Mạc Đăng Dung - Người Khai Sinh Nhà Mạc Và Hành Động “Công, Tội Khó Phân”

Xưa và Nay
1.3K Người theo dõi
#MạcĐăngDung #MạcTháiTổ #NhàMạc
#Su7 #Sử7 #Su7VietNam
Mạc Đăng Dung - Người Khai Sinh Nhà Mạc Và Hành Động “Công, Tội Khó Phân”
Không ai có thể phủ nhận Mạc Đăng Dung là một con người giàu nghị lực và mưu trí, từ một anh lính cầm lọng cho vua lại có thể từng bước xây dựng thế lực trong triều đình, uy tín trong dân chúng rồi cuối cùng vươn lên đỉnh cao quyền lực, trở thành vị hoàng đế khai quốc của nhà Mạc. Thế nhưng, một sự nghiệp đầy rẫy tranh cãi, cộng thêm lý lịch có nhiều vết đen, tất cả đã khiến Mạc Đăng Dung cùng vương triều của mình trở thành một trong những vương tiều khó phân định công – tội nhất trong lịch sử Việt Nam.
Nguồn: vi.wikipedia.org, nguoikesu.com, vi.wikipedia.org, nghiencuulichsu.com, kienthuc.net.vn,
Mạc Đăng Dung, người khai sinh nhà Mạc và hành động công tội khó phân.
Không ai có thể phủ nhận Mạc Đăng Dung là một con người giàu nghị lực và mưu trí.
Từ một anh lính cầm nộng cho vua, lại có thể từng bước xây dựng thế lực trong triều đình,
uy tín trong dân chúng, rồi cuối cùng vương lên đỉnh cao quyền lực,
trở thành vị hoàng đế khai quốc của nhà Mạc.
Thế nhưng một sự nghiệp đầy rảy tranh cãi, cộng thêm lý lịch có nhiều vết đen,
tất cả đã khiến cho Mạc Đăng Dung, cùng vương triều của mình,
trở thành một trong những vương triều khó phân định công tội nhất trong lịch sử Việt Nam.
Xuất thân nghèo khó, từng làm lính che lỏng cho vua.
Mạc Đăng Dung sinh ngày 23 tháng 11 năm 1483,
có tài liệu ghi là 22 tháng 12 năm 1483,
người làng Cổ Trai, huyện Nhi Dương, hay là huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng.
Theo Đại Việt Sở Ký Toàn Thư và Đại Việt Thông Sử,
cụ tổ bảy đời của Mạc Đăng Dung là lượng quốc trạng nguyên thời trần Mạc Đĩnh Chi,
quê ở huyện Trí Linh Hải Dương, làm quan thanh niên, tiến tam lừng lệ cả nước.
Viện Sử học Việt Nam dự phao sách Công dư tiệp ký kết luận thêm rằng,
Mạc Đăng Dung là cháu bảy đời của Mạc Đĩnh Chi,
mà Mạc Đĩnh Chi lại là cháu năm đời của trạng nguyên Mạc hiện tích thời lý.
Họ Mạc có gốc từ cơ chất khiếp Hậu Huệ Nhà Chu bên Trung Quốc.
Sau khi Nhà Chu mất, cơ chất khiếp làm quan cho nhà Hán, được ban Họ Mạc.
Sau này con cháu di cư xuống Nam, rồi tới Đại Việt.
Cha của Mạc Đăng Dung là Mạc Hệt, lấy người con gái họ đặng trong làn,
sinh được ba người con, bà Đăng Dung là con trưởng.
Có một gốc quốc trong tiểu sử dòng Họ Mạc,
được sách Họ Mạc ở nghệ tỉnh chép lại rằng,
ông Mạc Đăng Hùng, chú của Mạc Đăng Dung,
thi đậu trạng nguyên võ dưới triều lê.
Ông giỏi đá cầu, cửi ngựa, bán cung,
nên được nhà vua ưu ái thường triệu vào cung cùng chơi cầu, tị thí.
Mùa xuân năm kỷ tỷ, vua cửi thuyền rồng ra chơi trên sông Thiên Đức.
Ông Hùng biểu diễn đá cầu một cách tuyệt diệu,
vua đứng trên thuyền xem mãi không chán.
Chẳng may, quả cầu trôi vào thuyền ngự, phạm vào vua,
ông bị kết án tử hình.
Chính việc này đã trực tiếp đẩy cả dòng họ Mạc
thêm một lần nữa rơi vào cảnh trốn chạy,
phải đến lánh nạn tại vùng Tam Giang.
Hoàn cảnh bất bách, vừa lớn lên Mạc Đăng Dung
đã phải dở giang hiệp thi thương để mà lo kế sinh nhai
bằng nghề đánh cá và chèo đò thuê.
Tuy nhiên, ông lại có sức khỏe phi thường, tướng mạo khôi ngô,
báo hiệu một tiền đồ tươi sáng.
Từ một chàng trai nổi tiếng khắp vùng
Trong một dịp đi thi võ ở Kinh Đô,
Mạc Đăng Dung đã thi đổ đệ nhất đô lực sĩ trạng nguyên võ
thời vua Lê Uy Mục và được rung vào đội quân túc vệ
giữa việc cầm tán đi theo xe vua.
Trong hạng ngũ võ quan nhà Lê, theo sự gia Lê Quý Đôn,
Mạc Đăng Dung tỏ ra là người thật thà ngay thẳng.
Năm 1508, ông được phong làm đô chỉ huy sứ
Vua Uy Mục vốn là một hôn quân nghiện rượu hoang dâm,
thích ra oai để cho họ ngoại hoành hành,
lồng dân cam phẫn nên gọi là quỹ phương,
cơ đồ nhà Lê đi xuống từ đây.
Vua lại có thói, nghi kỷ các quan, các tôn thức,
nhiều người vì thế mà muốn nổi loạn.
Khoảng thời gian biến loạn từ lúc Lê Uy Mục uống thuốc độc tử tử
cho đến khi Lê Tương Dược lên ngôi,
sự sách không chết gì về Mạc Đăng Dung.
Bản thân Lê Tương Dược cũng là ông vua chơi bời vô độ,
xây dựng liên miên, dân nghèo thất nghiệp, trộm cướp nổi lên,
nhiều nơi giấy binh làm loạn,
dẫn tới sự suy vong của nhà Lê Sơ, ngày Mục trầm trọng thêm.
Năm 1511, Mạc Đăng Dung được thăng làm vũ xuyên bá.
Thời gian này hạng hán gây đói kém,
các cuộc nổi dậy của Trần Cảo, Trần Tuân, Nguyễn Nghiễm liên tiếp xảy ra,
triều đình phải vất vả đánh nhẹp.
Viên tướng Trịnh Duy Sản cùng tay chân giết vua Lê Tương Dược,
lập vua mới là Lê Chiêu Tông.
Tình hình lúc này chỉ có thể nói là
bên ngoài giặc giả nổi lên như ông,
bên trong quyền thần chém giết lẫn nhau, kinh sư đậm máu.
Mạc Đăng Dung lúc ấy trấn thủ Sơn Nam, án binh bất động,
không liên can đến các cuộc đấu đá tranh giành.
Đáng ghẹ nhất về ông trong thời điểm là việc hạch tội.
Thời đó có hai tên Cụ Khắc Xương và Trần Khắc Xương
mượn đảo Thiên Vũ Thiên Vòng mê hoạt dân.
Mạc Đăng Dung dân sớ xin trị tội,
lại hạch một số viên quan mê tính ta thuyết.
Sau đó, ông lại hạch Thiệu Quốc Công Lê Quảng Độ,
tội bất trung vì hàng giặc Trần Cảo.
Từ đấy, vua Lê càng tin Mạc Đăng Dung là người trung thực,
càng thêm ân sủng.
Năm 1518, Mạc Đăng Dung được thăng làm Vũ Xuyên Hầu
ra trấn thủ Hải Dương.
Tại đây thì ông tích cực thu thập hương binh,
chỉnh đốn quân ngũ, quân số ngày càng đông.
Từ công thần phò giá đến kẻ cướp ngôi vua.
Sau khi đánh đuổi được hai thế lực Nguyễn Hoàng Vũ và Trịnh Tuy,
quyền thế của phụ chính Trần Chân trong Triều Lê ngày càng lớn.
Mạc Đăng Dung cũng phải sợ,
liền giảm hỏi con gái Trần Chân cho con trai mình là Mạc Đăng Doanh.
Để ngừa hậu họa, các đệ thần bàn mưu với nhà vua
dụ Trần Chân vào cung, rồi bắt chém đầu.
Các thủ hạ của Trần Chân hay tin,
mang quân vây đánh kinh đua để báo thù.
Lê Chiều Thông gọi các quan thế hội giá,
nhưng người không đi, người lại nhắm cơ hội hoành hành,
đóng quân không rút.
Mạc Đăng Dung lúc đó đã từ Hải Dương về ý kiến vua,
đóng thủy quân ở sông Nhị Hà,
xin vua chuyển về Dinh Bồ Đệ để tiện theo hầu.
Theo sách Đại Việt Thông Sử,
lúc này thực chất, ông đang mượn thế của quân địch
để chặt vây cánh của vua Lê.
Lúc này Trịnh Tuy lại nổi lên,
Lê Chiều Thông chọn cách mời Nguyễn Hoàng Vũ ra đánh Trịnh Tuy
và Mạc Đăng Dung đi cùng.
Kết quả là quân Hoàng Vũ thua to,
lùi quân về Thanh Hóa.
Từ đây Mạc Đăng Dung thống lĩnh quân Thủy Bộ.
Sau một thời gian, các thế lực nổi dậy như là Lê Do,
Nguyễn Sư, Trịnh Tuy, Nguyễn Kính, Nguyễn Án,
Hoàng Duy Nhạc, người bị giết, kẻ sinh hàng Mạc Đăng Dung.
Lê Chiều Thông phong ông làm Minh Quận Công,
nắm hết quyền bính, đưa vua Hồi Kinh Sư,
Việt Thiên Hạ tạm yên.
Năm 1520, Mạc Đăng Dung được vua Sai Làm
tiết chế các xứ Thủy Bộ Chư Dinh.
Năm sau, ông lại được phong làm Nhân Quốc Công,
tiết chế các doanh quân Thủy Bộ 13 Đạo.
Tháng 7 lại ra phong làm Thái Phó.
Năm 1521, sau khi đánh lùi được Trịnh Tuy vào Thanh Hóa,
bàn quân đánh lực lượng của Trần Cung ở Làng Nguyên.
Quyền thế của Mạc Đăng Dung gia tăng rất lớn,
kiểm soát toàn bộ triều đình.
Ông gây dựng phai cánh gồm Thông Gia, Phạm Gia Mô,
làm Thượng Thư Bộ Lễ,
em rễ Quỳnh Khê Hầu Vũ Hộ,
làm Hữu Đô Đốc trấn thủ sân Tây.
Ngoài ra còn có các Thượng Thư Trình Chí Sâm
và Nguyễn Thị Úng ngã theo ông.
Mạc Đăng Dung lại tiến vua một Mỹ Nhân,
giải danh làm con gái vào làm Cung Tần
để dò la tin tức,
lại sai em làm bạc huyết giữ đạo binh Túc Vệ,
con trai đăng doanh giữ điện Kim Quang.
Năm 1522, Lê Bá Hiếu nổi dậy
chống triều đình ở vùng Đông Ngàn Gia Lâm.
Mạc Đăng Dung lại mang quân đi đánh dẹp được.
Sự gia Lê Quý Đôn viết rằng
từ đó công danh ngày càng thịnh,
triều đình ai cũng phục.
Khi đó Mạc Đăng Dung đi bộ,
thì lông phượng nhát vàng,
đi thủy thì thuyền rồng dây kéo,
ra vào cung cấm không kiên sợ chi.
Ông Diết, Thị Vệ, Nguyễn Cấu,
đô lực sĩ Minh Sơn Bá, Nguyễn Thọ và Đàm Cử
vốn là những người trung thành với Lê Chiêu Tông.
Sở hãi hoàng đế cùng một số cận thân
lánh khỏi Đông Kinh,
hiệu triệu thiên hạ Diệt Đăng Dung.
Thay thế Đăng Dung phế luôn Chiêu Tông
rồi lập hoàng đế của Chiêu Tông lên ngôi
hiệu là Cung Hoàng.
Khi Chiêu Tông bị Trịnh Thuy Bắc đem về Thanh Hóa,
Đăng Dung bí mật sai người đến Diết,
đem sát về chôn ở Vĩnh Hưng Lan.
Tháng 4 năm 1527,
Lê Cung Hoàng tấn phong Mạc Đăng Dung
làm An Hưng Vương.
Hai tháng sau thì ông từ cổ trai trở lại Kinh Đô
ép Lê Cung Hoàng nhường ngôi,
sở gia Lê Quý Đồn chép rằng
lúc này thần dân phần nhiều xu hướng về Đăng Dung
đều ra đón Diệt Kinh Đô.
Ngày 15 tháng 6 1527,
Mạc Đăng Dung ngự nơi chính miệng,
tế trời ở Đàn Nam Giao,
dựng tuôn miếu xưng hoàng đế,
đổi niên hiệu là Nam Minh Đức thứ nhất,
phế trước vua Cung Hoàng làm Cung Vương,
giam cùng Thái Hậu.
Vài tháng sau, ông ép cả hai phải tự tử.
Nhà Lê Sơ kết thúc nhưng công đức
Lê Thái Tổ và Lê Thánh Tông
làm cho nhiều người vẫn còn lưu luyến.
Khắp nơi nổi lên những đội quân
phù Lê Diệt Mạc.
Thấu hiểu điều này, Mạc Đăng Dung buộc
phải thuân giữ pháp độ của nhà Lê,
phủ dụ thần dân, trấn áp lòng người,
cho tìm con cháu các nhà thế gia công thần
đang ẩn náo ra làm quang.
Tháng 10 năm 1528,
ông rai bệt tôi là Nguyễn Quốc Hiến,
bàn định, binh chế,
điền chế, lọc chế,
đặt bốn vệ, năm phủ.
Số người, số lính của các nhà môn
đều phỏng theo quan chế của triều trước.
Mạc Đăng Dung
Lê Hải Dương làm Dương Kinh,
lập Cung Điện ở Cổ Trai,
trì thuần miếu hiệu xây dựng mộ phần
cho tử tiên họ Mạc,
lập con trai là Mạc Đăng Doanh làm Thái Tử,
phong tước cho thân quyến,
ban thưởng cho cận thần.
Lấy ngày sinh của mình,
năm này càng ninh, khánh tiếc.
Đăng Dung dựng thêm một ngôi điện để ở,
gọi là điện Phúc Huy.
Về quân sự, quân tránh giữa các xứ
Hải Dương, Sơn Nam, Sơn Tây và Kinh Bắc,
lần lượt cho lệ thuộc do bốn vệ
Hưng Quốc, Chiêu Bủ, Cậm Y và Kim Ngô.
Mỗi ty đặt một viên chỉ huy sứ,
mỗi vệ đặt một viên thư ký,
mỗi giáp đặt một viên giáp thủ.
Nếu có công lao thì mỗi linh chức cao hơn.
Bạc Đăng Dung cũng gắn tổ chức thi thường xuyên
để tuyển chặn nhân tài.
Trong số những người thi độ dưới trường mạc,
có nhân vật cực kỳ nổi tiếng là Trạng Trình,
Nguyễn Bình Khiên.
Năm 1528,
Bạc Đăng Dung sai đút tiền thông báo
theo cách đút tiền cũ,
sau lại đút các loại tiền dán,
pha kẽm và sát
ban hành các xứ trong nước để thông dụng.
Ông ra lệnh cấm người các xứ trong ngoài
không được mang binh khí hoành hành
trên đường đi.
Ai vi phạm thì cho phép đi bắt giữ.
Từ đấy người buôn bán
và kẻ đi đường đều đi tay không.
Ban đêm không còn trộm phướp,
trâu bò thả chanh không phải đem về.
Trong khoảng vài năm,
các nơi được mùa liên tiếp trồng cõi tạm yên.
Mùa đông năm 1529,
Bạc Đăng Dung đã làm vua
được 3 năm.
Từ thấy mình tuổi già bèn truyền ngôi
cho con trưởng là Đăng Doanh,
tự xưng là Thái Thượng Hoàng,
ra ở Điện Trường Quang,
có nghề đánh cá là thú ngao du tự lạc.
Theo sự gia Lê Quý Đôn,
Đăng Dung về cổ trai ở
là để trấn giữ nơi căng bản,
làm ngoại viện cho con,
nhưng vẫn quyết định những việc tròn đại.
Đăng Doanh lên làm hoàng đế,
dựng cung điện Nguy Nga cho cha ở.
Mùa tháng vào ngày 8-22
dẫn bác Quang tới Triều Ý.
Cắt đớt cho nhà Minh,
hành động gây tranh cãi dữ dội.
Sau khi lên ngôi được 1 năm,
Bạc Đăng Dung sai người sang báo
với nhà Minh rằng con cháu họ Lê
không còn ai thừa tự,
ủy thác cho đại thân họ Mạc
tạm trong coi việc nước.
Vua Minh không tin,
sai sứ giả dò la tin tức.
Bạc Đăng Dung đem nhiều vàng bạc nút lót
để sứ giả về tâu,
nhưng vua Minh vẫn không nghe.
Thế là nhà Mạc, Lập Bưu,
dừng 2 châu Quy, Thuận
và 2 tượng người bằng vàng bạc
cùng châu báo vật lạ.
Vua Minh nhận,
từ đó Bác Nam thông hiếu qua lại.
Năm 1529,
bê tối cũ của Triệu Lê
là Trịnh Ngung, Trịnh Ngang
sang nhà Minh tố cáo nhưng không thành.
Năm 1533,
An Thành, Hầu Nguyễn Kim ở Ai Lao
lập con cháu họ Lê lên ngôi
tức là Lê Trang Tông
lại sai người sang nhà Minh tố Mạc Đăng Dung
tiếm loạn.
Thế là vua Minh sai quân sang đóng gần cửa Nam Quang
rồi truyền hịch đi khắp nơi
hệ ai bắt được cha con Mạc Đăng Dung
Năm 1538,
Triệu Mạc sai Nguyễn Văn Thái
dân biểu sinh được phân xử.
Theo Trần Trọng Kim trong sách Việt Nam Sử Lược
Việt nhà Minh định sang đánh họ Mạc
không phải là ý tốt gì với họ Lê
chẳng qua họ cũng muốn
nhân nút nước Nam có biến
lấy cớ bà Trang như khi trước
sang đánh họ Hồ.
Năm 1540, mọi việc chưa yên
thì Mạc Đăng Dung chết.
Mạc Đăng Dung về Kinh
lập cháu Mạc Phúc Hải
lên nối ngôi.
Mùa đông tháng 11, Mạc Đăng Dung
cùng với cháu và các bề tôi trung thành
qua trấn Nam Quang, dân tờ biểu
đầu hàng, đợp hết sổ sách
về đất đai, quân dân và quan chức
cả nước để chờ phân xử
dân các động Tê Phù, Kim Ngạc,
Cổ Sâm, Liệu Khác, An Lương,
La Phù của châu Vĩnh An
trấn Yên Quảng.
Xin cho nội thuộc vào không châu.
Năm 1541,
nhà Minh Phong vua Mạc
làm An Nam đô thống ti sứ,
cho ấm bạc, vẫn cho thế tập cha truyền
con núi. Còn 13 lộ cứ để
thênh khủ, nhưng đều lập phủ ti
cho chức đô thống sứ được cai khoản,
điều khiển và phải triều cống.
Vì việc cắt đớt triều cống này
cộng thêm hành động cướp ngôi,
tất cả đã khiến cho Mạc Đăng Dung cùng cả vân triều Mạc
bị giới sử gia xưa
coi là ngụy triều hèn nhát.
Tuy vậy, với công bác khách quan và mở rộng hơn,
nhiều sử gia Việt Nam ngày nay
lại có phần cảm thông một phần
cho quyết định này của Mạc Đăng Dung.
Khi đó, nhà Mạc mới dựng,
tình hình đất nước vẫn còn quá ngộ ngang.
Để giữ lấy triều đình non trẻ
nói riêng và tuồn vông đất nước
nói chung, nhà Mạc buộc phải chấp nhận
hy sinh một phần để giữ lấy hòa bình.
Sau khi lên biên giới
để cắt đớt trở về,
ngày 22 tháng 8 1541,
Mạc Đăng Dung băng hà.
Thủy hiệu nhân minh cao hoàng đế,
biếu hiệu là thái tổ.
Trước khi mất, ông có để lại
di chức, không làm đàn chay cuốn vật
và khuyên Mạc Phúc Hải phải nhanh chóng
về kinh sư để trấn an nhân tâm
và xã tắc làm trọng.
Sau khi Mạc Đăng Dung qua đời,
nhà Mạc với ba đời vua kế tiếp
còn làm chủ đất nước được hơn nửa thế kỷ.
Sau đó, thất thế
vào năm 1592,
di chuyển lên vùng Cao Bằng,
rồi tồn tại kéo dài thêm 4 đời vua nữa.
Cho đến năm 1677,
tính ra là vừa tròn
150 năm mới mất hẳn.
Cảm ơn bạn đã xem video
trên kênh Người Nổi Tiếng.
Đừng quên những nút đăng ký và xem thêm
những video mới để ủng hộ nhóm nhé.
