Công viên Tao Đàn ở quận 1, rộng hơn 90.000 m2 có thể coi là Central Park của cả Sài Gòn xưa và nay. Đây không chỉ là nơi hội tụ cây xanh mà còn mang nhiều dấu tích lịch sử Sài Gòn xuyên suốt 3 thế kỷ. Đây cũng là vườn hoa công cộng đầu tiên cho người Sài Gòn. Sau tháng 4/1975, công viên Tao Đàn có lúc đổi tên thành Công viên thiếu nhi thành phố nhưng rồi lại trở về tên cũ, tiếp tục là Công viên Văn hóa Tao Đàn cho đến nay. Bên trong vườn Tao Đàn còn có một khu cổ mộ, theo Sở Văn hóa Thể thao, mộ cổ họ Lâm được xây dựng năm Ất Tỵ (1895) và là một trong những ngôi mộ hợp chất có diện tích lớn và di tích kiến trúc đẹp còn lại ở Sài Gòn.
Sài Gòn xưa - Sài Gòn Xưa - Những câu chuyện cảm động về tình người, tình làng, tình non nước
⚛ Video của chúng tôi có sử dụng hình ảnh, âm nhạc của bên thứ 3. Nếu bạn có khiếu nại bản quyền, vui lòng thông báo cho chúng tôi để có thể khắc phục những vấn đề liên quan.
Xin chân thành cảm ơn!
CÙNG VIÊN TÀO ĐÀN, VƯƠNG THƯỜNG UYễN CỦA SÀI GÒN XƯA
Công viên Tào Đàn ở quận 1, trọng hơn 90.000m2,
có thể coi là Central Park của cả Sài Gòn xưa và nay.
Đây không chỉ là nơi hội tụ cây xanh,
mà còn mang nhiều dấu tích lịch sử Sài Gòn xuyên 3 thế kỷ.
Trước khi người Pháp xâm chím vào năm 1859,
Công viên Tào Đàn là vương thường uyển của thành gia đình,
nơi ở của gia đình tổng trấn Lê Văn Duyệt,
được nhiều người Âu Mỹ cùng thời gọi là Phó Vương, Viceroy,
vì cai quản cả miền Nam.
Đầu tiên, công viên có tên dân gian là Vương Ông Thượng,
nằm ở phía tây bên ngoài tường Thành Bác Quái.
Khu viên vương rất lớn, bao gồm cả Dân Thống nhất ngày nay,
tiếp giáp với chợ Cây Gia Còm,
Đền đất Thư viện Tổng hợp và Tòa án Nhân dân thành phố
và chợ Đủy, đền đất khu giao lộ ngã 6 Phù Động.
Trong vương, ngoài tư thất của quan tổng trấn,
còn có vương Hoa Kiển và Trạp Hát Bội.
Nhưng sau khi Lê Văn Duyệt mất và khởi nghĩa Lê Văn Khôi thất bại,
khu vương Ông Thượng cùng với Thành Bác Quái đã bị vua Minh Mạng phá bỏ.
Còn theo tác giả Trần Nhật Vi,
nguồn gốc tên Vương Ông Thượng không liên quan đến tả quân Lê Văn Duyệt.
Rất có thể tên này xuất phát từ khi Dinh Độc Lập xây các sông
thành Dinh Thống Đốc Nam Kỳ
và Vương Ông Thượng trở thành khu vương sao Dinh.
Xưa, dân gian quen gọi nơi cư ngụ
hoặc làm việc của các quan lớn là Ông Thượng hay Quan Thượng.
Vương Ông Thượng do đó không hạm ý nhắc đến một ông quan cụ thể nào,
mà chỉ là cách nói trỏng, nói sách mé của dân gian
về khu vượng của riêng các quan.
Sau khi chiếm được Sài Gòn,
một phần Vương Ông Thượng được người Pháp lấy làm nơi đặt Dinh Chính Phủ,
xây dựng năm 1868 đến năm 1871,
về sau đó mang tên Dinh Nở Đông,
phần còn lại được quy hoạch và xây thành công viên thành phố.
Đây cũng là vương hoa công cộng đầu tiên cho người Sài Gòn,
ngang cách hai phần này là con đường Polo Contour,
cuồng đảo, được xây dựng năm 1869,
về sau đổi tên là Miss Cowell, nay là Huyền Trân Công Chúa.
Từ năm 1922 đến năm 1955,
công viên thành phố mang tên luật sư Maurice Long,
từng làm bộ trưởng và có lúc là tòa quyện Đông Dương,
năm 1920 đến năm 1922.
Tuy nhiên, người dân Sài Gòn vẫn gọi bằng cái tên dân giả
Vương Ông Thượng hoặc Vương Bờ Rô,
có thể xuất phát từ tiếng Pháp Pro là Sơn Lát Gạch.
Dần dần, một số lô đất lớn giáp mặt tiện của Vương Ông Thượng
được tách ra để làm công trình công cộng,
như trụ sở Hội Hiếu Nhạc, xây năm 1896, nay là Nhạc Viện,
Câu lập Bộ Thế Thao người Sài Gòn xây năm 1902,
nay là Cung Văn Hóa Lao Động,
Viện Dục Nhi xây năm 1926, nay là Sở Y tế,
Hội Kỳ Mã, nay là Nhà thi đấu Nguyễn Du, v.v.
Sau năm 1954, người Pháp rút lui hoàn toàn,
dân toàn quyền trở thành phủ tổng thống,
chính quyền Việt Nam Cộng Hòa cũng thay đổi một loạt tên đường,
công viên công trình công cộng.
Công viên Maurice Long đổi sang công viên tàu đàn,
tên tổ chức xướng họa thi ca của vua Lê Thánh Tôn vào thế kỷ 15.
Bốn con đường xung quanh cũng đổi tên thành đường Huyền Trân Công Chúa,
Hồng Thạp Tự, Lê Văn Duyệt và Nguyễn Du.
Viện Dục Nhi được dùng làm Bộ Y tế thời Việt Nam Cộng Hòa
và Hội Hồng Thạp Tự, vương vấn giữ là công viên chính của thành phố.
Trong công viên tàu đàn, cho đến trước năm 1975,
có thêm một trường tiểu học nhỏ, không xây rào ngang cách,
công viên có thêm nhiều cây xanh, vòi phung nước, nhà tròi, sân chơi.
Nơi đây là chỗ nghỉ ngơi và vui chơi thanh lịch của thanh niên,
người già, trẻ em và là nơi sinh hoạt ngoài trời của tổ chức hướng đạo.
Sau tháng 4 năm 1975, công viên tàu đàn có lúc đổi tên thành công viên thiếu nhi thành phố,
nhưng rồi lại trở về tên cũ, tiếp tục là công viên văn hóa tàu đàn cho đến nay.
Từ năm 1985, công viên là nơi đầu tiên mở sân khấu nhạc ngoài trời phục vụ người dân thành phố.
Hiện công viên tàu đàn là địa điểm xanh quen thuộc cho người dân đến ngắm cảnh,
đi dạo, chơi thể thao, tham gia các hoạt động mỹ thuật, giải trí.
Đây cũng là nơi tổ chức Hội Hoa Xuân lớn nhất Sài Gòn vào mỗi dịp Tết
với nhiều loại cây cỏ từ mọi miền đất nước tụ hội.
Vườn tàu đàn có cây trăm, mùa trái chính, trụng tím mặt cỏ xanh,
có hai cây vải cổ thụ mà không có trái,
có cây thị, chừng ra giêng, một vườn thơm phức, mùi thị chính vàng trong truyện cổ tích.
Gần Giáng sinh, cây hoa sữa ốm nhách trổ bông,
nửa vườn tàu đàn mé bên đường Nguyễn Thị Minh Khai cách mạng tháng 8,
nồng nặt mùi dầu nóng hiệu ông già hàng mấy chục năm trước.
Đi bộ tới đó, có người phải bịt mũi vì ngửi không quen.
Tàu đàn có cây thốt nốt, ra từng chùm trái tròn ủm xanh tím,
có cây vú sữa, mấy cây xoài, cây lá cách cao lớn như cây ổi,
một cây nguyễn quế già, cành lá xồm xòm,
hoa nở trắng như vô số sợi tóc bạc, thơm nghẹt mũi,
một cây lọc vừng, hoa lua tua trắng đỏ, trụng xuống đất, vẫn còn thơm mùi vườn tượng.
Hàng năm, hội hoa xuân tại công viên tàu đàn là nơi hội tụ vẽ đẹp cây cảnh,
nhiều loại kỳ hoa dị thảo mỗi năm tệ tụ nơi đây, mãn nhãn du khách.
Những năm nay, dịch bệnh Covid-19 đã làm cho nhiều người yêu cây kiển
không dám đến ngắm hoa vì sợ lây bệnh.
Bên trong vườn tàu đàn còn có một khu mổ cổ.
Theo Sở Văn hóa Thể thao, mổ cổ Họ Lâm được xây dựng năm ất tỵ 1895
và là một trong những ngôi mộ hợp chất có diện tích lớn và di tích kỹ trúc đẹp còn lại ở Sài Gòn.
Các nhà khảo cổ học cho rằng, theo truyền tụng,
đây là một ông Lâm Tam Lan, người gốc Quảng Đông, tự nguyên thất,
mất vào mùa thu Ấc Mảo 1795 và vợ Mai Thị Xã.
Hậu vệ đời thứ tư của ông Lan là cụ Lâm Quang Ky,
phó lãnh binh của anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực.
Phó lãnh binh là người đã góp phần không nhỏ trong trận chiến thắng Nhật Tảo.
Nhưng theo nhà khảo cổ học lão Thành Đỗ Đình Trực,
thì nó có thể là nơi yên nghỉ một vị tướng chết trận của Trương Minh Giảng,
một danh thần nhà Nguyễn.
Lý do để ông đưa ra giả thuyết này vì đây là một nắm mộ lớn,
được chô cất ngay trong đất thành gia đình xưa,
hãng phải là thi hài một người có công.
Còn nắm mộ thứ hai nhỏ hơn có thể là của người vợ vị tướng nọ.
Đề ngoại mộ, dù không còn như buổi ban đầu,
nhưng vẫn là một bằng chứng về kiểu mộ độc đáo của người gia đình xưa.