- Đền vua Rộc là một trong bốn tứ linh từ (bốn ngôi đền thiêng thuộc phủ Chân Định xưa) nằm ở thôn An Điềm xã Vũ An huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình ngày nay, cách quốc lộ 458 gần 1km. Vào năm 2002, ngôi đền đã được công nhận khu là Di tích lịch sử văn hóa. - Đền Vua Rộc có kiến trúc thời nhà Nguyễn, theo kiểu chữ đinh, gồm 5 gian xây bằng gỗ. Trong khuôn viên của đền có Đền chính thờ nhị vị Đại Vương: Đông Hải Đại Vương Đoàn Thượng và Tây Hải Vương. Cổng Hành Mã và nhiều cây cổ thụ, giếng, ao, gò đống. Đền nằm trên cánh đồng Rộc, là vùng đất long mạch, tức “đầu rồng”. Vùng đất dựng đền cao hơn hẳn so với mặt bằng chung. Hiện nay còn tồn tại dấu tích được xác định là “đầu rồng”, đó chính là hai cái ao nhỏ được gọi là mũi rồng không bao giờ cạn nước. Còn phía trên có hai tai rồng dù có mưa to hay bão lụt lớn như thế nào cũng không bao giờ ngập nước.
- Lễ hội đền Vua Rộc diễn ra vào ngày 5 - 6 tháng Giêng âm lịch hàng năm để tưởng nhớ công ơn nhị vị. Trong lễ hội có nhiều trò chơi dân gian đặc sắc như đánh cờ, hát chèo. Phần I: 1:00 Đền vua Rộc thờ phụng ai? Phần II: 2:30 Lai Lịch Đông Hải Đại Vương và Tây Hải Đại Vương.
Đất Trần Định xưa tức Thái Bình ngày nay từ ngàn đời đã xuất hiện bốn ngôi đền thiêng là dấu ấn của thần từng giáng ngự tại thế gian hưởng hương hòa tạo phúc cho dân.
Cả bốn ngôi linh tử quanh năm ngắt ngùi hương chẳng, dân bản địa cùng khách thập vương không khi nào ngớt bước chân thăm viếng.
Trong video này mời quý khán giả cùng chúng tôi trở về thăm viếng
Đền vua nằm ở thôn An Điềm, xã Vũ An, huyện Kiến Xương, cách quốc lộ 458 gần 1 km vào năm 2002.
Ngôi đền đã được cổng nhận là khu di tích lịch sử văn hóa.
Trước kia, đền vương nằm trong khu rừng Nguyên Sinh, rộng 2,4 mẫu với đa dạng các loài thực vật quý hiếm.
Bên trong có hai hồ nước mát lạnh.
Vùng đất dựa đền cao hơn rất nhiều so với mặt bằng đất vùng dân cư, khi xưa vốn là một gò đất cao, khí hậu đông ấm, hạ mát rất kỳ thú.
Ngôi đền còn có tên gọi khác là đền đầu rồng.
Ông Thù Từ cho biết hai hồ lớn là phần mỗi rồng, quanh nằm chưa bao giờ cạn nước.
Nhưng hai cái hồ nhỏ, chính là vị trí đuôi tai rồng, thì luôn khô ráo, dù mưa luột cũng không ngập nước.
Chi tiết này đã phần nào xác minh cho địa thế đầu rồng, quả nhiên rất thần kỳ.
Theo thần phà còn lưu lại đại xã Vũ An, vua độc tên Húy là Rạn Thượng, là một thần tượng uy vũ, rung mạo khát thường, văn võ sầu toàn cưới thời nhà Lý.
Theo Ngọc Phà Đông Hải Đại Vương Triều Lý ghi lại như sau.
Lạc Long Quân là con trai Hùng Vương, Lễ Âu Cơ, con gái vua Hồ Động Đình, sinh ra một bọc trăm trứng, nở ra trăm con đều là thần nhân.
Tới khi trưởng thành, vua Hùng phần 50 người con xuống biển theo cha làm thủy thần.
50 người con lên núi theo mẹ làm sơn thần.
Về sau, sơn thần và thủy thần thường hay xuất thế giúp dân giúp nước, hoặc hiện linh du chơi đây đó, để lại thần tích, khiến nhân dân các nơi lập đền thở vụng.
Lúc bấy giờ, vào thời nhà Lý, có một vị quan bộ lễ họ đoàn tên Trung ở lộ Hồng Châu, ra phòng hiếu đễ.
Nhưng quá ngũ tuần mà không có con lối dõi nên buồn chán tử quan về quê, hành thiện tích đức cầu trời bàn ơn.
Một ngày nọ, ông bà lên núi Yên Tử cầu đảo, đêm đó bà nằm mơ thấy khắp chùa tràng hoàng màu sắc hồng,
lại thấy một con dao lòng đi lên cuốn lễ thân, tỉnh dậy biết đây là điểm lành nên biện lễ hậu tạ thần Phật rồi trở về nhà.
Từ đó bà có thai, đến ngày 10 tháng 2 năm Giáp Thìn, sinh ra bé trai đầu rồng Mát Phượng, ham én 7 ngày, đặt tên là Đoàn Thượng.
Cậu Thượng một tuổi đã biết nói, năm tuổi đã am tưởng ẩm luật, hai mươi tuổi đọc hết thiên kinh vạn quyền, về võ thì thồng suốt tam lược lục thao.
Khi vua Lý Cao Tông chiều mộ nhân tài, nhân dân lộ Hồng Châu tiến cử Đoàn Thượng.
Đến năm 1205, ông được phong tướng quân, giúp vua dẹp sờn tặc ở núi Tản Viên,
nên được ban thưởng cho xây dựng hơn 100 cung từ khắp Sơn Tây, Kinh Bắc, Hải Dương và các địa phương thuộc đảo Sơn Nam.
Tướng quân thường hay đi về gặp các cung tử và hữu duyên gặp được một ông lão dung mạo tuấn tú y nghiêm, khí chất siêu phạm.
Vừa gặp đã khiến ông kính trọng nên mời vào cung tử đàm luận, hai người đàm từ chuyện thế sự đến chuyện suất thế gian.
Càng nói, đoàn thượng càng nhận ra bản thân không bằng người này.
Tuy nhiên, hỏi tên thì ông lão chỉ cười không đáp.
Cứ như vậy, sáng đến chiều đi, quen viết đã bốn tháng mà không rõ danh tính.
Đoàn thượng hoài nghi, đây nếu không phải là Sơn Thần thì cũng là Thủy Thần, chứ không thể là đám người thường được.
Nghĩ vậy, một ngày nọ, ông mèn ngồi trong đám lao lách bên bờ sông để theo dõi.
Hồi lâu thì thấy ông bạn ao ao đội nước đi lên.
Đoàn thượng ôm lấy lưng ông ta cười mà bảo, hôm nay xin chớ có giấu hình hài.
Ông lão đáp lại, hôm nay ông đã biết cả rồi, tôi không dám giấu diếm gì nữa.
Tôi chính là Thần Tây Hải, là con trai thứ năm trong số 50 người con của Hùng Vương.
Ông cũng là Thần Đông Hải, con trai thứ tư của Vương và là anh trai của tôi.
Ngày nay hai anh em gặp nhau, ngày sau ác được chung hưởng hương hòa muôn đời.
Đều là do trời định gã, tôi nói để ông biết trước như vậy.
Nói xong liền biến mất.
Đoàn thượng liền cho dân các nơi lập cụng ở Tây Hải Vương.
Vào cuối kỳ nhà Lý, vua Lý Huệ Tông không có con trai phải chuyển ngôi cho con gái là công chúa Lý Triều Hoàng.
Triều Hoàng ở ngôi ba năm thì nhớ ngôi cho chồng là điện tiền chỉ huy sứ Trần Cảnh.
Trần Cảnh lấy miếu hiệu là Thái Tông.
Đội niên hiệu biến chung, Đăng Sơn chính thức đổi chủ về dòng họ Trần.
Đoàn tướng quân biết chuyện vô cùng tức giận, đem quân lập lũy ở Yên Nhân.
Lấy Hải Dương làm căn cứ tự dưng là Đông Hải Vương.
Tiếp tục lập đồn Lý ở Hương Các, Hương Phước để kháng cự nhà Trần.
Quân đội Triều Đình, quân của đoàn thượng giữ Hồng Châu
và quân của Nguyễn Nộn giữ Bắc Giang chia ra làm 3 phe cánh không đội giới chung.
Để thâu tóm Đăng Sơn về một mối, thái sư Trần Thủ Độ bàn với Thái Tông dùng mưu.
Mượn tay Nguyễn Nộn giết đoàn thượng.
Nguyễn Nộn chém rời đầu đoàn thượng ở Hồng Châu.
Đoàn thượng bị chém đầu nên dùng bao lưng cuốn cổ phi ngựa tháo chạy.
Trên đường gặp một ông lão mũ áo trình tề chắp tay thừa.
Sự hương vong là có số mệnh cả.
Tướng quân hát tất phải phẫn nộ.
Tướng quân là người trung liệt, thượng đế đã ghi nhận.
Rồi chỉ tay về phía gò đất bên đường mà nói
đó là mảnh đất hương hỏa đang kính chờ tướng quân.
Tướng quân phi ngựa tới đó, nằm gối lên thanh gươm mà ngủ.
Lập tức hàng trăm con mối đùn đất lên thành mổ.
Sau khi tướng quân đoàn thượng rời chân thế,
tất cả các cùng tử trước đây đều trở thành miếu thở ông
với thần hiệu là Đông Hải Vương
và thở chung với em trai của ông là Tây Hải Vương.
Cuối kỷ nhà Trần, họ hồ tranh ngôi, lạc minh xâm lẫn
cho tới khi nhà Lê lên lắm quyền mới có xác chỉ chính thức bàn cho nhị vị.
Hàng năm, cứ vào ngày mùng năm, mùng sáu tháng riêng,
người dân đều tổ chức lễ dương hường với nghi thức long trọng
để tưởng nhớ thần tướng trùng liệt và cầu quốc Thái dân an.
Mặc dù câu chuyện về Đông Hải Vương chứa nhiều yếu tố kỳ ảo,
nhưng đem so với các dữ kiện trong lịch sử thì trùng khớp đến kinh ngạc.
Hơn nữa, không chỉ một ngôi đền mà hàng trăm ngôi đền
cùng thở nhị vị hiện đang dài khắp miền Bắc.
Thần tích vẫn còn đó, đền thơ sừng sững hương đèn không khi nào ngừng nghỉ.
Có lẽ, điều này không chỉ đơn thuần phản ánh tín ngưỡng dân gian,
mà quả thực là dấu mốc lịch sử vẻ vang không phai mờ,
khiến nhân dân ngàn đời kính phục hương hỏa như lời Tây Hải Đại Vương đã nói.