Đàn Nam Giao - Tập 2 - Tuần Phim Tài liệu Hà Nội

King Kong Film
77 người theo dõi
20 Lượt xem video·7 thg 1, 2025
Nhà Hồ là một trong số rất ít triều đại không kiến Việt Nam tồn tại trong thời gian ngắn.
Chỉ vẹn vẹn có 7 năm, bắt đầu từ 5400 khi Hồ Quý Ly lên ngôi và kết thúc 5407.
Mặc dù vậy, nhưng triều đại nhà Hồ đã để lại cho kho tảng nghệ thuật kiến trúc Việt Nam 3 công trình kiến trúc đặc sắc
là minh chứng về sự lao động vĩ đại và tài năng tiềm tàng của nhân dân Việt Nam.
Đó là thành nhà Hồ, Đà Nam giao Tây Đô và Lý Cung.
Cổ sử Việt Nam như Đại Việt sử ký toàn thư, lịch triều hiến trương loại trí, Đại Nam nhất thông trí đều cho biết
5397 Hồ Quý Ly cho xây dựng một thành tòa lớn ở Đồng An Tôn, phủ thanh hóa để chuẩn bị rời Đô vào đó.
Thành được xây dựng ở khoảng giữa sông Mã và sông Bười, phía Bắc có núi Thổ Tượng,
phía Tây có núi Nhiêu Toại, phía Đông có núi Hắc Khuyển,
phía Nam là nơi hộ tụ của sông Mã chảy từ phía Tây và sông Bười chảy tới.
Theo các tài liệu sử sách ghi lại thì ngôi thành bằng đá hồng tráng và độc nghét vô nhị này được hoàn thành trong thời gian 3 tháng.
Giống như kiến trúc Đại La và Hoàng Thành, thành nhà Hồ được xây dựng trên bình đồ kiến trúc gần vuông,
mặt chính quay về hướng Đông Nam với đường chủ chính đeo hướng Đông Bắc Tây Nam.
Thành của chu vi 3513,4m và diện tích khoảng 77 hectare.
Hiện nay thành có độ cao trung bình 7-8m.
Cổng thành còn khá nguyên vẹn, riêng cửa nam cao tới 10m.
Qua hơn 600 năm trường tồn cùng những biến cố, thăng trầm của đất nước và tắc độc của thời tiết,
hệ thống tường thành còn khá nguyên vẹn cho đến ngày nay.
Tường thành không những được xây bằng đá tải,
mà theo đại biệt sở ký Toàn Thư vào năm Tân Tị, năm 1401,
Hán Thương hạ lệnh cho các lộ lung gạch để dùng vào việc xây thành.
Trước khi xây thành Tây Đô, tải nhiều đá tới xây,
ít lâu sau lại bị sụp đổ, đến đây mới xây trên bằng gạch, dưới bằng đá.
Mặc dù các giấu tích hiện tại chưa cho biết gạch được dùng cho việc xây thành như thế nào,
từ những viên gạch hình khố chứa nhật to lớn được thu thập khá nhiều trong nhân dân,
các nhà khoa học cho rằng có thể có những ụ bắn bằng gạch được xây trên tường thành.
Nơi khái thác và cung cấp đá cho việc xây thành Tây Đô,
và cả việc chuyên trở vật liệu vẫn còn ẩn chứa nhiều câu hỏi.
Nhân dân địa phương cho rằng, người xưa có thể lấy đá ở nhiều nơi xung quanh Tây Đô,
gần nhất là núi đá xanh Yên Tôn, hiện vẫn còn những tảng đá xanh mang tên An Tôn Xã.
Hang tượng dùng để nhốt voi chuyên trở đá xây thành.
Con đường phía tây được lát đá xanh bằng phẳng từ bờ sông Mã đến cửa Tây, có tên gọi là miến đá.
Đá lấy từ nhiều nơi khác chuyên trở bằng đường sông, đường bộ,
trở bằng loại xe lớn có một bánh gỗ, trở bằng voi kéo.
Được tìm thấy rất nhiều những viên vi đá quanh khu vực thành đã củng cố thêm cho giả thuyết.
Người thợ khi xưa đã dùng chúng như những con lăn để tời đá từ nơi này đến nơi khác
trong quá trình di chuyển trên sông và từ miến sông về câu trường.
Kết hợp với tời, người ta đưa những viên đá này lên cao để xây thành.
Tây Đô độc đáo bởi tường thành được ghép bằng những khu đá quách bấy giờ
là thành được bao bọc bởi con vườn sông bao quanh.
Bốn mặt bên ngoài tường thành có dài trông.
Lưu công đạo thế kỷ 19 mô tạo hào thành của thành nhà hồ như sau.
Hệ thống hào còn được gọi là trì, trì rộng 36 tầm.
Bốn cửa đều có cầu đá vào thành.
Thời gian và xa bồi đã lấp đầy hố sâu phòng ngự chủ động của công trình ký vị này.
Dù vậy, cách thành vài km về phía Bắc có dãy đồi tạo thành tuyến phòng ngự thiên nhiên.
Phía Đông và phía Nam được phòng ngự bởi lĩ đất nối liền với đồi.
Phía Bắc được phòng vệ bởi dãy núi đá xa xa.
Thành Tây Đô không chỉ nổi rõ vai trò của một trung tâm quân sự
hơn thế nữa, nó còn là quốc đô của nước đại ngu Triều Hồ.
Kiến trúc chính trong nội thành theo sự sách ghi lại
nhà vua ngự Triều ở điện Hoàng Nguyên cung nhân thọ.
Dấu tích của một phương Triều còn thấy rõ nhất hiện nay là nôi rồng đá nằm hai bên đường 27
đoạn chảy qua Hoàng Thành.
Điểm đáng lưu ý là cả hai con rồng đều không có đầu
và điều này cũng được nghĩ dạy bằng rất nhiều liên quan đến lịch sử thăng trầm của một phương Triều.
Cũng như một số quốc gia châu Á khác,
trong các triều đại phong kiến Việt Nam,
đàn Nam Giao là một trong số những đàn tế quan trọng nhất.
Với chức năng chính là nơi tế trời đất, cầu mưa thuận, gió hỏa,
quốc thái dân an, phương Triều trường tồn và thịnh trị.
Cùng với việc xây thành, giữ nước,
Hồ Án Thương còn cho đáp đà Nam Giao ở Nôn Sơn
để làm lễ tế giao, để tế cáo với trời đất về sự hiện diện của phương Triều,
cầu mong sự trường tồn và quốc thái dân an.
Đây là đàn Nam Giao thuộc khuôn 4 xã Vĩnh Thành,
Viện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
Cổ sử của nước ta đã ghi chép,
có rất nhiều sách sử nước ta ghi chép về cái đàn này.
Ví dụ như là Đại Lam Nhất Thống Chí, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư,
rồi là Lịch Triều Hiến Trương Loại Chí.
Và đặc biệt có một cái sự kiện
mà những người nghiên cứu đều rất là nhớ.
Là năm 1402 thì Hồ Án Thương đã tổ chức
một cái cuộc lễ tế giao ở khu vực này.
Thế nhưng mà khi Hồ Án Thương chuẩn bị tế
thì tay ông ta cầm rượu run và đánh đổ rượu.
Vì thế cho nên là cái đàn này đã...
và ông ta dừng lại cái cuộc, hủy bỏ cái cuộc tế lễ đó.
Và từ đó thì cái đàn này trở lên hoang phế.
Đại Nam Nhất Thống Chí chết.
Giao đàn cũ nhà hồ ở phía nam trên đỉnh Núi Đốn Sơn
thuộc xã Cao Mật, huyện Vĩnh Lộc do Hồ Quý Lưu xây.
Dưới đàn có giếng tấm, xây đá làm thành
do Hồ Án Thương xây, di tích vẫn còn.
Núi Đốn Sơn có tuổi điện chất vào thời kỳ Triết
hạ khoảng 225 triệu năm cách ngày nay.
Thuộc địa phận xã Vĩnh Thành, huyện Vĩnh Lộc.
Cách thành nhà hồ khoảng 2,5 km về phía Đông Nam.
Núi có hai đỉnh cao 71m và 49m so với vực nước biển.
Do địa thế sát chân núi, thoải dần về phía nam
nên ở khu vực đàn Nam Giao quanh năm khô giao.
Đàn Nam Giao có diện tích khoảng 43.000 m2.
Mặt bằng hiện tại còn lộ rõ 5 lớp nền cao thấp khác nhau
thể hiện qua 5 bậc cấp theo thứ tự từ trên xuống.
Các nền đàn đều hướng về mặt Đông Bắc.
Dưới chân đàn hiện nay là khu dân cư.
Phía Đông Bắc có đàn dựa vào núi.
Phía Tây Đông nhìn ra cánh đồng dọc sen, dọc kẹ
và dọc phía Đông Nam là cánh đồng trũng ven sông Bưởi.
Phía Đông Bắc là các dãy núi.
Đàn Nam Giao Tây Đô hầu như chỉ được biết đến
qua những dòng ghi chép sơ lược về lễ Tế Giao không thành năm 1402.
Còn lại suốt mấy trăm năm bị bùi sâu dưới lòng đất.
Những bí ẩn của nó chỉ bắt đầu được khai lộ từ năm 2004
thông qua các cuộc khai cuộc khảo cổ học
được thực hiện bởi Cuộc Khảo Cổ Học và Trung tâm bảo tồn di tích thành nhà hồ.
