VÌ SAO ĐỘNG VẬT TIỀN SỬ CÓ KÍCH THƯỚC KHỔNG LỒ?

Mai Thêu
518 người theo dõi
Xin chào các bạn, rất nhiều những sinh vật khổng lồ thời tiền xử đã từng cư trú trên trái đất.
Những con vật khổng lồ này bao gồm mà khủng long, cá sấu, rắn khổng lồ,
thậm chí những con có kinh thượng bằng cái ô tô cũng là chuyện bình thường.
Nhưng mà ngày nay chỉ còn một số động vật lớn trên hành tinh của chúng ta.
Chuyện gì đã xảy ra? Tại sao những động vật khổng lồ thì không còn nhiều nữa?
Đầu tiên phải kể đến môi trường sống, nó đã giúp phần tạo ra những sinh vật khổng lồ.
Trái đất thời tiền xử là một mảng lục địa đông nhất mang diện tích khổng lồ với hệ thực vật phát triển mạnh mẽ.
Môi trường sống rộng rãi đã có phần khuyến khích sự phát triển và kích thước của các loài vật.
Bên cạnh đó, nông độ oxy ở trong không khí cũng khác bây giờ.
Vì vậy các động vật tại tiền xử đã phát triển một hệ thống đặc biệt để có thể sử dụng oxy một cách hiệu quả hơn.
Theo nghiên cứu, những loài động vật có kết cấu phổi mạnh mẽ thường có khả năng phát triển về mặt kích thước.
Lượng oxy hấp thụ càng cao kết hợp với không khí trong lành sẽ giúp động vật khỏe mạnh và to lớn hơn qua nhiều thế hệ.
Tiếp đó là sự tiến hóa để cạnh tranh nguồn thức ăn, giúp cho động vật thời tiền xử bao giờ cũng lớn hơn.
Trong thời kỳ ngự trị của loài khủng long, cây cối rất cao, thực vật cao hơn lớn hơn.
Vì vậy để ăn được cây cối trong rừng thì các loài động vật phải cao lớn hơn mới có thể vươn cái vòi của mình hoặc vươn cái miệng của mình đến vị trí đó.
Dần dần theo thời gian, những loài to lớn trở thành kẻ thống trị trái đất thời cổ đại.
Trong khi đó, các sinh vật nhỏ bé hơn phải chấp nhận số phận hoặc sống chui lủi hoặc là bị tiêu diệt.
Khi mà đất đầy dẫy những sinh vật khổng lồ, chúng tiếp tục lai tạp với nhau và tạo ra những lớp con cháu thế hệ mới cũng sở hữu kích thước to lớn như vậy.
Qua quá trình tiến hóa kéo dài tới hàng triệu năm, các loài động vật to lớn dần trở nên hoàn thiện và đạt được kích thước khổng lồ của nó.
Và hãy thử ngược lại vấn đề với câu hỏi, vì sao các động vật ngày nay lại không đạt kích thước to lớn khổng lồ như động vật thời tiến xử?
Câu trả lời đến từ sự thay đổi của trái đất, sự tách rời của các lục địa và quan trọng nhất là sự trỗi dậy của những loài động vật có khả năng thích nghi tốt hơn.
Những sinh vật khổng lồ luôn là những kẻ chịu ảnh hưởng lớn nhất và khó lòng thích nghi với những thảm họa của biến đổi khí hậu.
Lượng oxy giảm mạnh cùng với lượng thức ăn cũng giảm, chính là hai nguyên nhân dẫn đến sự diệt vong của các giống loài khổng lồ.
Sác to thì cần ăn nhiều, cần phải nạp thật nhiều thức ăn vào trong người.
Rõ ràng, một cơ thể ngoại cỡ luôn đi kèm với yêu cầu lớn về lượng oxy và thức ăn.
Trong khi đó, những loài vật nhỏ bé với nhu cầu về thức ăn ít hơn lại tỏ ra phù hợp hơn với sự thay đổi của trái đất hàng triệu năm về sau.
Mà giống như việc trong thời điểm khó khăn thì một công ty lớn với nhiều nhân viên bao giờ cũng khó hơn một công ty với số lượng nhân viên ít hơn và trạng lượng thấp hơn.
Điều này dẫn đến việc đa số các loài động vật đã tiến hóa với kích thước vừa phải thay vì tăng dần lên về mặt kích thước, không thể to lớn mãi được khi mà thức ăn ngày càng khan hiếm.
Và triệu năm trở lại đây, con người trở thành một trong những giống loài mang nhiều đặc điểm tiến hóa phù hợp với thời đại.
Các sinh vật khổng lồ dù có xuất hiện cũng không thể tồn tại bởi môi trường sống đã dần bị cô lập bởi con người.
Chúng đầu hàng trước sức mạnh tập thể của con người, trước trí thức của con người, bị tiêu diệt tới mức tuyệt chủng hoặc bị con người cải tạo nòi giống theo thời gian.
Con người chính là một nguyên nhân quan trọng khiến cho nhiều sinh vật đã tuyệt chủng, trong đó có những sinh vật khổng lồ như voi mamut chẳng hạn.
Thời điểm con người sống trên trái đất thì voi mamut vẫn còn tồn tại, nhưng sau đó chính chúng ta đã săn voi mamut và khiến cho loài vật này không thể tiếp tục tồn tại được nữa cùng với những nguyên nhân khác.
Đây là top những sinh vật khổng lồ từng tồn tại trên trái đất.
Glytodon, loài động vật có bộ giáp siêu cứng với kích thước bằng cả chiếc ô tô.
Cách đây từ 5,3 triệu năm đến khoảng gần 12.000 năm, một sinh vật đặc biệt được gọi là Glytodon có nghĩa là răng con rãnh đã đi bộ trên trái đất.
Loài động vật khổng lồ này dài hơn 3 mét và nặng tới gần 2 tấn.
Chúng sinh sống ở Bắc và Nam Mỹ ngày nay.
Ngoài ra, những con Glytodon còn sở hữu một chiếc đuôi khá dài và khỏe, đi cùng với đó là một bộ giáp bao phủ toàn bộ cơ thể với 1.000 tấm vảy xương.
Chúng là một loài động vật ăn cỏ với kích thước khá ôn hòa và không bao giờ phải lo lắng khi đối mặt với những kẻ săn mồi, chẳng khác gì một chiếc xe tăng cả.
Dựa trên thiên hại được tìm thấy trên vỏ Glytodon hóa thành, các nhà khoa học tin rằng loài động vật này hiếm khi bị các loài khác tấn công.
Thay vào đó, chúng thường chiến đấu với nhau để giải quyết tranh chấp về lãnh thổ hoặc là bản tình.
Titanobar, loài trăn khổng lồ dài tới 15 mét.
Đây là loài trăn lớn nhất mà con người từng biết tới.
Khi so sánh kích thước với hình dáng cuộc sống hóa thành của chúng cũng như các loài rắn và trăn hiện đại,
các nhà khoa học ước tính rằng cơ thể của chúng khi trưởng thành dài hơn 15 mét và nặng khoảng 1 tấn mốt,
nặng gấp 10 lần một con trăn Anaconda trưởng thành ngày nay.
Mà trăn Anaconda cũng đã rất nổi tiếng về kích thước của mình rồi.
Các nhà khoa học vẫn chưa thể lý giải được điều gì đã khiến loài trăn này có kích thước to lớn đến như vậy.
Nhưng có nhiều suy đoán cho rằng trước đây khu vực sinh sống của chúng tương ứng với Nam Mỹ là một khu vực có nhiệt độ cao hơn so với bây giờ.
Khí hậu ấm áp của trái đất thời kỳ đó đã cho phép các loài trăn, loài rắn máu lạnh có được kích thước to lớn hơn so với những người họ hàng của chúng ngày nay.
Loài trăn khổng lồ này sinh sống cùng thời đại của khủng long.
Với kích thước như vậy, trăn khổng lồ có thể sẵn sàng sơi tái những con khủng long cỡ nhỏ để thỏa mãn cơn đói của mình.
Về lý do khiến cho loài trăn khổng lồ Titanobatuyutrung,
nhiều người tin rằng đã có những thời điểm nhiệt độ của trái đất giảm xuống,
khiến cho loài động vật máu lạnh này khó thích nghi với môi trường có nhiệt độ thấp như vậy.
Megaterium, loài lười khổng lồ đã tạo ra những đường hầm bí ẩn tại Nam Mỹ.
Những con lười ngày nay có kích thước tương đối nhỏ bé,
tuy nhiên những người họ hàng thầy cổ đại của chúng lại khác.
Có những con lười cao gần 4 mét và có thể nặng đến hơn 4 tấn.
Những con lười khổng lồ từng lang thang trong các khu rừng ở Nam Mỹ.
Các hóa thạch của chúng thường được tìm thấy ở Argentina, Uruguay và Bolivia.
Mặc dù có khả năng đi bằng 4 chân,
nhưng chúng vẫn có thể vươn cao hết cỡ và đứng bằng chân sau để cuốn lấy những chiếc lá khó tiếp cận.
Tuy nhiên giống như những con lười hiện đại,
những con lười đất khổng lồ có tốc độ di chuyển khá chậm,
có lẽ chậm hơn bất cứ thứ gì còn sống vào thời điểm đó.
Những con lười có thể đào những đường hầm dài hơn 6 mét nhờ vào móng vốt sắc nhọn khổng lồ của mình.
Tuy nhiên chúng ta lại phát hiện được hàng nghìn đường hầm đá khổng lồ,
với dõi vết đào bới của loài này dài đến hàng chục mét nữa cơ.
Theo các nhà địa chất học,
thì những đường hầm to lớn như vậy có thể được tạo ra bởi những con lười khổng lồ qua nhiều thế hệ khác nhau,
chứ không chỉ đơn thuần là do một con lười hay là một đàn lười đào vào một giai đoạn nhất định.
Gigantophithecus, loài linh trưởng to lớn nhất từng tồn tại trên trái đất.
Loài vượn khổng lồ nặng đến gần 300 kg.
Tuy nhiên ở thời điểm hiện tại, chúng ta mới chỉ phát hiện được một vài mẫu hóa thạch của loài linh trưởng cổ đại này.
Các nhà khảo cổ học tin rằng,
chúng có thể cao đến gần 4 mét và có thể là tổ tiên của loài đới ngươi ngày nay,
sống ở Đông Nam Á trong khoảng 6-9 triệu năm trước khi tuyệt chủng vào 100.000 năm trước.
Dựa trên các mẫu hóa thạch đã từng phát hiện,
giới cổ sinh vật học tin rằng loài này đã có thể ăn thực vật, trái cây, hạt và có thể ăn cả tre nữa.
Trong khi hầu hết các loài động vật tiền sử vào thời điểm đó kiếm ăn trong cả sừng và đồng cỏ,
thì loài này lại chỉ sinh sống trong một môi trường duy nhất, đó là rừng.
Và khi diện tích rừng bị thu hẹp, nguồn thức ăn của chúng cũng theo đó trở nên khan hiếm.
Đây cũng chính là lý do khiến loài linh trưởng khổng lồ này tuyệt chủng.
Trên thực tế, đến năm 1935,
con người hiện đại của chúng ta mới biết đến sự tồn tại của loài linh trưởng này.
Sau đó, một nhà cổ sinh vật học người Đức đã tìm thấy một số răng của loài linh trưởng khổng lồ này tại Trung Quốc.
Và cuối cùng là tê giác lông cừu, loài động vật thời tiền sử đầy lông lá đã lang thang ở Á Âu.
Tê giác lông cừu trông rất giống với tê giác ngày nay.
Giống như tê giác châu Phi hiện đại, chúng có một bộ hai sừng,
một sừng lớn phía trước và một sừng nhỏ hơn ở giữa hai mắt.
Tuy nhiên điểm khác biệt so với tê giác hiện đại là chúng có rất nhiều lông,
với đầu và thân dài hơn, chân thì ngắn hơn.
Tê giác lông cừu cũng có một cái miếu lớn ở sau vai.
Trước khi tuyệt chủng 14.000 năm trước, tê giác lông cừu đã lang thang khắp nơi.
Hóa thạch của nó được tìm thấy ở Tây Ban Nha, Siberia và Hàn Quốc.
Do đó, tê giác lông cừu đôi khi xuất hiện trong những bức tranh hang động cổ đại,
mặc dù không thường xuyên như voi mamut hoặc là bò rừng.
Vào năm 2020, một người dân ở đông Siberia đã tình cờ bắt gặp một sát tê giác lông cừu non đông lạnh
trong lớp băng, lớp băng vĩnh cữu bảo tồn ruột, lông và thậm chí là sừng của con vật này.
Tuy nhiên cho đến nay, vẫn chưa có ai nói về việc cố gắng tái tạo hoặc hồi sinh tê giác lông cừu
theo cách một số người muốn tái tạo loại voi mamut.
