truyền hình Tứ Xuyên
tiết lộ quá trình nước dâng cao trong thực tế
tại một ngôi làng ở An Huy.
Chỉ trong vòng mười mấy phút,
nước dâng cao lên đến 4-5 mét.
Còn tại thành phố Trường Sa,
hai nhân viên của một nhà hàng
ở khu vực thương mại Khê Duyệt Hội cho biết
nước bắt đầu dâng cao vào khoảng 9 giờ sáng,
đến khoảng 11 giờ thì toàn bộ
tầng 1 của nhà hàng đã bị ngập,
chứng tỏ nước dâng lên rất nhanh.
Tất cả những trận mưa lớn
ở thành phố Mai Châu, tỉnh Quảng Đông,
Quế Lâm, tỉnh Quảng Tây
và tỉnh Phúc Kiến v.v.
không thể khiến mực nước dâng cao nhanh đến thế
nếu không có bàn tay của nhà nước
trong việc xả lũ không báo trước.
Và đây là điều mà truyền thông chính thống
của Trung Quốc im lặng không hé mồi.
Ngày 16 tháng 6 năm 2024,
Hồ Chứa Hoàng Điền ở thôn Hoàng Điển,
huyện Bình Viễn, thành phố Mai Châu
đột ngột xả lũ, camera giám sát
đã ghi lại quá trình một ngôi nhà
ở thôn Trương Diễn, huyện Bình Viễn
bị chìm ngập.
Video cho thấy mực nước ở địa phương này
dâng cao đột ngột lên 2 mét
trong vòng 3 giờ.
Trong hình ảnh này, chỉ cần nhìn vị trí
của con lợn bám vào thì có thể biết được
mực nước lũ dâng cao như thế nào
khi xả lũ ở Quảng Đông.
Mới đây, nhiều video trên mạng Soex
còn cho thấy, vào ngày 22 tháng 6,
do mưa lớn ở Hàm Ninh, hồ Bắc,
khiến hơn 20.000 con gà
của một nông dân bị chết đuối.
Theo người nông dân trong video,
nhiều hồ chứa cùng lúc mở cửa xả lũ,
nước đột ngột dân cao hơn 1 mét
trong 7 phút, không có cách nào
tự cứu. Cứu được 1.000 con gà,
còn hơn 20.000 con
bị chết đuối. Thiết hại khoảng
200.000 nhân dân tệ. Chúng tôi tự nuôi,
làm sao mua bảo hiểm được?
Theo thông báo của chính quyền,
thì tính đến 15 giờ ngày 21 tháng 6,
nạn mưa lớn ở huyện Bình Viễn,
thành phố Mai Châu đã khiến
38 người tử vong và 2 người bất tích.
Xong con số thực là bao nhiêu,
thì chỉ có trời mới biết được.
The Virgin Times đã phỏng vấn
bà Thịnh Tuyết, một nhà văn
sống ở Canada và là phó chủ tịch
toàn cầu của mặt trận dân chủ. Bà nói,
Khi nhìn thấy trận lũ lụt này,
suy nghĩ đầu tiên của tôi là trận lũ lụt
ở Chắc Châu, tỉnh Hà Bắc năm ngoái,
cũng là do chính quyền cố tình
dẫn lưu xả nước lũ và gây ra
thảm họa lũ lụt vào thời điểm đó.
Rốt cuộc là bao nhiêu người chết khi đó, không ai
có thể biết, và chính quyền sẽ không bao giờ
nói cho mọi người biết sự thật.
Sự thật là khi biết sắp có thời tiết
tự nhiên như vậy, họ không hề nghĩ
biện pháp cứu người để dân chúng
có thể tránh khỏi thảm họa, mà là khi
mọi người đang ngủ vào ban đêm, khi
mọi người hoàn toàn không có sự chuẩn bị trước,
thậm chí không có khả năng trốn thoát,
họ đã dùng biện pháp xả lũ để
đạt được mục đích chính trị của mình.
Không chỉ có bà Thịnh Tuyết,
cựu nhân vật truyền thông chính thống của Trung Quốc
là Triệu Lan Kiện, cũng nhớ đến sự việc năm ngoái
ở Chắc Châu, tỉnh Hà Bắc,
nơi chính quyền Bắc Kinh đã xả lũ
để bảo vệ Hùng An. Ông mô tả
vụ việc là một cơn lũ chính trị.
Hùng An là một thành phố được
xây dựng theo chủ trương của nhà lãnh đạo
Trung Quốc Tập Cận Bình, nhằm biến nó
trở thành một thành phố kiểu mẫu để
ghi dấu ấn chính trị của ông.
Sông đây vốn là vùng xả lũ tự nhiên
ở đồng bằng Trung Quốc. Về logic mà nói,
một khi nơi xả lũ tự nhiên được xây dựng
thành một thành phố, thì các thành phố
và khu dân cư xung quanh nó đương nhiên
là sẽ phải trở thành nơi xả lũ.
Vì vậy, để ngăn Hùng An bị dòng
chảy siết từ dãy núi Thái Hằng Sơn
cuốn trôi, một con đê kiểm soát
lũ đã được xây dựng ở phía tây thành phố này,
khiến một lượng lớn nước lũ
tràn vào vùng ngoại vi của vùng xả lũ,
cây lũ lớn ở những vùng hàng trăm
năm nay chưa từng bị lưu lụt.
Ông Triệu Lan Kiện cũng chỉ trích quyết định
xả lũ không báo trước của chính quyền vào lúc nửa đêm
khi người dân đang ngủ là một vụ
thảm sát cực kỳ tàn ác,
bởi vì nếu xả lũ ban ngày thì họ sẽ không
giấu được người dân về nguồn gốc của những cơn lũ.
Trong khi ấy, truyền thông Trung Quốc
tiếp tục ngậm miệng.
Cũng không chỉ có các cơn lũ chính trị,
còn có cơn lũ trách nhiệm và hạn hán
lợi ích nữa. Chúng là như thế nào?
Chẳng hạn, vào hôm 21 tháng 6,
ông Vương Duy Lạc, chuyên gia thủy lợi
nổi tiếng sống tại Đức, đã nói
với ấn bản hoa ngữ của dữ liệu book
TOMS rằng các hồ chứa nước
ở Trung Quốc có cái gọi là mực nước
giới hạn. Theo tài liệu của chính quyền
Trung Quốc, mực nước giới hạn là mực nước
mà vào mùa mưa, nếu cao hơn
nó thì phải xả lũ. Nhưng
với mực nước giới hạn thấp như thế này
thì hồ chứa hầu như không có khả năng chứa
thêm nước để chống lũ. Nhưng hiện nay
vì sao lại nói vượt quá mực nước giới hạn
thì phải xả nước ngay lập tức?
Đó là vì chính quyền Trung Nam Hải
áp dụng chế độ trách nhiệm quản lý hồ chứa.
Người quản lý do lo ngại
chất lượng không tốt của đập, rất sợ
xảy ra vỡ đập, nên họ
thà xả lầm còn hơn bỏ sót. Do đó
có thể gọi đây là những cần lũ trách nhiệm.
Vậy còn hạn hát lợi ích
thì sao? Chẳng hạn như ngay
lúc các tỉnh miền Nam đang lũ lụt tràn trề
thì các tỉnh miền Bắc Trung Quốc nóng như thiêu người,
đồng ruộng cạn khô,
cò không ngọc được nữa là cây lương thực.
Ở Hàm Đan, Hà Bắc cũng cạn khô,
nắng nóng còn sinh ra ảo ảnh.
Nhiều khu vực ở tỉnh Hà Nam đã hơn nửa
và năm nay không có giọt mưa nào.
Người đồng dân cố gắng chắt chiêu những dòng nước
quý giá để tưới lên đồng ruộng khô nẻ,
mong cứu được hoa màu trong cây nóng
trên 40 độ C. Trong khi người dân
Hà Nam lập đàn cầu mưa,
thì chính quyền lại cho bắn Đại Bắc lên trời
để tạo mưa, xong cũng không có giọt nước nào.
Chỉ có các tổ chức
vận hành đập nước là im hơi lặng tiếng,
không xả nước để cứu hạn cho dân,
bởi vì họ còn dành nước để phát điện,
vì phát điện là có tiền, và tiền
là của nhóm lợi ích, không phải của người dân,
cho nên có thể gọi đó là hạn hán lợi ích.
Cho nên khi hạn hán,
thì đập thủy điện, đập thủy lợi,
chúng tôi quyết không xả nước để cứu dân,
nhưng khi trời mưa thì sẽ
xả nước để cứu chúng tôi trước,
thậm chí còn xả đêm để chẳng ai biết đấy là đâu.
Trong mưu lược chiến tranh,
người Trung Hoa gọi đấy là cái sấn hỏa
đả kiếp, hoặc sát hơn nữa
thì người Việt có một câu là tam nước theo mưa.
Người xem Tam Quốc Diên Nghĩa
chắc vẫn nhớ đến trận chiến Tân Giã
khi Sai Quan Vũ đem một nghìn quân
lên thượng lưu sông Bạch Hà để mái phục,
mang theo nhiều bao tải được đầy
đất cát để lấp khúc sông.
Đợi đến cuối canh ba hôm sau,
hãy nghe tiếng người ngựa râm rộ
ở hạ lưu, thì vớt những túi đất lên
cho nước chản xuống, rồi cứ thuận
dòng sông kéo về tiếp ứng.
Quả thực, sau khi bị lửa đốt
và bị mái phục đánh cho tơi tả,
quân tàu chạy một lúc nữa lại có con sông
chặn trước mặt, nhưng vì nước cạn
nên quân tàu không lo ngại mà lội qua.
Thế là Quan Vũ phục ở mé trên,
ben cho quân xả nước xuống.
Nước chảy xuống như thác vỡ bờ
cuốn trôi vô số quân tàu.
Nhưng đó là trong thời chiến, còn như
áp dụng mưu lược sát phạt của thời chiến
cho thời Bình, đánh úp dân như là
đánh kẻ địch, thì nó phơi bày
thứ chiết lý ngược ngạo của nhà cầm quyền
Trung Nam Hà.
Chiết lý ngược ngạo của chính quyền Bắc Kinh
Một câu nói nổi tiếng của cố lãnh đạo
Trung Quốc là Mao Trạch Đông,
chính là đấu trời, đấu đất,
đấu người, thật thống khoái.
Thực sự đã xác lập tinh thần cho chính quyền
và xã hội Trung Quốc hơn 70 năm nay.
Từ khoáng nghiêm trọng ở đây là đấu.
Đấu tức là chống lại,
đã đấu thì phải thắng, đã thắng
thì phải buộc kẻ bãi theo ý mình.
Cho đến sông thì phải chặn,
núi thì phải phá, nước chảy xuôi Nam
thì phải bắt nó chảy ngược về Bắc,
còn phải quây hồ làm ruộng,
đốt rừng làm ruộng, diệt cò thảo nguyên
để làm ruộng, v.v.
Với tinh thần bưng bừng, giám bảo nhật nguyệt,
hoán đổi trời mới.
Với tham vọng kiêu ngạo, cải tạo thiên nhiên,
bắt thiên nhiên phục vụ con người.
Nhưng hết thầy đều đã phải trả giá rồi.
Ba trong số năm thảo nguyên lớn
của Trung Quốc đã biến mất,
sa mạc đang ngày càng lan rộng,
cát bay cả vào Bắc Kinh.
Việc quây hồ làm ruộng khiến khu vực trung hạ lưu
của Trường Giang trong vòng 50 năm
đã mất đi 12.000 km2 diện tích sông hồ,
vượt quá tổng diện tích
của 5 hồ nước ngọt lớn hiện nay.
Còn việc xây dựng vô số đập thủy điện
cho đến ngày nay,
chính quyền Trung Quốc của ông Tập Cận Bình
vẫn trung thành với chiết lý đấu ấy
khi bạt núi rồi dẫn nước lên núi để trồng lúa,
hoặc san đất trên đường nhựa để trồng cây,
bắn đại bác lên trời để mong mưa, v.v.
Kết quả cây chết, núi chết,
môi trường hủy hoại,
con người ngắc ngoài.
Nó đi ngược lại với tinh thần khiêm tốn
và trí tuệ khôn ngoan của cổ nhân Trung Hoa.
Người thuận theo đất, đất thuận theo trời,
trời thuận theo đảo, đảo thuận theo tự nhiên.
Từ khóa quan trọng ở đây là chữ thuận.
Bởi vì sức người giàu sao
cũng có hạn không so được với sức mạnh
kinh khủng của thiên nhiên.
Đời người ngắn ngủi sao sánh được với trời đất trường cửu.
Chí người nông cạn
chỉ có thể học theo tạo hóa.
Con người lại cũng thật lắm sai lầm,
chỉ nên cúi mình khiêm tốn và học cách thuận
theo tự nhiên mà thôi.
Sai lầm về xây dựng và quản lý đập nước của Bắc Kinh
không phải bây giờ mới có.
Năm 2005, một chương trình truyền hình
của kênh Discovery đã tiết lộ
một loạt thảm họa do con người tạo ra.
Đứng đầu danh sách không phải là vụ nổ hạt nhân
Chernobyl, mà đó là sự cố
của đập Bản Kiều năm 1975
mà người dân Trung Quốc hiếm khi biết tới.
Theo Discovery,
ngày 8 tháng 8 năm 1975,
đập Bản Kiều ở tỉnh Hà Nam bị sập
do mưa lớn và đã làm ngập chiến quận
của một khu vực rộng 150 x 75 km.
Hơn 100.000 thi thể trôi nổi
đã được vượt lên.
140.000 người khác đã chết
do nạn đói và ôn dịch xảy ra
sau trận lụt.
Con đập này đã không được quản lý tốt
để xả lũ đúng thời điểm.
Nó thuộc về sự thiếu trách nhiệm
của lãnh đạo cao nhất Trung Quốc,
lúc ấy là ông Đặng Tiểu Bình.
Hơn nữa, chất lượng xây dựng của nó
cũng lắm vấn đề.
Đập Bản Kiều là một trong nhiều đập
được xây dựng vào đầu những năm 1950,
như một sản phẩm của phong trào đại nhảy vọt.
Cũng như các thứ đồ được sản xuất
theo chính sách vô trách nhiệm đó,
con đập được xây dựng vội vàng
mà không được kiểm soát chất lượng đầy đủ,
thiếu công tác bảo trì thường xuyên
từ khi xây dựng xong.
Tại thời điểm khẩn cấp,
chỉ có 5 trong tổng số 17 cửa lũ
có thể là nâng lên được.
Những cửa còn lại đều bị kẹt cứng vì han rỉ.
Tin tức về thảm họa do con người gây ra này
đã bị chính quyền bưng bít.
Không có đài tưởng niệm nào được xây dựng
để lưu lại tên của những người bị thiệt mạng.
Thay vào đó, chính quyền lại xây một đài tưởng niệm
để biểu dương và ghi nhớ chiến công
trong công tác chống lũ.
Bởi vậy trong đợt lũ lụt này,
ông Triệu Lan Kiện, một cựu phóng viên của
truyền thông chính thông Trung Quốc nói,
lũ lụt ở miền nam Trung Quốc khiến ông nhớ lại
những trải nghiệm bi thảm thời thờ Ấu.
Ông than thở rằng, chính quyền đã không thay đổi
trong nhiều thập kỷ qua, nhưng người dân không có cách
nào biết được sự thật vì bị phong tỏa, tin tức.
Trung Quốc ngày nay là nước có số lượng
hồ chứa lớn nhất thế giới,
cũng như là tiềm năng tai hỏa lớn nhất thế giới.
Khi bắt đầu xây dựng thì họ lý luận rằng
để kiểm soát lũ lụt và cứu trợ thiên tai,
nhưng thực tế cứ đi ngược lại
những tuyên ngôn của chính quyền nước này.
Hỏi rằng ở Trung Quốc, lũ lụt do trời
hay do con người thì câu trả lời
có vẻ như đã quá rõ ràng.
Thưa quý vị, những con đập khổng lồ
đã từng là niềm hãnh diện
của một quốc gia, một chính phủ.
Nó giúp bạn nở mặt nở may
với các quốc gia láng giềng,
khi từ đây bạn có thể làm chủ
được dòng điện và thậm chí là dòng nước.
Đặc biệt, nếu xây đập trên
một con sông quốc tế,
chảy qua những nước láng giềng kém thân thiện
thì giá trị con đập của bạn
càng tăng lên, bởi vì khi ấy
bạn có thể sử dụng con đập
như là một vũ khí địa chính trị nguy hiểm
bậc nhất, đặc biệt là khi
nguồn tài nguyên nước đang trở thành
một cái gì đó vô cùng cấp bách
giữa thời buổi, ô nhiễm và biến đổi khí hậu này.
Nếu bạn cũng đang tư duy theo chiều hương đó
thì hẳn bạn sẽ ủng hộ
những gì Trung Quốc đang làm trên
mọi con sông chảy trên lãnh thổ của họ.
Quý vị hẳn đã được nghe,
được thấy nhiều thông tin về đập Tam Hiệp,
con đập mà Trung Quốc luôn coi là biểu tượng
đáng tự hào rồi, nhưng họ
chưa dừng lại ở đó đâu, vẫn còn
một dự án khác khủng khiếp hơn nhiều.
Một con đập nằm gần biên giới với Ấn Độ,
một đối thủ lâu năm, một gã
hàng xóm khó ưa của Trung Quốc,
đó là con đập trên sông Yalung-Sangpo,
phía Ấn Độ thì gọi là
sông Brahmaputra.
Trong video hôm nay,
hãy cùng chúng tôi khám phá sức ảnh hưởng
to lớn về môi trường và địa chính trị
của con đập này.
Cách đây hơn 3 năm,
Trung Quốc đã công bố kế hoạch xây dựng
một con đập khổng lồ trên sông Yalung-Sangpo,
đoạn thượng nguồn của sông
Brahmaputra ở Ấn Độ.
Con đập này được Trung Quốc kỳ vọng
nhằm giảm sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch
có thể sẽ vượt xa đập Tam Hiệp.
Tháng 11 năm 2020,
các phương tiện truyền thông Trung Quốc
đã công bố kế hoạch xây dựng
một loạt nhà máy thủy điện ở chân núi
thuộc dãy Himalaya.
Được biết, con đập trên sau khi hoàn thành
sẽ có quy mô lớn nhất thế giới
và được coi là một dự án kỹ thuật lớn của quốc gia này.
Dự án đập Yalung-Sangpo
sẽ là một siêu đập
với công suất hơn 60 GW,
tức là lớn gấp 3 lần đập Tam Hiệp.
Địa điểm được chọn
nằm trên sông Yalung-Sangpo,
một trong những con sông lớn
và cao nhất thế giới.
Sông Yalung-Sangpo
là một dòng sông quốc tế lớn
chảy qua khu vực Tây Tạng,
Trung Quốc, Ấn Độ và Bangladesh.
Nó chảy dài
2.880 km,
chảy từ Tây sang Đông trên cao nguyên Tây Tạng,
từ nguồn gần núi Kailas-Linh Thiêng,
sau đó chuyển hướng
về phía Bắc, rồi thực hiện
một khúc cua gấp hình chữ U
ở hẻm núi lớn Yalung-Sangpo
để chảy về phía Nam vào Ấn Độ.
Yalung-Sangpo chảy vào Ấn Độ
qua hiện Siang của bang Arunachal Pradesh
với tên gọi là sông Siang.
Nó được hợp lưu
bởi các sông Di Hang và Lohit
khi vào Aksam
và được gọi là Brahmaputra.
Khi chảy vào Bangladesh,
dòng sông hợp nhất với sông Hằng
và sau đó hợp nhất với sông Machna.
Từ đó, nó được gọi là Jamuna
và cuối cùng chia thành hàng trăm kênh nhỏ
và bồi đắp thành
một vùng đồng bằng rộng lớn
Venvich-Bengal.
Cho đến gần đây,
Yalung-Sangpo được coi là dòng sông
hiếm hoi chưa bị ngăn đập,
cũng là dòng sông tự do cuối cùng của Tây Tạng.
Tuy nhiên, 11 nhà máy thủy điện
đã được Trung Quốc lên kế hoạch trên sông
Yalung-Sangpo với một con đập
thuộc hàng lớn nhất thế giới.
Khi sông Yalung-Sangpo đi vào
một trong những hẻm núi sâu và lớn nhất thế giới,
bắt đầu từ một khe núi cao
4.900m giữa hai ngọn núi
cao nhất ở đông Himalaya
là Namchak-Bawa cao
7.756m
và Gyala-Penri
cao 7.294m.
Dòng sông giảm gần
2.500m độ cao,
tạo thành một số thác nước và mang lại
tiềm năng to lớn để sản xuất thủy điện.
Đó chính là lý do vì sao
người Trung Quốc muốn xây dựng ở ngay chính nơi này
một đập thủy điện hùng vĩ
vượt xa đập tàm hiệp của chính mình.
Một dự án gây nhiều tranh cãi.
Tờ Nikkei cho hay
Trung Quốc là bá chủ thủy điện
của thế giới với số lượng đập lớn
đang hoạt động nhiều hơn tất cả
các quốc gia khác cộng lại.
Giờ đây, Trung Quốc với việc xây dựng siêu đập
trên sông Yalu-Shangpo gần biên giới với Ấn Độ
thì dường như tham vọng của họ
chưa thể có điểm dừng do vị trí
và quy mô dự kiến của dự án.
Trên lý thuyết, các đập mà Trung Quốc
sắp xây dựng có thể tạo ra năng lượng
cao hơn so với đập tàm hiệp.
Trong khi việc xây dựng đập tàm hiệp đòi khỏi
khoảng 1,4 triệu người phải di rời
thì khu vực xung quanh Yalu-Shangpo
lại có dân cư tương đối thừa thớt
nên chi phí nhân lực sẽ thấp hơn đáng kể.
Hiện nay, với mục tiêu đạt được mức trung hòa carbon
vào năm 2060,
Bắc Kinh đã tăng gấp đôi nỗ lực
vào các dự án thủy điện ở Tây Tạng.
Tenzin Donmi chưa bao giờ đặt chân
lên cao nguyên Tây Tạng,
nhưng cô đã lớn lên với câu chuyện
về dòng sông và ngọn lươi lớn,
nơi tạo nên quê hương tổ tiên của cô.
Donmi, một người Tây Tạng lưu vong
đang sống tại Melbourne, Úc, cho biết
Lòng tôn trọng thiên nhiên
đã ăn sâu vào tiềm thức.
Khi chúng tôi bơi ở sông, chúng tôi được dặn
không bao giờ được đi vệ sinh ở đó
vì trong nước có các vị thần sông.
Sông Yalu-Shangpo có ý nghĩa đặc biệt
vì nó tượng trưng cho thân thể
của nữ thần Dorje Fakmo,
một trong những hiện thần cao quý nhất
trong văn hóa Tây Tạng,
chỉ đứng sau Đức Đạt Lai Lạt Ma
và Ban Thiển Lạt Ma.
Còn ông Tempa Gyansen Ramha,
người đứng đầu phòng môi trường và phát triển
tại Viện Chính sách Tây Tạng,
cho biết lòng tôn kính đối với thế giới tự nhiên này
bắt nguồn từ cảnh quan độc đáo
của cao nguyên Tây Tạng
và có từ nhiều thế kỷ trước.
Nhưng kể từ khi chính quyền Trung Quốc kiểm soát
sáp nhập Tây Tạng vào năm 1950,
theo ông Ramha,
người Tây Tạng đã mất hết quyền quyết định
những gì xảy ra trên đất của họ.
Ông nói với tờ Al Jazeera rằng
chúng tôi hoàn toàn không có bất kỳ
một con đập nào trước khi bị kiểm soát,
không phải vì chúng tôi không thể khai thác nó,
mà vì chúng tôi vô cùng tôn trọng
bản chất của các con sông.
Ông khẳng định, có một truyền thống rất nghiêm ngặt
là không ai được đến gần một số dòng sông,
con suối nhất định hoặc làm bất cứ điều gì
có thể gây xáo trộn nó.
Bạn thậm chí không cần luật lệ,
mọi người Tây Tạng đều tuân thủ theo truyền thống đó.
Nhưng người Trung Quốc sẽ làm mọi thứ
để có lợi cho sự phát triển của họ
và điều này rất đáng thất vọng
vì người Tây Tạng không được tham khảo ý kiến.
Bắc Kinh nhấn mạnh
dự án này là một giải pháp thay thế
nhiên liệu hóa thạch thân thiện với môi trường,
nhưng nó có nguy cơ vấp phải sự phản đối mạnh mẽ
từ các nhà hoạt động vì môi trường
và các quốc gia láng giềng.
Ông Brian Eilert, giám đốc chương trình năng lượng,
nước và tính bền vững tại trung tâm Stimson,
một tổ chức tư vấn của Mỹ chia sẻ,
xây dựng một con đập có kích thước siêu lớn
là ý tưởng thực sự tồi tệ
vì nhiều lý do.
Bởi vì nó được xây dựng
trong một khu vực có nhiều hoạt động địa chấn,
điều này khiến siêu đập có khả năng
trở thành quả bom nước đối với các cộng đồng
ở Hạ Liêu của Ấn Độ và Bangladesh.
Phần đông nam của cao nguyên Tây Tạng
dễ xảy ra động đất
vì nó nằm trên đường đứt gãy địa chất
nơi các mảng kiến tạo Ấn Độ
và Á Âu va vào nhau.
Trận động đất ở Tứ Xuyên năm 2008
dọc theo vành đai phía đông
của cao nguyên Tây Tạng
đã làm ít nhất 87.000 người thiệt mạng,
thu hút sự chú ý của quốc tế
về hiện tượng địa chấn do hồ chứa
Một số nhà khoa học Trung Quốc và Mỹ
đã rút ra mối liên hệ giữa trận động đất
và đập tử bình phố của Tứ Xuyên,
được đưa vào sử dụng hai năm trước đó
gần một đứt gãy địa chấn.
Họ cho rằng trọng lượng của hàng trăm triệu
mét khối nước chứa trong hồ chứa
của đập có thể đã gây ra
ATS hoặc ứng xuất kiến tạo nghiêm trọng.
Nhưng ngay cả khi không có động đất,
siêu đập mới có thể là mối đe dọa
đối với các cộng đồng ở Hạ Liêu
nếu những cơn mưa sối xả
gây ra lũ quét ở khúc hoạt lớn
của sông Brahmaputra.
Vào năm 2020, khoảng 400 triệu
người Trung Quốc đã gặp nguy hiểm
sau trận lũ lụt kỷ lục gây nguy hiểm
cho đập Tam Hiệp.
Ngoài mới lo về hoạt động địa chấn,
khu vực sông Brahmaputra còn chứa đựng
sự đa dạng sinh học độc đáo.
Có đập sẽ làm ngăn chặn quá trình di cư
của cá cũng như dòng chảy phù sa
làm màu mỡ đất trong các trận lũ lụt
theo mùa ở vùng Hạ Liêu.
Bên cạnh đó, hàng triệu cư dân
sống dọc sông Brahmaputra
có thể sẽ phải di rời tới nơi ở mới,
giống như những gì đã xảy ra với dự án đập Tam Hiệp.
Các chuyên gia cảnh báo
hoạt động địa chấn có thể biến hồ chiếu
phía trong đập thành một quả bom nước
đối với cư dân ở Hạ Liêu.
Trước thông tin về siêu dự án thủy điện
mới của Trung Quốc, Ấn Độ đã bày tỏ
sự lo lắng.
Chính phủ nước này thậm chí đang tính
đến việc xây dựng một con đập khác
ở hạ nguồn sông Brahmaputra để giữ chữ nước.
Nhà khoa học chính trị
Brahma Chelani viết trên tờ
Times of India rằng
vẫn còn nhiều thời gian để Ấn Độ đàm phán
với Trung Quốc về tương lai của siêu đập
và những tác động của nó. Một kết quả tồi tệ
sẽ phải chứng kiến thêm một con đập khác
được xây dựng ở Hạ Liêu.
Theo chuyên gia Brahma Chelani,
với việc xây dựng đập hiện tại di chuyển
đến gần các khu vực biên giới,
Trung Quốc sẽ có thể tận dụng các dòng chảy xuyên
biên giới trong quan hệ với đối thủ Ấn Độ.
Nhưng gánh nặng tàn phá môi trường
mà siêu dự án có khả năng gây ra
sẽ do Bangladesh gánh chịu
ở đoạn cuối của dòng sông.
Tuy nhiên, thiệt hại về môi trường có thể sẽ lan rộng
ra khắp Tây Tạng, một trong những khu vực
đa dạng sinh học nhất thế giới.
Cũng có một khả năng nữa xảy ra
với con sông Yalung-Shangpo
hay còn gọi là Brahmaputra,
là Trung Quốc có thể chuyển hướng dòng sông về phía bắc
để giảm bớt tình trạng thiếu nước
ở một số vùng của đất nước.
Theo đó, nước sẽ được bơm về phía bắc
qua hàng trăm km cùng với sông Hoàng Hà
và cuối cùng đổ vào thành phố Thiên Tân
trên bờ biển phía đông Trung Quốc.
Vào đầu tháng 8 năm 2011,
Green Earth Volunteer,
một tổ chức phi chính phủ của Trung Quốc
đã tổ chức một hội thảo về kênh đào Soutian
trong kế hoạch tuyến đường phía Tây
với các chuyên gia về địa chất,
khí tượng và đất ngầm nước.
Người ta có kế hoạch cho kênh đào này
băng qua 5 con sông khác nhau
với 10 hồ chứa riêng biển.
Trải dài hơn 14 tỉnh thành
ở phía Tây và phía bắc Trung Quốc
như Thanh Hải, Cam Túc, Nội Mông,
Tân Cương và Bắc Kinh.
Kuo Kai, nhà thiết kế chính
và người khởi xướng dự án cho biết
việc chuyển hướng sông Yalu-Shangpo
sẽ giải quyết tình trạng thiếu nước
ở phía bắc, sa mạc hóa,
thiếu điện và ô nhiễm.
Ông giải thích rằng
ban đầu ông dự định mang nước
từ sông Hoàng Hà đến Bắc Kinh
nhưng sông Hoàng Hà đã cạn kiệt.
Sau đó ông đã nhận ra rằng
sông Yalu-Shangpo có nhiều nước
và sẽ không tạo ra bất kỳ sự ảnh hưởng nào
đối với Ấn Độ.
Các tướng lĩnh quân đội Trung Quốc
và thành viên chính phủ cấp cao khi đó
cũng đã ủng hộ ý tưởng của ông Kuo Kai.
Như vậy ta có thể thấy
trong cả hai trường hợp đều trên
một là xây một con đập
và hai là chuyển nước lên miền bắc Trung Quốc
thì tăng động đối với Ấn Độ
sẽ là sự sáo trộn sinh thái khủng khiếp
hoặc giảm lưu lượng nước.
Rõ ràng, đây là quân bài địa chính trị
đầy quyền lực mà Trung Quốc đang sở hữu trong tay
nhằm khuất phục nước láng giềng Nam Á
cứng đầu vốn có xung đột
trong lịch sử với mình.
Vũ khí địa chính trị nguy hiểm
Trong cuốn sách xuất bản năm 2011
có tựa đề
Nước chiến trường mới của châu Á
Giáo sư Brahma Chelaney viết rằng
nhu cầu về nước tăng vọt của châu Á
khiến nơi đây trở thành châu lục khan hiếm nước
nhất thế giới tính theo đầu người.
Nhiều nguồn nước của châu lục này
vượt qua biên giới quốc gia
và khi nguồn nước ngày càng khan hiếm
căng thẳng quốc tế có thể gia tăng.
Các chuyên gia cho rằng
khoảng cách cung cầu với nước có thể tạo ra
những trở ngại cho sự tăng trưởng kinh tế
nhanh chóng liên tục, gây căng thẳng
giữa các quốc gia về các nguồn tài nguyên
được chia sẻ, làm trầm trọng thêm
các tranh chấp lãnh thổ lâu đời
và gây thêm khó khăn cho người khéo.
Tầm nhìn của giáo sư Brahma Chelaney
phần nào đúng đặt trong bối cảnh
Trung Quốc đang âm thầm
bí mật xây dựng vua đập mới
trên dòng sông Yalungshampo hùng vĩ.
Trung Quốc đã đưa ra rất ít thông tin cập nhật
về tình hình của dự án kể từ khi
Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc phê duyệt nó
vào tháng 3 năm 2021.
Khi theo đuổi dự án lớn này,
Trung Quốc phải che giấu hoạt động xây dựng của mình
để làm giữ phản ứng của quốc tế
liên quan đến môi trường và sự an toàn của cộng đồng.
Bắc Kinh chỉ trình dự án siêu đập
lên Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc
để phê duyệt
sau khi đã xây dựng đủ cơ sở hạ tầng
để phục vụ cho việc xây dựng siêu đập.
Hai tháng sau khi quốc hội phê duyệt
tháng 5 năm 2021,
Bắc Kinh tuyên bố rằng họ đã hoàn thành kỳ tích
đường cao tốc xuyên qua hẻm núi sâu nhất thế giới.
Đường cao tốc kết thúc
gần làng Bishin của Ấn Độ
trên biên giới Tây Tạng.
Tháng 6 cùng năm,
Trung Quốc khai trường tuyến đường sắt
điện khí hóa đầu tiên của Tây Tạng
dài 435 km, trị giá 5,7 USD,
chạy từ thủ phủ khu vực Lhasa
đến Ninh Tri, đông nam Tây Tạng
bên cạnh hẻm núi sông Brahmaputra.
Thực chất thì
bộ đôi đường sắt và đường cao tốc này
được sử dụng nhằm phục vụ cho quá trình
xây dựng siêu đập như vận chuyển vật liệu,
công nhân, kỹ sư
cùng thiết bị nặng đến địa điểm xa xôi
nơi siêu đập tọa lạc,
nơi lâu nay được coi là không thể tiếp cận được
vì địa hình nguy hiểm.
Như vậy, công việc xây dựng siêu đập đã
và đang diễn ra một cách âm thầm, bí mật.
Tất nhiên, được Trung Quốc chuẩn bị rất bài bản.
Đối với Ấn Độ và Bangladesh,
dự án siêu đập của Trung Quốc mang lại rất nhiều ảnh hưởng to lớn.
Brahmaputra,
một tên khác của Jalung Shampo,
là một con sông xuyên biên giới khi nó chảy qua Tây Tạng,
Đông Bắc Ấn Độ và Bangladesh.
Liêu vực sông Brahmaputra trong lịch sử
đã xác định biên giới giữa
Ấn Độ và Tây Tạng ở phía đông dãy Himalaya.
Sông Brahmaputra
vốn là nguồn nước ngọt lớn nhất
đối với người dân Bangladesh,
nhưng gánh nặng của sự tàn phá môi trường
mà siêu dự án này có thể gây ra
sẽ do Bangladesh gánh chịu
ở vùng Hạ Liêu.
Bangladesh vốn đang bị ảnh hưởng nặng nề
của biến đổi khí hậu.
Nếu siêu dự án của Trung Quốc hoàn thành,
vấn đề này có thể còn tồi tệ hơn nữa.
Đối với Ấn Độ,
dĩ nhiên siêu đập của Trung Quốc có thể khiến môi trường
tại khu vực Đông Bắc của quốc gia này,
nơi con sông chảy qua, bị tàn phá nặng nề.
Không những thế, những khó khăn
về đời sống của Bangladesh có thể tạo ra
một cuộc di cư lớn của người tự nản
đến Ấn Độ, nơi đã có
vô số người Bangladesh định cư
bất hợp pháp.
Dù vậy, dự án siêu đập của Trung Quốc
cũng đang phải đối mặt với những cản trở
từ chính thiên nhiên. Nguy cơ sát lở sông băng
ở Tây Tạng có thể cản trở kế hoạch này
của Bắc Kinh. Năm 2018,
một vụ lở sông băng đã chặn dòng chảy
của sông Yalung-Shangpo,
tạo ra một hồ chứa khoảng 600 triệu
mét khối nước. Hồ nước này
ở Thượng Nguồn, cách địa điểm Trung Quốc
tính đặt siêu đập thủy điện
chỉ khoảng hơn 10 km. Với một lượng nước
khổng lồ như vậy tích ở phía trên,
không thể nói trước điều gì có thể xảy ra
với con đập. Để xây đập lớn,
Trung Quốc trước tiên phải loại bỏ
con đập nhỏ vốn được hình thành bởi
vụ sát lở đó. Những năm gần đây,
Bắc Kinh đã đưa các nhóm chuyên gia,
kỹ sư tới khu vực hồ Shedongpu
này để mà khảo sát. Họ thu thập
được một lượng lớn dữ liệu về
địa hình, địa chất ở đây, thông qua
việc sử dụng các thiết bị không người lái,
các thiết bị tiền tiến khác.
Nhưng hầu hết các chuyên gia
vẫn chưa đưa ra được một giải pháp khả thi nào.
Họ chưa thể tìm ra giải pháp để ra
gấu con đập hình thành do sát lở sông băng
ở Shedongpu và cũng
không thể phá bỏ nó một cách an toàn.
Họ biết rằng thảm họa tương tự có thể xảy ra
ở cùng khu vực này do biến đổi khí hậu.
Khu vực này khá rộng lớn
và nhiều sông băng sẽ khiến
Bắc Kinh gặp rất nhiều thách thức
về kỹ thuật lẫn tiền của.
Theo ước tính của Cơ quan Liên chính phủ
về biến đổi khí hậu của LHQ,
khoảng một phần tư sông băng ở cao nguyên Tây Tạng
đã biến mất kể từ những năm 1970.
Cơ quan trên dự đoán,
2 phần 3 số sông băng còn lại cũng sẽ biến mất
vào khoảng cuối thế kỷ này.
Các nghiên cứu chỉ ra,
nhiệt độ tăng lên, sông băng tan chảy
có thể khiến nóc nhà của thế giới trở nên
dễ thích nghi hơn, nhưng cũng khiến
các nguy cơ thiên tai, thảm họa như lũ lụt
sát lở đất tăng lên, khiến nền đất
xây dựng các đập thủy điện cũng yếu hơn,
dẫn đến nguy cơ sập bất cứ lúc nào.
Một số nhà khoa học Trung Quốc
đề xuất, thay vì xây dựng siêu đập
trên sông Yalung-Shangpo,
Trung Quốc có thể tính đến đào một đường hầm
khoảng 16km xuyên qua một trong
những dãy núi cao ở thùng lũng Yalung-Shangpo.
Nước sông được dẫn vào đường hầm
để kích hoạt các tuô bin phát điện.
Họ ước tính, tuy không thể cho công suất
70GW, nhưng dự án này
có thể mang lại công suất
50GW hay gấp đôi
của đập tạm hiệp.
Trải dài trên diện tích
2,5 triệu km vuông,
cao nguyên Tây Tạng giàu tài nguyên thiên nhiên
và giáp danh với nhiều quốc gia khác,
dòng nước ngọt chảy từ các sông Băng
và suối trên núi tan chảy, đổ xuống
khu vực dãy Himalaya và cung cấp nước uống
cho khoảng 1,8 tỷ người
ở các quốc gia xung quanh,
bao gồm Trung Quốc, Ấn Độ và Bhutan.
Nguồn nước chính là một trong những nguyên nhân
quan trọng khiến Trung Quốc cố gắng hết sức
kiểm soát chặt chẽ cao nguyên Tây Tạng,
bởi đó chính là vùng đệm an ninh,
là khu vực từ huyệt của Bắc Kinh.
Nếu để tham nước Tây Tạng lọt vào tay đối thủ,
Trung Quốc chắc chắn sẽ bị rơi
vào tình thế vô cùng nguy hiểm.
Biên giới Trung Ấn thì chưa bao giờ yên bình.
Năm 2020, một cuộc đụng độ nổ ra
ở phía tây dãy Himalaya giữa
Ấn Độ và Trung Quốc, trong đó 20 binh lính
Ấn Độ và một số lượng không xác định
lính Trung Quốc đã thiệt mạng.
Từ đó đến nay, các vụ sô sát, ầu đà
giữa binh lính hai bên vẫn thường diễn ra.
Giờ đây, với dự án xây đập lớn
chỉ cách biên giới Ấn Độ 30 km,
Bắc Kinh dường như sẽ cố gắng sử dụng nó
như một công cụ chính trị,
một thứ quyền lực mềm cực kỳ hiệu nghiệp
trong cuộc tranh chấp biên giới trăm năm.
Chuyên gia Brian Aylor
của trung tâm Stimson lo ngại rằng
Yalung Shampo có thể mở đường
cho sự xuất hiện của các dự án tương tự
tại khu vực.
Theo ông, bài học sông Mekong vẫn còn nguyên giá trị.
Khi phân tích dữ liệu gần đây
về các con đập của Trung Quốc,
người ta đã phát hiện ra rằng những hoạt động này
đã gây ra tổn hại ngày càng sâu sắc hơn
cho các cộng đồng hạ lưu
của con sông Mekong vốn từng vô cùng trù phú.
Ông Brian Aylor lưu ý rằng
việc không phối hợp trong vận hành đập
đã khiến 11 đập trên sông Mekong
của Trung Quốc phá vỡ đời sống của cá
và dòng chảy châm tích,
đồng thời trực tiếp góp phần gây ra
tình trạng sạt lở bờ sông
và phá hủy các cộng đồng.
Trong khi các chi tiết cụ thể
về kế hoạch phát triển sông Yalong Sanpo
của Trung Quốc vẫn còn mơ hồ,
ông Aylor cho biết
vẫn tồn tại những rủi ro rất lớn.
Ông cho biết, người ta đều biết rằng
các dòng sông đều rất đói khát.
Vì vậy, khi bạn tách lớp châm tích của nó ra,
dòng sông đói khát đó sẽ bắt đầu
tìm kiếm những thứ mới mẻ để khỏa lớp.
Nó sẽ khiến bờ sông sạt lở,
bao mòn đồng bằng châu thổ.
Đó là một quá trình tự nhiên nhưng lại bắt nguồn
từ một thứ gì đó không tự nhiên gây ra.
Và đến đây thì chương trình ngày hôm nay của chúng tôi cũng xin phép tạm dừng.
Cảm ơn sự quan tâm theo dõi của quý vị và các bạn.
Xin quý vị hãy để lại bình luận và cảm xúc ở phần dưới.
Lê Minh xin chào và hẹn gặp lại!
