Sự khác nhau của CÕI TA BÀ và CÕI CỰC LẠC - Bí Ẩn Các Cõi Giới Trong Phật Giáo

Radio Suy Ngẫm
1K Người theo dõi
Sự khác nhau của CÕI TA BÀ và CÕI CỰC LẠC - Bí Ẩn Các Cõi Giới Trong Phật Giáo
#radiosuyngam #kechuyenradiosuyngam #loiphatday #đạomẫu
Mời quý vị theo dõi video vô cùng ý nghĩa ngày hôm nay!
*Donate ủng hộ đội ngũ Ekip để có thểm kinh phí phát triển kênh:
Vietcombank - 1014891977 - Vũ Bá Tiến
Ekip Radio Suy Ngẫm trân thành cảm ơn quý thính giả.
Liên hệ: [email protected]
*Mọi vấn đề vi phạm chính sách Nguyên tắc cộng đồng, Luật bản quyền xin liên hệ trực tiếp với chúng tôi.
*Gmail: [email protected]
Lưu ý: Thông tin trong video chỉ nên dùng để tham khảo và đối chiếu với nhiều nguồn thông tin khác để kiểm chứng!
Cõi Ta-bà, Sa-ha hay Sách-ha nghĩa là nhẫn.
Cõi Ta-bà nghĩa là thế giới chịu đựng, nhẫn giới.
Đây là thế giới mà chúng ta phải chịu đựng các phiền não khổ sở.
Theo sách sử ghi lại, Đức Phật Thích Ca-mo-ni là Bậc Giáo Chủ Cõi Ta-bà,
Tây Phương Cực Lạc hay còn gọi là Tây Phương Tịnh Độ hoặc An Lạc Quốc.
Nơi đây được tạo dựng lên từ những thiện nguyện của Đức Phật A-di-đà.
Theo như quan điểm của Phật Giáo, Cực Lạc là một thế giới siêu hình mà ta không thể nhìn thấy bằng mắt thường.
Tây Phương Cực Lạc hoàn toàn có thật với các vị có chính báo tương ứng.
Tây Phương Cực Lạc là y báo của Phật A-di-đà và trư thánh chúng tu niệm Phật.
Các hành giả tu tịnh độ cầu siêu về Cực Lạc rồi từ đó nương thắng duyên mà tu tập cho đến ngày công viên Quảng Mãn thành Phật.
Tây Phương Cực Lạc không chỉ tạm dùng để chỉ cho chúng sinh mê mội hướng về.
Mà các bậc tổ sư vĩ đại của Tịnh Tông, các đại Bồ Tát có nhân duyên cũng nguyện sinh về cõi này.
Raidou Suy Ngẫm xin mời quý vị sẽ cùng tìm hiểu sự khác nhau giữa cõi Ta-bà và cõi Tây Phương Cực Lạc.
Nhằm mở rộng nội dung và đa dạng các video, Raidou Suy Ngẫm xin giới thiệu với quý vị kênh kể chuyện Raidou Suy Ngẫm.
Nên mà chúng tôi sẽ đăng những video ở nhiều chủ đề khác nhau để rất mong nhận được sự ủng hộ của quý vị.
Đường link chúng tôi xin được để ở dưới mô tả của video này.
Đầu tiên là cảnh giới.
Cực Lạc thanh tĩnh từ thân tâm tới ngoại khí.
Thần tâm thanh tĩnh và tùy ý sinh thân, không có sinh lão bệnh tử.
Tâm thanh tĩnh luôn an trụ trong niệm Phật tam mọi thuần niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng.
Không hề có vọng hay tả niệm, nên phàm kiến sắc văn thanh, đối lực trần đèo vô nhiễm.
Cảnh giới lại thanh tĩnh thuần bằng bảy bóng, trang nghiêm vô cấu.
Không có rác, dến, bụi bẩm, bùn sình hay phân uế.
Khí hậu ôn hòa mát mẻ, không có nóng lạnh, hạn hán, bão lụt, động đất thiên tai.
Cư dân nơi cõi cực lạc, thân tâm thanh tĩnh, nên không có cảnh chém giết, ăn uống, cướp đoạt sinh mạng hay tàn sát của nhau.
Vì vậy ở cực lạc, không hề nghe nói tới tam ác đảo, hà hướng là thấy.
Cảnh giới ta bà, bất tĩnh, từ thân tâm tới ngoại cảnh.
Thân bất tĩnh được xây dựng bằng xương, quét tô bằng máu thịt, là nơi trồng chất tụ hội của vô lượng bệnh khổ.
Và món bất tĩnh như đàm rãi, phân niều và chịu sự chi phối của sinh láo bệnh tử.
Vì thân do tứ đại hợp thành, đại nào cũng có sinh láo bệnh tử.
Nên thân do tứ đại hợp thành cũng phải chịu định luật sinh láo bệnh tử.
Tâm bất tĩnh luôn phân biệt tắng ái thủ xạ theo ngã chấp, nên khởi tranh chấp gây hại tương tàn lẫn nhau.
Do thân tâm bất tĩnh, nên cảnh giới ta bà có tam ác đảo.
Cảnh giới thế bất tĩnh chỉ còn bùn đất, ô ế là nơi nhóm hợp của các yếu tố gây mọi mầm mệnh.
Khí hậu lại độc hại, lúc nóng, lúc lạnh, đủ mọi thiên tai, xảy ra bất ngờ nhờ địa chấn, hạn hán, lũ lụt, bão tố.
Thân tâm và cảnh giới đã bất tĩnh, lại từ bất tĩnh đó sinh ra cảnh giới chém giết tranh giành sinh mạng và tài sản của nhau.
Lại nuôi dưỡng thân tâm bất tĩnh đó bằng sinh mạng của chúng sinh, nên tam ác đảo nhân đây mà thành hình.
Tiếp theo là sự khác nhau về cư dân.
Cư dân cực lạc đều là những người có niềm tin vào nguyện lực cứu độ của Đức Phật A-di-đã, cũng như nhất thiết chư Phật.
Niềm tin này bao gồm hai loại, tin Phật và tin Pháp.
Tin Phật là người có đầy đủ tâm tử bi, sẽ cứu ta và mọi người.
Tin Pháp là chí huệ của Phật thấu triệt mọi phương pháp cứu độ ta và chúng sinh.
Đức tin bao quát hai phương diện, nếu thiếu một trong hai, tất không thành đức tin.
Thứ nhất là tin ta bà là khổ cần thoát ly.
Thứ hai, tin cực lạc là vui cần nên sinh về.
Một khi thật sự tin ta bà là khổ cần thoát ly, tất quyết định lìa bỏ mọi rục lạc của ta bà, nhạt lòng với cả ngũ rục.
Tin cực lạc là vui nên sinh về.
Tất quyết định vận dụng trọn ba nghiệp tiến tu tịnh nghiệp.
Tức đồng với quyết định tin vào năng lật tờ bi, cứu độ của Phật.
Nên niệm Phật tha thiết, cầu mong Phật tiếp dẫn về quãi nước của Ngài.
Đó là lý do niệm Phật, song niệm Phật cũng chính là niệm bản nguyện độ sinh của Phật.
Niệm Phật hay niệm bản nguyện độ sinh của Ngài lại phân thành hai trình độ.
Thứ nhất, niệm Phật hay niệm bản nguyện của Ngài để được bản nguyện này tiếp độ.
Thứ hai, niệm Phật hay niệm bản nguyện của Phật để bản nguyện độ sinh của chư Phật.
Phát khỏi trong ta, dẫn đến hành nguyện độ sinh và cầu thành Phật.
Người tin Phật phát nguyện niệm Phật, lấy sự niệm Phật, làm pháp tu hành, cầu sinh về cõi Phật.
Tín nguyện hành của người này thuộc về trung và hạ phẩm, vì chỉ dựa vào hành nguyện cứu độ để được cứu.
Người tin Phật phát nguyện độ sinh, lấy độ sinh làm pháp tu hành.
Tín hành nguyện của người này thuộc trung và thượng phẩm,
vì biết dựa vào hành nguyện độ sinh mà thành tựu vô lượng tịnh nghiệp cho ta và nhất thiết chúng sinh.
Tín là nền tảng nhập môn, từ tin vào nguyện được cứu độ của Phật mà hành pháp cầu cứu.
Đó là hành môn của Phạm nhân, có thể nói đây là dị hành môn của dị hành đạo, tịnh độ.
Lại do tin vào nguyện có sức độ nhất thiết chúng sinh,
điển hình như chư Phật chư Bồ Tát thường hành,
mà phát bồ đề tâm nguyện, thường hành bồ đề nguyện, độ khắp chúng sinh.
Nguyện hành này là nan hành môn của dị hành đạo.
Vì vậy ta có thể kết luận tin có hai loại.
Thiển tin tức tin vào bản nguyện của Phật để được cứu.
Thâm tin tức tin vào bản nguyện của Phật để hành pháp cứu độ chúng sinh.
Từ đức tin sâu hay cả, người tu học Phật có hai cách nhìn về nguyện.
Một, chỉ thấy nguyện độ sinh của Phật đối với ta, và ta phát nguyện được cứu.
Hai, nhận chân do nguyện độ sinh mà ta được cứu, Phật được thành, có tịnh được lập.
Lại biết thành Phật là cứu cánh của phá môn tu tập tín nguyện hành,
nên không thể bỏ qua yếu tố phát sinh công đức vô lộ của sự phát nguyện độ sinh,
mà chỉ cầu phúc đức hữu lộ là được cứu của bản nguyện này.
Lại từ khía cảnh phát nguyện mà có hành rộng, hẹp.
Tùy theo hành mà tín nguyện hành nơi tâm, thanh tịnh nhiều hay ít,
do các yếu tố đó mà cảnh giới cực lạc, thành có chín phẩm.
Đại ý nói thanh tịnh có chín phẩm bậc,
tùy theo tâm thanh tịnh tới bậc nào thì sinh về phẩm ấy.
Thanh tịnh chỉ cho tín nguyện hành, nếu tín nguyện hành càng sâu rộng,
thì phẩm bậc thanh tịnh càng cao.
Điều này được Đức Thế Tôn, trứng trong Kinh Duy Ma Cật,
dục câu tịnh độ, đảng tịnh kỳ tâm.
Tùy kỳ tâm tịnh, tất Phật độ tịnh.
Tự trung, cư dân cực lạc đều tin vào lời dạy của Phật.
Ta bà là khổ nên thoát, cực lạc là vui nên về.
Tin vào nguyện tiếp dẫn của Phật.
Tin vào hành pháp niệm Phật được vãng sanh.
Đây là hàng trung và hạ cơ.
Tin vào nguyện tiếp dẫn của Phật mà phát và hành nguyện tiếp dẫn.
Này là hàng trung và thượng cơ.
Nếu không hội đủ tín nguyện hành,
tất không thể sinh về cõi Phật này.
Như trong Kinh Duy đã dạy,
bất khả dĩ thiểu thiện căn công đức, đắc sinh bỉ quốc.
Thiện căn công đức tức tín nguyện hành, tức thanh tịnh lực.
Cần nên nhận chân rằng tin ta bà là khổ,
tức tin nhân sinh thị khổ, hay khổ đế.
Có nghĩa ta bà thuần khổ,
mọi niềm vui ở thế giới này đều là chỗ ẩn nấu của khổ.
Như Lão Tử Than,
Họ chỉ là chỗ giữa của Phúc,
Phúc chỉ là chỗ ẩn nấu của họ.
Như vậy khi đã thật sự nhận thấy nhân sinh thị khổ,
hay ta bà là khổ cần thoát,
tất nhiên mọi niềm vui thú của ta bà chẳng còn trói buộc được nữa.
Giải thoát được ách rục lạc của quế độ,
và chỉ còn một niềm vui thật sự cần có
là thoát ly ta bà vãng sinh cực lạc.
Được như vậy, tất nhiên đức tin mới năng sinh hiệu quả.
Còn như vẫn luyến lưu ta bà,
tất tâm cầu sinh cực lạc chưa đủ mạnh,
do vậy tất nhiên tái sinh về lại cảnh lưu luyến,
nên cổ đức mới khuyến cáo,
ái bất trọng bất sinh ta bà,
niệm bất nhất bất sinh cực lạc.
Cư dân cực lạc do nguyện sinh,
nên tư duy và hành động theo nguyện.
Nói cách khác, cử chỉ động niệm của cư dân cực lạc vô phi thị nguyện
đều đã là nguyên, nên vô bất thanh tịnh.
Chúng hiểu tình thanh tịnh và an lạc này gọi là thanh tịnh chúng.
Do vậy kết luận,
những ai thật sự nhận chân ta bà là khổ cần thoát ly,
cực lạc là vui nên sinh về,
sẽ trở thành những cư dân trên cực lạc.
Và nếu phát tâm và hành bồ đề nguyện,
ác mới thực sự là cư dân thích nghi với cõi cực lạc.
Tiếp theo là cư dân của cõi ta bà.
Cư dân cõi ta bà là những chúng sinh bị nghiệp lôi kéo,
nghiệp này tự nhận là ngã.
Ngã đó bao quát thân tâm đều do nghiệp tạo nên.
Nghiệp là thói quen suy nghĩ và hành động từ quá khứ lâu xa,
một thói quen chấp ngã và pháp,
một thói quen phụ sở cho sự tham dục của ngã,
cho đó là hạnh phúc,
và nếu hút ngược lại thì tự chịu đau khổ.
Khác với cư dân ở thế giới cực lạc,
thường đối trước mọi cảnh nghiệp phật, pháp tăng.
Cư dân ở cõi ta bà thì luôn khỏi tăng ái thủ,
xả đối với cả mọi cảnh,
nên luôn âu lo.
Chưa được cầu được, được rồi sợ mất, cả đời bất an.
Chúng hữu tình tham dục bất tịnh đầy phiền não này,
gọi là chúng sinh.
Cư dân cực lạc do nguyện thành,
cư dân ta bà do nghiệp sinh.
Tiếp theo chúng ta sẽ cùng tìm hiểu
yếu tố cấu tạo nên cực lạc và ta bà.
Cực lạc do nguyện độ sinh của chư phật tạo thành,
mà không do nơi nghiệp sinh.
Do nguyện cứu độ,
chư phật thiết lập tịnh độ để che trở cho chúng sinh.
Một thứ hữu tình do nghiệp tạo nên,
có thể sinh hoạt trong cảnh giới không có nghiệp,
mà chỉ có thuần nguyện.
Nhờ vậy, những chúng sinh này
không còn có môi trường tạo tác nghiệp,
nên không thọ báo và phiền não.
Lại do chỉ cần thuần phát và hành nguyện của chư phật,
nên thọ báo an lạc và thanh tĩnh.
Vì vậy, đối với các pháp của cảnh giới phật nguyện,
mà thường gọi là tịnh độ này,
những chúng sinh đó đều khởi niệm thanh tĩnh,
phi tác nghiệp.
Nhờ vậy, từ những chúng sinh trở thành thánh trúng,
tất cả tà niệm, tạp niệm
đều thành niệm phật, niệm pháp và niệm tăng.
Ta bà, do nghiệp lực chúng sinh chưa cảm thành,
tùy theo loại trùng nghiệp cấu tạo thành thân tâm,
tham dục,
cũng theo thân tâm đó mà chọn đối tượng.
Tuy chúng sinh có vô lượng trùng loại,
nhưng đồng một thể sinh ra,
gọi là tham dục tính.
Từ tính tham dục này sinh ra vô số ham muốn.
Từ những ham muốn không giới hạn,
này sinh thủ xả khổ lạc,
tranh chấp, ăn giết, lẫn nhau,
không có ngày cùng tận.
Mọi suy nghĩ và hành động đều lấy ngã
làm nền tảng khởi động.
Ngã lại do nghiệp chưa cảm mà thành.
Do đó nói chính xác hơn,
mọi tư duy của tâm
và mọi hành động của thân đều do nghiệp chủ động.
Chính vì vậy,
mà Kinh Địa Tạng mới nhấn mạnh.
Chúng sinh nam diêm phủ đề,
cử chỉ, động niệm, vô phi thị nghiệp.
Và đã là nghiệp,
tất nhiên điên đảo vọng tưởng.
Nên Kinh dạy tiếp,
vô bất thị tội.
Cư dân ở ta bà là do vọng nghiệp sinh,
tư duy và hành động theo nghiệp
tạo nên thế giới đầy bất tịnh
của nghiệp gọi là tội.
Chúng hữu tình này không thoát khỏi nghiệp,
nên không sao lìa được tội
và môi trường của nghiệp tội.
Môi trường tranh giành tham dục không có lúc hết này
được gọi là thế giới ta bà
và chúng hữu tình đó gọi là chúng sinh.
Ta bà và chúng sinh do nghiệp tạo thành,
cực lạc và thánh trúng do nguyện lập nên.
Vì vậy không nguyện tất không sinh cực lạc.
Nguyện ở đây phải hiểu là bồ đề tâm nguyện,
mà không đơn thuần là nguyện sinh tây phương.
Nhờ phát nguyện sâu rộng
biến khắp ba đời mười phương,
khiến nghiệp lực bao đời đành phải chịu hủy diệt.
Nghiệp cảnh cũng tiêu ma,
chỉ thuần cảnh còn cảnh giới viên giác.
Ví như người tỉnh mộng tan,
mộng cảnh chẳng còn dấu vết,
nhưng lại cho thật cảnh hiên bày.
Tiếp theo chúng ta hãy cùng tìm hiểu về sinh hoạt.
Thánh trúng tức cư dân ở cực lạc
lấy thượng cầu hạ hóa làm sinh hoạt duy nhất.
Thượng cầu và hạ hóa là việc làm
của mười phương ba đời nhất thiết chư Phật.
Tất cả chư Phật đều đã làm,
đang làm, sẽ làm và chỉ làm hai việc này.
Do đó gọi thượng cầu và hạ hóa là Phật sự,
việc làm của Phật.
Thánh trúng là những vị đang tu tập
và chỉ hành các việc làm của Phật.
Sinh hoạt của Thánh trúng chính là Phật sự.
Thường vây quanh Phật thính Pháp để thượng cầu,
luôn hiện thân ở giữa chúng sinh để hạ hóa,
thân cận Phật để không bỏ bất cứ chúng sinh nào,
ở giữa chúng sinh độ hóa để thân cận nhất thiết chư Phật.
Đó là Phật sự sinh hoạt của Thánh trúng.
Cảnh giới sinh hoạt này,
theo chỉ quy của Niệm Phật,
tức thân cận Phật, đồng với giải Đại Đạo.
Niệm Pháp, tức y giáo không lìa,
đồng với thâm nhập Pháp Tạc.
Và Niệm Tăng, tức phụ hành vô tận,
đồng với thống lý vô ngại.
Thánh trúng dùng Phật sự thượng cầu hạ hóa làm Đại Nguyện.
Nương vào lực của Đại Nguyện này,
không những cõi bỏ được lực trói buộc của nghiệp,
mà còn tự tại vào trong cảnh giới của nghiệp
như thể thòng tay vào trốn trọ triền vậy.
Nhờ vậy Thánh trúng được hưởng sự thanh tịnh an làng,
từ thân tâm đến ngoại cảnh.
Còn chúng sinh, tức cư dân ở quãi ta bà,
lấy thỏa mãn, tham dục làm nhu cầu sinh hoạt.
Lục căn đối lục trần đều sinh tham dục.
Mỗi trần lại có nhiều trùng loại.
Lục căn đối với cả mỗi trùng loại
đều phát sinh tham dục, tăng ái.
Do vậy tham dục trở thành vô lượng.
Sinh hoạt của chúng sinh là thủ xã tăng ái.
Chúng sinh chỉ biết tìm cầu an lạc bằng tăng ái thủ xã,
mà lại đuôi điếc không biết do thủ xã tăng ái mà bất an.
Vì vậy cảnh giới sinh hoạt của chúng sinh
đầy dãy tranh đoạt thắng bại khổ lạc.
Nên chúng sinh phải chịu cảnh bất an
và nhiễm ô từ thân tâm ra đến ngoại cảnh.
Sự sinh hoạt nhiễm ô và bất an này
là nhân tố để tiếp tục gây quả ô nhiễm bất an
đến tận cùng tương lai.
Cho đến bao giờ chúng sinh biết phát nguyện thượng cầu hạ hóa
và nỗ lực tư tu hành theo đại nguyện
mới xa lẻ được nhiệm ô nhiễm bất an.
Tiếp theo xin mời quý vị sẽ cùng tìm hiểu
Niệm Phật và Niệm Tan Bảo.
Chúng sinh do nghiệp bất tịnh trêu cảm
thành thân tâm và thế giới.
Do vậy, muốn thoát ly cái thế giới cùng thân tâm bất tịnh này
tất nhiên phải tự bỏ nghiệp bất tịnh.
Song chúng sinh vốn từ vô thủy đã nhận nghiệp bất tịnh
đó là thân tâm và thế giới của mình.
Nên không sao bỏ được nghiệp.
Vì bỏ được nghiệp đồng với bỏ ta và thế giới của ta.
Phàm nhân, bằng cách nào dám làm chuyện này
trừ phi được sự khai thị của Phật Pháp
Pháp bổ đề tâm nguyện mới mong bỏ được
cái nghiệp keo sơn khó bỏ đấy.
Điều chúng sinh cho là hạnh phúc nhất
chính là làm sao hưởng được ngũ dục tối đa.
Họ chỉ thấy ngũ dục là hạnh phúc
mà không biết vì ngũ dục mà phải tính toán mưu toan
tạo tác biết bao vọng nghiệp.
Chưa được thì cầu cho được
được ít thì cầu cho được nhiều hơn nữa.
Khi được ngũ dục tràn đầy thì lại sợ mất
vì sợ mất nên bất an
toan tính ưu tư, khổ sở vô bờ.
Đời này đã vậy, các đời tương lai cũng lại như thế.
Chúng sinh đa dục nên nào có thể tin được ngũ dục
chỉ là một tấm lưới theo dẹt bằng hoa
bên ngoài để răng bẫy phàm nhân.
Một khi đã bước vào thì hẳn khó có thể đi ra.
Sinh hoạt của thế nhân là cách sống trong cảnh giới của nghiệp.
Hành mọi nghiệp để truy cầu dụng lạc,
một thứ hạnh phúc của nghiệp.
Càng truy cầu dụng lạc càng lốn sâu lưới nghiệp
nên càng phiền não khổ đau.
Chúng sinh không chịu nhận ra rằng
cả thân tâm và thế giới này của ta
cũng như của mọi chúng sinh
đều do nghiệp ô nhiễm bất an tạo thành.
Này muốn cho thân tâm cùng thế giới ô nhiễm bất an đó
được an lạc và thanh tĩnh
tất nhiên là điều hoang tưởng.
Bảy gốc sinh ra thân tâm
và thế giới này vốn dĩ là ô nhiễm và bất an.
Nếu muốn trừ diệt ô nhiễm và bất an
tất phải diệt trở từ gốc dễ
đó là tận trừ nghiệp trướng.
Sau nghiệp trướng khó trừ
chỉ có nguyện mới diệt được nghiệp
do đó không phát nguyện
tất không thể ra khỏi nhà lửa của nghiệp.
Chư Phật xuất hiện nơi đời
chỉ bày cho chúng sinh nghiệp là khổ
và nguyện là diệt đạo.
Lại do chúng sinh căn cơ cao thấp khác nhau
nghiệp dày hay mỏng
nên như lai phương tiện giúp chúng sinh lập nguyện.
Đối với cả hành nghiệp trướng sông dày khó bỏ
có phát đại nguyện theo gương hành nguyện
cứu đội chúng sinh của Chư Phật
như lai phương tiện dạy cho họ
lập nguyện cầu sinh cõi Phật
để thân tâm hướng dần đến cảnh giới thanh tĩnh
xa dần cõi huế
bằng cách niệm danh hiệu Phật
lấy niệm Phật làm nhân đưa đến quả thân cận Phật
bằng vào phương tiện thiện xảo của nguyện lực này
khiến chúng sinh do nghiệp tạo thành
sinh về cõi Phật do nguyện lập nên
gọi là đái nghiệp vãng sanh.
Cõi Phật đã do nguyện thành lập
tất cả cảnh giới này không có môi trường tạo nghiệp hay hành nghiệp
nên nói vô tam ác đảo
lại do không có môi trường hay cơ hội tạo nghiệp
nên những chúng sinh vừa vãng sinh
không có bất kỳ nhân duyên nào có thể tạo vọng nghiệp
để trở về huế độ.
Không những vậy
lại được nguyện lực của Phật
và thánh chúng gột giữa mọi nghiệp chứng
khiến các chúng sinh này
chuyển nghiệp thành nguyện
niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng
vinh viễn không còn các thứ tả niệm.
Chúng sinh đã phát đại nguyện sa lề nghiệp chứng
át thành bồ đề tát đoạ
trở thành thánh chúng thích nghi
với sinh hoạt Phật sự ở cõi Phật
thường dùng nguyện lực ra vào tự tại
trong cõi nghiệp độ hóa chúng sinh.
Đối với hàng Thượng Căn nghiệp Mọc Phúc Giày
Như Lai Trực Chỉ Dạy Bảo Đại Thừa Bồ Tát Đạo
Thượng Cầu Hạ Hóa
rõng mãnh vì cầu Phật Đạo
vì độ chúng sinh hành mọi nan hành
hành Thượng Căn này phát tâm bồ đề tâm đại nguyện
học theo hạnh nguyện của nhất thiết Chư Phật
Chư Phật nhờ phát nguyện Thượng Cầu Hạ Hóa
mà thành quả bồ đề
không có pháp môn nào ngoài bồ đề tâm nguyện
mà có thể thành được Phật quả.
Hàng Bồ Tát phát bồ đề tâm đại nguyện
quan sát nhận chân
do nguyện mà Phật thành
nhờ nguyện mà cõi lập
nên tu hành cấp vụ
lập nguyện cư tiên
chuyện tu hành trước nhất là phải lập nguyện
hễ nguyện thành tất Phật thành
và cõi Phật cũng tự thành
nguyện chính là pháp tối thắng
để thành Phật và độ sinh
nguyện là chân tâm
nghiệp là vọng tâm
tâm vọng thành nghiệp
tâm chân thành nguyện
Nguyện bao hàm phương pháp thành Phật
và độ hóa chúng sinh
thành Phật có nghĩa Phật hóa nhất thiết chúng sinh
và nhất thiết cảnh giới
không gì không phải Phật
như vậy thật nghĩa của sự thành Phật
chính là độ nhất thiết chúng sinh
cùng thành Phật đạo
độ hóa chúng sinh
là việc làm của chư Phật
là Phật sự khiến chúng sinh thành tự Phật quả
nhờ hành Phật sự này mà thành Phật quả
vì vậy thành Phật và độ sinh
vốn chỉ là một
thành Phật độ nhất thiết chúng sinh
là từ nơi bảng thủy tích
độ sinh thành Phật
là từ tích quy về bảng
Nguyện đã nhiếp Pháp thành Phật và độ hóa
tức nhiếp Phật phát tăng
Chư Đại Bồ-Tát
như Văn Thủ Phổ Hiền, Quang Âm và Địa Tạng
đều không cần xưng danh niệm Phật
vì luôn thường trụ trong Đại Nguyện
tức thường niệm bất đoạn Phật phát tăng
Niệm Đại Nguyện này
không chỉ bằng khẩu nghiệp
mà bằng cả ba nghiệp
điển hình như 10 Nguyện của Bồ-Tát Phổ Hiền
đều là Niệm Phật, Niệm Pháp và Niệm Tăng
qua thân khẩu ý
Hành 10 Nguyện này được vãng sanh Thượng Phật
do đó chúng ta có thể kết luận
Đức Phật dùng xưng danh Niệm Phật
để khai thị Nguyện cho chúng sinh
Khi chúng sinh đã nhập vào Đại Nguyện của Chư Phật
bây giờ chúng sinh đã trở thành
thánh chúng tự phát Đại Nguyện
thường niệm Phật phát tăng
để ngộ nhập bản Nguyện của Chư Phật
Bất luận tông phái nào hễ phát Đại Nguyện
Thượng cầu hạ hóa, tất Phật đạo còn thành
hạ hướng lại không thể vãng sinh tịnh độ sao
Phật và tịnh độ đã sẵn có đầy đủ trong Nguyện
Thế nên chỉ cần phát Bồ Đề Tâm
Nguyện tất thành tự Phật và tịnh độ
Trong Pháp tu, hành hễ thân tâm nương nghiệp
thì dẫu có hành thiện nghiệp
cũng vẫn là nghiệp luân hồi sinh tử
Nếu thân tâm nương Nguyện tất đó là thiện pháp tối thắng
đưa đến thanh tịnh an lạc
hóa thân tâm và cảnh giới
nên biết từ thiện của thế gian không sánh được
với độ hóa của Phật Pháp
Nói tóm lại, vì chúng sinh nghiệp lực sâu dày
không thể tự phát Nguyện và hành Nguyện được
nên Như Lai phương tiện chỉ bày chúng sinh
nương vào Nguyện lực tiếp dẫn của A-di-đả Như Lai
làm Nguyện vãng sinh cho bản thân
hành Nguyện bằng xương danh nghiệp Phật
Nhờ vậy chúng sinh đầy nghiệp lực đó
bắt đầu có Nguyện và hành Nguyện
dựa vào hành Nguyện nói trên được vãng sinh Phật quốc
điều này có nghĩa nhờ có cánh Nguyện
nương vào bản Nguyện của Như Lai
và hành Nguyện niệm Phật
nên dựa vào Nguyện này rệt trừ nghiệp chứng
Nguyện sinh nghiệp trừ
đồng nghĩa là lìa ta bà sinh cực lạc
Sau khi Nguyện thoát lìa ta bà
vãng sinh cực lạc thành tựu rồi
chúng sinh nghiệp trở thành thánh chúng Nguyện
thánh chúng nương tam bảo Nguyện lực
tức Bồ Đề Tâm Nguyện
Hành Pháp Niệm Pháp Thượng Cầu Hạ Hóa
Niệm Phật tức Giác Ngộ Thật Đạo Nhất Thật Đế
Niệm Pháp tức Thâm Nhập Nhất Thuyết Pháp Môn
Niệm Tăng tức Tùy Cơ Thuyết Pháp
Lại nữa dừng danh Niệm Phật
là dựa vào Nguyện lực của tha Phật
lấy đó làm Nguyện để trừ nghiệp chứng
đó là phương cách nương bản Nguyện của Phật để được cứu
Sau đó lấy bản Nguyện độ sinh của Phật
làm bản Nguyện độ sinh của bản thân
để cứu độ chúng sinh trên con đường thành Phật quả
Bản Nguyện này đồng với cả bản Nguyện của chư Phật
thường Niệm Phật Pháp và Tăng
Bây giờ hành giả với Phật là một
Phật với cảnh giới thanh tịnh không hai
do đó nên nói tự tính di đả duy tâm tịnh độ
Và quý vị thân mến đó là nội dung của video ngày hôm nay
Chúc quý vị và gia đình luôn an lành và hạnh phúc
