4 Quốc Gia Này NỢ VN 1 LỜI XIN LỖI BẰNG MÁU Khiến Cả Thế Giới Bất Ngờ ! | Triết Lý Tinh Hoa

Tin Tức Bình Minh
544 người theo dõi
#Trietlytinhhoa #vandehomnay #tintuc24h
Mô Tả Nội Dung: 4 Quốc Gia Này NỢ VN 1 LỜI XIN LỖI BẰNG MÁU Khiến Cả Thế Giới Bất Ngờ ! | Triết Lý Tinh Hoa
=================
"Triết Lý Tinh Hoa" - Ngôi nhà tri thức về Triết lý và Cuộc sống! bằng Cập nhật tin tức 24h trong ngày
===================
vấn đề hôm nay, báo vtc, tin tức trong ngày, tin tức, tin nóng, tin tức hôm nay, tin tức mới nhất hôm nay, tin tức mới nhất, tin thời sự, tin tức 24h, tin thời tiết, dự báo thời tiết, biến đổi khí hậu, triết lý cuộc sống. phụ nữ, hôn nhân gia đình
Công bố bốn nước này nợ Việt Nam một lời xin lỗi, sẵn sàng cấu kết với Mỹ, hại dân ta, khiến triệu người vấn nộ.
Mến chào quý vị đang đến với kênh Triết Lý Tình Hòa.
Quý vị thân mến, cuộc kháng chiến trong Mỹ của dân tộc Việt Nam đã đi vào lịch sử quân sự thế giới.
Lần đầu tiên một đất nước bé nhỏ đã đánh đổ đế quốc hùng mạnh nhất thế giới để giải phóng đất nước, giải phóng con người.
Sau cuộc chiến, hàng loạt tội ác chiến tranh đã được phơi bày, đặc biệt ít ai biết rằng,
cuộc chiến ấy không chỉ có Mỹ mà Việt Nam còn phải đối mặt với hàng loạt các quốc gia khác,
cấu kết với Mỹ, nhảy vào, gây ra bao đau thương trong mảnh đất hình chữ S.
Bốn quốc gia đó đến nay vẫn còn nợ chúng ta một lời xin lỗi,
vậy đó là những quốc gia nào họ đã gây ra những tội ác nào cho Việt Nam, và đã xin lỗi hay chưa?
Hãy cùng Triết Lý Tình Hòa tìm hiểu ngay sau đây!
Quốc gia đầu tiên – Hàn Quốc
Quý vị thân mến, mặc dù ngày nay mối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Hàn Quốc đã được nâng lên đối tác chiến lược toàn diện,
hàng loạt các nhà đầu tư của Hàn đã rót vào Việt Nam nguồn vốn khổng lồ giúp kinh tế phát triển.
Người Việt Nam cũng đón nhận văn hóa Hàn Quốc vô cùng cởi mở và thân thiện,
tuy nhiên đó là do chúng ta đã gác lại quá khứ, hướng tới tương lai, nhưng chúng ta cũng hoàn toàn không quên đi quá khứ.
Trong cuộc kháng chiến giống Mỹ, Hàn Quốc là một trong những đồng minh thân thiết nhất, hàng hai nhất,
và chính Hàn Quốc là nước mở lời về việc đưa quân sang Việt Nam để hỗ trợ cuộc chiến đấu chống cậu sản,
ngay cả khi Mỹ còn chưa lên tiếng.
Tháng 11 năm 1961, trong chuyến thăm Washington,
Chủ tịch Hội đồng tối cao tái kiến thiết quốc gia Park Chung-hi xin Mỹ cho quân đội Hàn Quốc đến Việt Nam,
nhưng khi đó Mỹ chưa chính thức đưa quân vào Việt Nam nên đã từ chối lời đề nghị nhật tình này của Hàn.
Sau khi Johnson nhậm chức tổng thống Mỹ nhằm giảm bớt gánh nạn sương máu,
ngày 9 tháng 5 năm 1964, Mỹ đã chính thức gửi công hàm cho 25 nước đồng minh,
yêu cầu cùng chia sẻ trách nhiệm với Mỹ ở Việt Nam.
Ngay lập tức, chính quyền Park Chung-hi đã chơi trội nhất trong số các đồng minh của Mỹ
khi điều đi gần 400.000 lính đánh thuê và gần 1,1 triệu phụ nữ sang Việt Nam nhằm phục vụ nhu cầu xác thịt cho lính Mỹ.
Số lính và gái ngành này được Hàn Quốc xem như những món quà đóng gói cẩn thận,
gửi đi như một cách để thể hiện sự trung thành của chúng.
Tất nhiên, Hàn Quốc không cho không Mỹ mà ngược lại.
Hai bên đã đi lên với nhau để thỏa thuận về những khoản lợi kích sổ mà Hàn Quốc có thể nhận được.
Theo đó ngoài việc viện trợ về kinh tế, Mỹ cũng sẽ trở thành đòn bẩy ngoại giao
giúp Hàn Quốc tiếp cận với thị trường phương Tây một cách dễ dàng nhất.
Phải nói rằng, nước đi này của Hàn Quốc đúng là nước đi lịch sử,
khi vừa được tiếng thơm giúp đỡ đồng minh lại được nhận khoản lợi ít khổng lồ.
Tuy nhiên, tận cùng của sự sung sướng này chính là máu xương của lính Hàn
và nỗi nhục nhã ê trẻ của hơn một triệu phụ nữ Hàn Quốc.
Ngày 20 tháng 7 năm 1964, dự án đưa lính đánh thuê sang miền Nam Việt Nam
được trình và nhanh chóng được tất cả các thành viên quốc hội Đại Hàn Dân Quốc ủng hộ,
bỏ phiếu thông qua ngày 31 tháng 7 năm 1964.
Bắt đầu từ ngày 24 tháng 8 năm 1964, binh lính Đại Hàn có mặt tại Việt Nam.
Đến cuối năm 1966, tổng số quân Đại Hàn tại Việt Nam đã lên đến 45.660 người,
chiếm hơn 50% lực lượng quân đội nước ngoài tại miền Nam Việt Nam
và 25% tổng lực lượng chiến đấu của Mỹ trên chiến trường quân khu 5.
Năm 1968 là năm Hàn Quốc có lực lượng quân sự cao nhất, lên tới 50.003 người.
Chính phủ Hàn Quốc còn ra sức thuyết phục Mỹ đồng ý không cắt giảm lực lượng tại Hàn Quốc
nếu như không có sự trao đổi và thỏa thuận trước.
Việc Mỹ bố trí các sư đoàn mảnh hổ, bạch mã, dòng xanh của Đại Hàn
trốt giữ ở chiến trường quân khu 5, một địa bàn chiến lược trọng yếu,
cho thấy Mỹ tin tưởng và đánh giá cao khả năng của đội quân đánh thuê này.
Quân đội Hàn Quốc trở thành lực lượng sương sống trong các cuộc hành quân bình định và tìm diệt,
chia sẻ tới gần 40% nhân lực và sinh mạng chiến tranh cho nước Mỹ.
Theo thống kỳ chính thức của Chính phủ Hàn Quốc,
từ tháng 10 năm 1965 đến tháng 3 năm 1973,
quân đội Hàn Quốc tiến hành và tham gia tiến hành 1.170 cuộc hành quân
quy mô cấp đại đội trở lên, hơn 556.000 cuộc hành quân quy mô cấp trung đội trở xuống,
gây ra hàng loạt những vụ thảm sát đẫm máu và toàn khốc.
Thống kỳ chưa đầy đủ, có 43 vụ thảm sát dân thường,
trong đó 13 vụ giết 100 người trở lên, có vụ hơn 1.000 người.
Không chỉ đảm nhiệm các hoạt động quân sự,
lực lượng Nam Hàn còn tích cực tiến hành công tác dân sự dân vận, tâm lý chiến.
Nếu như trong giai đoạn đầu tham chiến,
tỷ lệ các hoạt động quân sự chiếm 70% công tác dân sự,
tâm lý chiến chỉ chiếm 30%,
thì từ nửa cuối năm 1967 tỷ lệ này được nâng lên ngang bằng 50-50.
Tuy nhiên các hoạt động dân sự này luôn được tiến hành song song với những trận cản quét,
bắt xiết màn dở nhằm vào dân thường Việt Nam.
Do chính sách o bế thông tin của nhà cầm quyền Hàn Quốc,
người dân họ hầu như không có thông tin gì về các hoạt động
trong quá khứ của binh lính Hàn Quốc tại Việt Nam.
Phải tới đầu những năm 2000,
những bằng chứng về tội ác mới bắt đầu được biết đến,
đưa ra qua tiết lộ của các cựu quân nhân Hàn Quốc ở Việt Nam.
Những tiết lộ này đã phơi bày chi tiết sự tàn nhẫn
trên một mức độ khó tưởng tượng của binh lính Hàn Quốc đối với dân thường Việt Nam,
gây ra một cú sốc trong dư luận về vai trò của người Hàn Quốc trong cuộc chiến tranh Việt Nam.
Tuy nhiên, phớt lờ ý kiến dư luận,
77,9% người dân Hàn Quốc được hỏi đã yêu cầu chính phủ xin lỗi Việt Nam.
Hàn Quốc vẫn không đưa ra lời xin lỗi chính thức
ngoài một số hoạt động của các tổ chức phi chính phủ
và một số nhóm người Hàn Quốc có lương tri
đến chuộc lỗi tại những nơi họ đã gây ra tội ác chiến tranh ở Việt Nam.
Thậm chí, thời gian gần đây,
nhiều bộ phim Hàn Quốc còn lồng ghép những yếu tố lịch sử sai lệch
về cuộc chiến mà chúng tham gia tại Việt Nam,
khi coi đội quân lính đánh thuê mà chúng gửi sang Việt Nam
để thực hiện hàng loạt cuộc thảm sát dân lành là anh hùng.
Cho rằng cuộc chiến mà Hàn Quốc tham gia khi đó là cuộc chiến của chính nghĩa
và ca ngợi đội quân phục vụ chiến tranh.
Như vậy có nghĩa là cho đến nay,
Hàn Quốc vẫn đang nợ nhân dân và dân tộc Việt Nam
một lời xin lỗi chính thức và đúng nghĩa.
Thứ hai, Thái Lan
Theo các tài liệu và báo chí Mỹ công bố thì trong chiến tranh Việt Nam,
Thái Lan là nước đứng thứ ba về số lượng lính tham chiến trực tiếp
sau Mỹ và Hàn Quốc,
có đến 40.000 lính Thái Lan tham chiến ở Việt Nam
và 232.000 lính Thái tham chiến ở Lào.
Sự đóng góp đầu tiên của Thái Lan cho nỗ lực chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam
đến vào tháng 9 năm 1964
khi một nhóm 16 người thuộc không lực Hoàng gia Thái Lan tới Sài Gòn
để hỗ trợ vận hành và bảo dững một số máy bay trở hàng
của không lực Việt Nam Cộng Hòa.
Năm 1966, để đáp ứng hơn nữa lời kêu gọi của Tổng thống Johnson,
Thái Lan nhất trí tăng cường sự hỗ trợ của họ
cho chính quyền tay dài Việt Nam Cộng Hòa.
Nhóm hỗ trợ quân sự Hoàng gia Thái Lan
được thành lập ở Sài Gòn vào tháng 2 năm 1966.
Cuối năm đó, một lần nữa,
trước sự thúc giục của Johnson,
chính phủ Thái Lan đồng ý gửi quân chiến đấu đến hỗ trợ cho chính phủ Việt Nam Cộng Hòa.
Vào tháng 9 năm 1967,
các lực lượng đầu tiên của trung đoàn tình nguyện Hoàng gia Thái Lan
với tên gọi là Hổ Mang của Nữ Hoàng
đã đến Việt Nam và đóng quân tại Biến Cát gần Biên Hòa, phía bắc Sài Gòn.
Trung đoàn Thái Lan bắt đầu các hoạt động chiến đấu từ tháng 10 năm 1967.
Tháng 7 năm 1968, lực lượng này được thay thế bởi
sư đoàn viễn trình quân đội Hoàng gia Thái Lan, Báo Đen,
bao gồm 2 lứa đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn pháo 105 ly và 1 đơn vị kỵ binh.
Vào tháng 8 năm 1970,
sư đoàn Báo Đen được đổi tên thành lực lượng tình nguyện quân đội Hoàng gia Thái Lan
và giữ nguyên tên gọi này trong suốt thời gian còn lại tại Nam Việt Nam.
Lẽ tất nhiên, Thái Lan đã được hưởng lợi rất lớn
từ nguồn tài chính hào phóng của Mỹ thông qua viện trợ kinh tế,
quân sự trực tiếp, thông qua việc tri tiêu xây dựng đường xá sân bay
và các căn cứ quân sự của Mỹ trên đất Thái Lan.
Thông qua việc xuất khẩu hàng hóa sang Nam Việt Nam
rồi những tác động gián tiếp từ chiến tranh Việt Nam
đã kích thích sự phát triển các ngành xây dựng,
giao thông, du lịch và thương mại cũng như đầu tư nước ngoài.
Về viện trợ của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam,
Thái Lan nhận được 650 triệu đô la viện trợ kinh tế,
940 triệu đô la nữa cho quốc phòng và an ninh,
nuôi bộ máy quân sự Thái Lan 760 triệu đô la
để thanh toán cho quân đội Thái Lan tham chiến ở Nam Việt Nam
và mua thiết bị quân sự cho Thái Lan.
Tổng 3 khoản viện trợ trực tiếp này là 2,35 tỷ đô la.
Về việc xây 7 căn cứ quân sự của Mỹ ở Thái Lan
để phục vụ chiến tranh Việt Nam,
Mỹ đã trì cho Thái Lan 250 triệu đô la.
Một khoản tiền khổng lồ nữa lên đến 850 triệu đô la
là tiền tri tiêu của 48.000 lính Mỹ đóng quân ở Thái Lan
và 550.000 lính Mỹ ở Nam Việt Nam
sang Thái Lan nghỉ ngơi và phục hồi sức khỏe
sau những trận chiến khốc liệt.
Tổng 3 khoản liệt kê ở trên, nền kinh tế Thái Lan
đã nhận được 3,45 tỷ đô la.
Nếu tính theo con số hiện tại,
thì 3,45 tỷ đô la không phải là lớn,
nhưng nó là khoản tiền rất lớn
ở thời điểm những năm 1960-1970.
Bởi tổng GDP quốc gia của Thái Lan
năm 1964-1965 cũng chỉ có 3,72 tỷ đô la,
tức là tổng số tiền Thái Lan hưởng lợi
từ chiến tranh Việt Nam
bằng toàn bộ nền kinh tế Thái Lan 1 năm ở giai đoạn ấy.
Hãy thử tưởng tượng nếu bây giờ
Việt Nam nhận được một khoản viện trợ 400 tỷ đô la
thì sẽ tác động đến nền kinh tế như thế nào?
Quyết định bắt đầu giúp quân của chính phủ Thái Lan
cũng tương tự như kế hoạch giúp quân khỏi miền Nam Việt Nam
của Tổng thống Nixon
khi tình thế cuộc chiến đã xoay chuyển
sang hướng có lợi cho Bắc Việt.
Các binh sĩ Thái Lan đầu tiên rời khỏi miền Nam Việt Nam
vào năm 1971 và hoàn tất cuộc giúp quân
vào đầu năm 1972.
Đầu tháng 6 năm 1965,
lực lượng đặc nhiệm Úc đầu tiên được triển khai đến Nam Việt Nam,
bao gồm tiểu đoàn bộ binh 1 thuộc Trung đoàn Hoàng gia Úc
được tăng cường bởi đại đội Thông tin 79,
đại đội Hậu Cần và 100 chuyên gia về chiến tranh du kích.
Lực lượng này ngay lập tức được phối thuộc
vào lữ đoàn không quân Vận 173 của Mỹ.
Tuy nhiên giai đoạn đầu hoạt động của lực lượng Úc
bị giới hạn trong các cuộc hành quân an ninh địa phương
tại tỉnh Biên Hòa, nơi đóng quân của lữ đoàn 173.
Tháng 8 năm 1965,
tướng Jackson của quân đội Hoàng gia Úc
đến Việt Nam thông báo với tướng Westmoreland
về việc dỡ bỏ giới hạn nhiệm vụ của lực lượng đặc nhiệm Úc.
Quân đội Úc được phép tham gia các hoạt động tác chiến,
mở rộng địa bàn, hoạt động,
đánh dấu sự tham chiến trực tiếp không giới hạn của Úc
trong liên minh do Mỹ kiểm soát.
Thỏa thuận quân sự giữa tướng Jackson và tướng Westmoreland
được ký ngày 15 tháng 8 năm 1965,
trao quyền kiểm soát lực lượng Úc
cho tư lệnh quân đội Mỹ tại Nam Việt Nam.
Mỹ đảm bảo hậu cần và hành chính cho lực lượng Úc.
Cuối năm 1965,
quân số Úc tại Nam Việt Nam là 1.557 người.
Tháng 3 năm 1966,
quân số Úc tại Nam Việt Nam là 1.557 người.
Tháng 3 năm 1966,
chính phủ Úc thành lập lực lượng đặc nhiệm số 1,
đóng quân tại Phước Tuy,
thực hiện nhiệm vụ chống nổi dậy,
kết hợp quân sự và dân vận.
Từ 1966 đến 1970,
lực lượng đặc nhiệm Úc tham gia chương trình Bình Định.
Giai đoạn đầu họ xây dựng quan hệ với dân chủng địa phương,
giai đoạn sau họ khảo sát ấp chiến lược
để phát thảo dự án Bình Định,
yêu cầu Mỹ cung cấp vật liệu xây dựng.
Ngoài Bình Định thì lực lượng đặc nhiệm Úc
còn tham gia các cuộc hành quân tìm diệt
cùng Mỹ và quân đội Việt Nam Cộng Hòa.
Họ được mệnh danh là những tay thở đào
khi khám phá hệ thống hầm lớn của quân kích mạng.
Tháng 3 năm 1966,
sau cuộc tập kích của lực lượng vũ trang kích mạng
vào sân bay Vũng Tàu,
Mỹ và quân đội Việt Nam Cộng Hòa
biến Vũng Tàu thành trung tâm hậu cần lớn,
cũng là hậu cứu quan trọng của quân đội Úc.
Từ tháng 5 đến tháng 6 năm 1966,
Lữ đoàn 2 thuộc Sư đoàn 1 Mỹ
cùng một tiểu đoàn Úc
mở cuộc hành quân Hà Điêu Hút
đánh vào vùng giải phóng thuộc tỉnh Lộ 2.
Nhưng các lực lượng kích mạng tại chỗ
dựa vào các cao điểm chống trả quyết liệt,
bẻ gãy chân càn.
Liên minh Mỹ-Úc và quân đội Việt Nam Cộng Hòa
buộc phải rút khỏi căn cứ minh đạm.
Tại Bà Rịa,
quân Mỹ chuyển giao trách nhiệm bình định
cho Trung đoàn Bộ Binh số 1 Úc.
Tháng 8 năm 1966,
lực lượng quân Úc ở địa bàn
gồm hơn 1.000 người.
Họ còn giúp chính quyền Sài Gòn
xây dựng trung tâm huấn luyện vạn kiếp
chuyên huấn luyện chiến tranh chống dù kích.
Ngày 17 tháng 8 năm 1966,
quân giải phóng mở trận phục kích
tại Vườn Xoài,
gây bất ngờ cho quân đội Úc.
Đây là trận đọa sức lớn nhất
giữa quân giải phóng và quân Úc
trong suốt thời gian tham chiến.
Sau thất bại tại Long Tân,
quân Úc mở nhiều trận càn lớn hơn
vào các vùng căn cứ kháng chiến,
kết hợp với quân đội Việt Nam Cộng Hòa
thực hiện gom dân lập ấp tân sinh
nhằm chia rẽ phong trào kích mạng.
Từ tháng 10 năm 1966
đến tháng 6 năm 1967,
Liên minh Mỹ và đồng minh
mở cuộc phản công chiến lược
trong mùa khô thứ hai.
Quân Úc yểm trợ cho công tác bình định,
tập trung vào Long Đất,
xây dựng tuyến hàng rào dài 11 km,
cắt đứt giao thông,
Đến tháng 7 năm 1967,
quân Úc sử dụng chiến thuật hàng rào bin
và biệt kích,
gây nhiều khó khăn cho quân kích mạng.
Cuối năm 1967, đầu năm 1968,
Úc tăng cường lực lượng
lên 7.661 người,
thực hiện chiến thuật ộ ngầm
nhằm bao vây ba xã
vùng Đất Đỏ, Phước Thọ, Phước Thạch,
Phước Hòa Long,
tạo lã chắn ngăn chặn lực lượng kích mạng
từ ngoài vào.
Các hệ thống ộ ngầm làm xong,
Liên quân Mỹ-Úc từng bước quay vào
để lung bắt các chiến sĩ kích mạng.
Trong đợt tổng tiến công
và nổi dậy Tết Bảo Thân 1968,
quân Úc cùng quân đội Việt Nam Cộng Hòa
phản kích, ngăn chặn các cuộc tiến công
của quân kích mạng.
Qua một năm chống lại cuộc tổng tiến công và nổi dậy,
Liên minh Úc-Mỹ cùng quân đội
Việt Nam Cộng Hòa đã giành được
một số kết quả nhất định.
Đợt 2 và 3 của cuộc tổng tiến công,
nhưng quân kích mạng gặp khá nhiều tổn thất.
Từ tháng 6 năm 1969,
Sư đoàn 18 quân đội Việt Nam Cộng Hòa
phối hợp với quân đội Mỹ
và quân đội Úc hoạt động
trên 3 địa bản chính
Trảng Bom, Long Thành, Xuân Lộc
và tỉnh Lộ 2 nối dài
về Bà Rịa với các chiến thuật
chủ yếu biệt kích, phục kích nhỏ
kết hợp tập kích lớn bằng hỏa lực.
Năm 1969, quân đội Úc
sử dụng chiến thuật ộ ngầm
và hàng rào lá trắng.
Đầu năm 1970,
họ tiếp tục áp dụng chiến thuật hàng rào lá trắng
tấn công căn cứ Minh Đảm.
Tùy những chiến thuật này
cuối cùng đều thất bại, nhưng cũng gây
nhiều khó khăn và thiệt hại lớn
cho lực lượng cách mạng.
Như vậy, trong suốt năm 1970,
quân Úc đã phối hợp với quân Mỹ
liên tục tổ chức các cuộc phục kích,
ném bom, bắn phá vùng Long Đất
với mục đích là ngăn chặn,
gây khó khăn cho lực lượng cách mạng.
Song với tinh thần yêu nước,
lòng dũng cảm,
quân và dân huyện Long Đất vẫn tiếp tục
đứng vững, giữ địa bàn
bằng phong trào chiến tranh du kích.
Quân dân Long Đất đã đạt được
nhiều chiến công lớn,
loại khởi vòng chiến đấu,
572 lính Úc phá vỡ hệ thống
phòng vệ dân sự của Mỹ-Úc
với 1.119 người,
bắn rơi 10 máy bay, phá hủy
60 xe cơ giới và xe ổi.
Những tháng lợi quân sự này
đã dáng một đòn tâm lý nặng nề
vào lực lượng của quân đội Úc
đang chiến đấu trên chiến trường miền Nam Việt Nam.
Tháng 3 năm 1971,
Thủ tướng Úc tuyên bố
cắt giảm quân đội tại Việt Nam.
Tuy nhiên, trước khi rút quân hoàn toàn,
vào tháng 6 năm 1971,
quân đội Úc phối hợp với
quân đội Mỹ và quân đội Việt Nam Cộng Hòa
mở trận càn lớn vào
căn cứ Minh Đảm, mục tiêu là
tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến
huyệt Long Đất và bảo đảm
an toàn cho việc rút quân.
Trận càn diễn ra ác liệt
với sự tham gia của bộ binh Mỹ,
xe tăng Úc và lực lượng quân đội Việt Nam Cộng Hòa.
Tuy nhiên, quân đội cách mạng
đã bỗ trí hỏa lực
và bãi mìn hiệu quả,
gây thiệt hại nặng nề cho liên quân.
Kế hoạch của Liên minh Mỹ-Úc
một lần nữa thất bại.
Thứ 4. Trung Quốc
Quý vị thân mến, mặc dù trong
hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ
của dân tộc ta, Trung Quốc là một nước
lớn trong khối xã hội chủ nghĩa
và đã viện trợ rất nhiều cho chúng ta.
Tuy nhiên, bên cạnh đó
quốc gia láng giềng phương Bắc
cũng chưa bao giờ từ bỏ giã tâm
đối với Việt Nam.
Và người dám đứng lên vạch trần
tâm địa xấu xa này của Trung Quốc
không ai khác là Tổng bí thư Lê Duẩn.
Trong bài phát biểu của Tổng bí thư Lê Duẩn
về Trung Quốc năm 1979,
Tổng bí thư đã nói rõ rằng
nói chung, sau khi chúng ta đánh bại Mỹ,
không đế quốc nào dám đánh chúng ta nữa.
Chỉ có những người nghĩ
rằng họ vẫn có thể đánh chúng ta
và dám đánh chúng ta là những kẻ
phản động Trung Quốc.
Những người dân Trung Quốc hoàn toàn không muốn thế.
Tôi không biết những kẻ phản động Trung Quốc này
sẽ tiếp tục tồn tại thêm bao lâu nữa.
Tuy nhiên, miễn là họ tồn tại
thì họ sẽ tấn công chúng ta
như họ vừa thực hiện,
nghĩa là đầu năm 1979.
Với Lê Duẩn, Hiệp định Geneva
là lần thứ nhất ông chứng kiến
những người đồng chí Trung Quốc quay lưng
với đất nước ông.
Lần thứ hai là vào năm 1972
khi Tổng thống Mỹ
Richard Nixon sang thăm Trung Quốc.
Khi ấy, ông Lê Duẩn đã trở thành
Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam.
Trước chiến thăm của Nixon,
Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai
đã có một cuộc gặp riêng với Tổng bí thư Lê Duẩn,
thông báo với Lê Duẩn rằng
Mỹ và Trung Quốc sẽ thảo luận về vấn đề
Việt Nam trong cuộc gặp
và sẽ diễn ra tại Bắc Kinh.
Tổng bí thư Lê Duẩn lập tức đáp lại.
Ông Chu Ân Lai,
Ông là người Trung Quốc, tôi là người Việt Nam.
Việt Nam là đất nước của tôi,
hoàn toàn không phải của các ông.
Các ông không có quyền
nói về vấn đề Việt Nam
và các ông không có quyền thảo luận
về các vấn đề của Việt Nam với Mỹ.
Nhưng không gì ngăn được
Mỹ và Trung Quốc gặp nhau
ở Bắc Kinh năm 1972.
Khi Nixon rời Trung Quốc,
một lần nữa Thủ tướng Chu Ân Lai sang Việt Nam.
Cuộc trò chuyện giữa Tổng bí thư Lê Duẩn
và Thủ tướng Chu Ân Lai
đã diễn ra rất căng thẳng.
Khi nhà lãnh đạo cao nhất của Việt Nam
đã không giấu giếm sự gây gắt
trong lời nói của mình.
Nixon đã gặp các ông rồi,
chẳng bao lâu nữa họ sẽ tấn công chúng tôi,
thậm chí còn mạnh hơn bây giờ.
Nhưng tôi hoàn toàn không sợ,
dù thế nào chúng tôi vẫn sẽ thắng Mỹ.
Chu Ân Lai im lặng.
Không lâu sau đó,
Mỹ tiến hành chiến trịch tiện biên phủ trên không
đưa máy bay B-52 ném bom miền Bắc
với quyết tâm đưa miền Bắc Việt Nam
trở về thời kỳ đồ đá.
Cùng với đó, Đài Loan rời khỏi Liên Hợp Quốc,
thay thế Đài Loan ở Liên Hợp Quốc
khi đó chính là Trung Quốc.
Sau này, Tổng bí thư Lê Duẩn
từng có lần nói với Lê Kiên Thành,
con trai ông,
dù là năm 1954 hay
năm 1972 hay sau này,
bà chưa bao giờ quên đi những bài học
đặt ra đó.
Những nhận thức của ông Lê Duẩn
trong các cuộc tiếp xúc với các nhà lãnh đạo
Trung Quốc đã khiến ông luôn giữ
sự cảnh giác trước những lời đề nghị
từ dưới lãnh đạo Bắc Kinh
nếu ông cảm thấy điều đó đe dọa đến
độc lập, chủ quyền của đất nước mình.
Theo thề liệu do ông Lê Kiên Thành
cung cấp, thời chống Mỹ,
Mao Trịch Đông từng đưa ra
một đội quân vào Việt Nam
với lý do giúp Việt Nam xây dựng
đường xá ở miền Bắc.
Thay vì chỉ đưa người vào như cam kết ban đầu,
quân lính Trung Quốc đã đến Việt Nam
cùng với súng đạn.
Sau đó khi Mao Trịch Đông yêu cầu Việt Nam
nhận 20.000 quân Trung Quốc
để xây một con đường từ Nghệ Tĩnh
vào Nam Bộ, thì Tổng bí thư Lê Duẩn
kiên quyết không nhường bộ
và đó không phải lần từ chối duy nhất.
Trong một bức thư
gửi cho vợ, bà Bảy Vân,
ông Lê Duẩn từng kể
lần này Trung Quốc lại đề nghị
cho mình 500 chiếc xe vận tải
để chở hàng trên dãy Trường Sơn
điều kiện đi kèm của họ là
500 chiếc xe đó sẽ kèm
với 500 lái xe Trung Quốc.
Có người trong bộ chính trị đề nghị
anh cứ nhận vài xe cho họ vui
nhưng anh không đồng ý.
Chừng nào anh còn ngồi ở vị trí này
thì anh không để bất cứ thứ gì
có thể trở thành nguy cơ
đối với đất nước.
Sự quyết liệt không nhất nhượng
trong các vấn đề liên quan đến
độc lập chủ quyền của ông Lê Duẩn
chắc chắn là cái gai trong mắt
dưới lĩnh đạo Bắc Kinh lúc đó
khi họ nhận ra ông Lê Duẩn
không phải người dễ bị khuất phục.
Và đến cuối cùng
vào năm 1979
Trung Quốc đã thực sự đưa quân đánh Việt Nam
phản bội lại tình đồng chí
xây dựng bao năm qua.
Sau chiến trận toàn tiến biên giới
đầu năm 1979
Trung Quốc thực hiện chiến tranh phá hoại
nhiều mặt chống lại Việt Nam
bằng các hoạt động vũ trang như
phục kích, tập kích, pháo kích, tấn công lấn chiếm
gây rất nhiều tổn thất
về người và của
cho quân dân Việt Nam.
Đặc biệt trong giai đoạn
1984-1989
Trung Quốc quay lại và duy trì
trận chiến vị xuyên Hà Giang
với cường độ cao, mật độ dày
tạo ra tình trạng căng thẳng bất ổn
ở khu vực biên giới Việt Trung
gây ra nhiều tổn thất
và hậu quả nghiêm trọng
cho quân dân Việt Nam.
Đi đến đâu, quân đội Trung Quốc cũng
phá phách, phá hủy tất cả
các cơ sở hạ tầng,
tàn sát người dân vô tội.
Vụ tàn sát tàn bạo nhất
mà quân đội Trung Quốc gây ra
ở Tổng Trúc, xã Hưng Đạo,
huyện Hòa An, Cao Bằng.
Ngày 9 tháng 3 năm 1979,
4 ngày sau khi tuyên bố rút quân
khỏi Việt Nam, lĩnh Trung Quốc
đã tấn công vào một trại nuôi lợt
ở bản Tổng Trúc,
ra tay vì 43 người gồm
phụ nữ, trẻ em và vui sắc
dư diếng. Từ ngữ
trên tấm bia xi măng còn sót lại
ở Tổng Trúc là không đủ
và không bao giờ là đủ
để diễn tả hết sự bạo tàn
bởi những tội ác mà quân Trung Quốc
đã gây ra khi đang trên đường
rút quân vẻ nước.
Cuộc chiến tranh biên giới bảo vệ
biên giới phía Bắc trong giai đoạn đầu
chỉ diễn ra khoảng một tháng,
thực chất là 17 ngày,
từ 17 tháng 2 năm 1979
đến khi Trung Quốc tuyên bố rút quân
ngày 5 tháng 3 năm 1979.
Nhưng sự tồn thất về người và của
lại không thua kém một cuộc chiến tranh
dài ngày.
Việt Nam chưa có thống kế đầy đủ
chính xác về tổn thất, mới chỉ
có con số ước tính là có 320
xã, 735
trên 904 trường học,
428 trên 430
bệnh viện trạm xá,
38 trên 42 lâm trường,
41 trên 41 nông trường,
81 sĩ nghiệp
hầm mỏ ở khu vực chiến sự
bị tàn phá. Khoảng một nửa
trong số 3,5 triệu dân
ở biên giới phía bắc Việt Nam
bị mất nhà cửa, tài sản, phương tiện
sinh sống. Các thị xã Lạng Sơn
Cao Bằng, Cam Đường gần như
bị hủy diệt hoàn toàn.
Nhiều di tích lịch sử văn hóa
bị quân Trung Quốc cố ý phá hoại
như Hàng Bắc Bó, Cao Bằng,
Động Tam Thanh,
Nhị Thanh, Lạng Sơn.
Mặt trận Hà Giang từ
1979 đến 1989 có
4.760 liệt sĩ,
trong đó khu vực chiến trận
bị xuyên từ 1984
đến 1989 có hơn
4.000 chiến sĩ, thuộc
9 sư đoàn chủ lực hy sinh,
riêng sư đoàn 356 có khoảng
1.200 cán bộ chiến sĩ hy sinh.
Có thể nói
món nợ mà chúng ta nợ Trung Quốc
trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ
đã được trả sạch hoàn toàn.
Tuy nhiên đến nay Trung Quốc đã
vẫn lưu loa rằng đó là cuộc chiến tranh
chính nghĩa và chưa từng có một lời
thừa nhận về tội ác chúng gây ra
trong Việt Nam.
