Chào Mừng Các Bạn Đến Với Kênh Thiên Hà TV Video Ngày Hôm Nay Của Chúng Ta: Công Nghệ Tàu Vũ Trụ Đột Phá Của NASA Giúp Con Người Du Hành Liên Sao | Thiên Hà TV ---------------------------- -Tham gia hội viên của Thiên Hà TV để ủng hộ chương trình: / @thienhatv999 Thiên Hà TV là kênh chia sẻ những kiến thức bổ ích về khoa học vũ trụ, khoa học hành tinh, vật lý thiên văn cùng những dự án về khám phá không gian, phóng tàu vũ trụ và những công nghệ của tương lai. Nếu thấy video hay hãy like, comment, share, đăng ký kênh và nhấn vào tín hiệu chuông 🔔 để là người đầu tiên nhận được thông báo của BBT chương trình nhé! =============== Tuyên bố miễn trừ trách nhiệm bản quyền Chúng tôi không sở hữu đầy đủ tài liệu được biên soạn trong video này. Nó thuộc về những cá nhân hoặc tổ chức xứng đáng được tôn trọng. Chúng tôi sử dụng theo: Tuyên bố từ chối trách nhiệm bản quyền, phần 107 của Đạo luật bản quyền năm 1976. "Sử dụng hợp pháp" được cho phép cho các mục đích như phê bình, bình luận, đưa tin, giảng dạy. học bổng và nghiên cứu. Nếu có vấn đề về bản quyền xin liên hệ: [email protected] Bản quyền âm nhạc thuộc: Audio Library - YouTube, storyblocks và elements envato Bản quyền hình ảnh họa thuộc: Storyblocks và Elements envato
Công nghệ tên lửa đã được con người du hành không gian, nhưng để trở thành giống loài du hành liên sao, chúng ta cần nhiều hơn thế.
Ngay cả di chuyển với tốc độ ảnh sáng, chúng ta phải mất nhiều năm mới đến được ngôi sao gần nhất.
Vì vậy, các nhà khoa học luôn tìm cách và vỡ giới hạn tốc độ ảnh sáng, giúp du hành không gian sâu nhanh hơn.
Ngay bây giờ từ NASA, những bộ óc kỳ tài đang mang trong mình những suy nghĩ vượt lẽ thường.
Hy vọng đưa tầm vưới của con người ra ngoài hệ mặt trời.
Ngày 31 tháng 10 năm 1936, một nhóm 6 học sinh tự sưng là Rocket Boys đã suyết bỏ mạng trong ngọn lửa khi nỗ lực thoát khỏi ảnh hưởng của lực hấp dẫn trái đất.
Tại trần núi San Gabriel ở California, nhóm bạn tay máy đã thử nghiệm một động cơ phản lực chạy bằng cồn.
Họ đang muốn chứng minh rằng động cơ tên lửa có thể giúp con người bay vào không gian, ở thời điểm nhân loại còn chưa hoàn toàn tin tưởng vào máy bay dân dụng.
Kế hoạch đổ bể, khi ống dẫn oxy bắt lửa và quang quật lung tung, phùn ra những tiên lửa tử thần.
Suy nghĩ táo bạo của Rocket Boys thu hút sự chú ý của nhà khí động lực học Theodore von Kármán.
Chuyên gia vốn đã từng cộng tác với hai trong số sáu cá nhân liều lĩnh, khi họ còn cùng nghiên cứu dưới máy trường đại học Caltech.
Tại một vị trí đắc địa, không xa nơi thử nghiệm sơ khai được thực hiện, von Kármán thiết lập một khu vực khác,
nơi Rocket Boys có thể tiếp tục các thí nghiệm của mình.
Năm 1943, địa điểm này trở thành nơi xây dựng phòng thí nghiệm sức đẩy phản lực Jet Propulsion Laboratory,
gọi tắt là JPL, với Theodore von Kármán đảm nhiệm vai trò giám đốc đầu tiên.
Tính tới nay, JPL đã phát triển thành một trong những nhánh nghiên cứu hàng đầu của NASA với hàng ngàn nhân sự.
Nhưng phòng thí nghiệm lâu đời vẫn giữ nguyên tôn trí của ngày đầu thành lập.
Các chuyên gia hàng ngày cạm quỵ thử nghiệm giới hạn của du hành không gian,
cố gắng ứng dụng những khái niệm khoa học nhảy múa giữa danh giới thực tế và viễn tưởng.
Trong những năm qua, JPL đã đạt được nhiều kỳ tích.
Đầu thập niên 70, các kỹ sư của phòng thí nghiệm đã chế tạo thành công Pioneer 10,
tàu du hành đầu tiên có thể đạt tới vận tốc đủ để thoát khỏi hệ mặt trời.
Vài năm sau, họ dựng thành công hai tàu du hành Voyager 1 và 2 là một trong những vật thể nhân tạo có tốc độ nhanh nhất lịch sử.
Hiện, chúng đều đang bay hướng về vùng không gian liên sao.
Chỉ trong vòng hai thập kỷ, từ thời điểm khởi sinh kỷ nguyên không gian cho tới lúc hai tàu Voyager cất cánh,
các chuyên gia thiết kế tên lửa đã tăng gấp đôi tốc độ cho các thiết bị du hành.
Nhưng từ sau đó trở đi, ngành hàng không vũ trụ mới chỉ chứng kiến một thiết bị nối gót Voyager bay ra khỏi hệ mặt trời,
là tàu New Horizons vào năm 2006.
Ngoài ra, chưa có thêm một tàu thăm dò hay du hành nào chạm tới tốc độ cao.
Các chuyên gia của JPL đứng ngồi không yên, quyết tìm ra một cú nhảy vọt mới trong công nghệ du hành vũ trụ.
Nhưng dù nỗ lực mới có nội dung gì, nhìn chung, các chuyên gia đều cho rằng quy mô hệ mặt trời đã trở nên hạn hẹp.
Đây là lúc con người cần nhìn tới những hành tinh xa hơn những thiên thể nội địa, tìm tới các vị sao xa hơn.
John Prophite, kỹ sư bay tại JPL, đang phát triển một công nghệ động cơ lạ thường giúp tăng tốc du hành không gian thêm 10 lần nữa.
Leon Ancalay, một kiến trúc sư sứ mệnh không gian khác, lại ấp ủ một chuyến hành trình liên sao mà khởi đầu là một cú bổ nhau về phía mặt trời.
Một nhà khoa học tại JPL khác, Slava Turicev, lại đang phát thảo một hệ thống kính viễn vọng,
mà với nó, ta có thể quan sát những hành tinh rồng cháy đất một cách cận kẽ, không nhất thiết phải tới tận nơi.
Tất cả những ý tưởng trên đều là những kế hoạch dài hơi.
Nhưng chỉ cần một trong số chúng thành công, ứng dụng sẽ nhiều không kể xiết.
Nhóm Rocket Boys và Hậu Duệ đã được con người thành giống loài du hành không gian.
Thế hệ các nhà nghiên cứu đương đại tại JPL sẽ giúp nhân loại du hành liên sao.
Máy ra tốc hạt ion
Cảm hứng tới với nhà nghiên cứu Prophite xuất phát từ Breakthrough Starshot,
dự án công bố hồi 2016 bởi cố nhà vật lý lý thuyết Stephen Hawking và vị tỷ phú người Nga Julie Miller.
Mục tiêu tối thượng của dự án là một sàn tiê laser công suất lớn với bể ngang lên tới cả km,
có thể đẩy một tàu du hành cỡ nhỏ tới vận tốc viễn tường.
Prophite hoài nghi khả năng thành công của Breakthrough Starshot,
nhưng kỹ thuật đằng sau nó lại khơi gợi trí tò mò của ông.
Ông thổ lộ rằng JPL khuyến khích nhân sự của mình mở rộng suy nghĩ ra ngoài lẽ thường,
khiến những ý tưởng dị hợm của tôi lại càng quái hơn theo thời gian.
Tuy cho rằng tính khả thi của dự án Breakthrough Starshot nằm ngoài thực tế,
ông vẫn tự hỏi liệu có thể giảm quy mô ý tưởng này xuống tới mức công nghệ cận viễn tường đáp ứng được.
Ý tưởng dùng tiên laser đẩy tàu du hành thôi thúc nhà nghiên cứu Prophite tìm giải pháp tương tự.
Bởi lẽ, nó sẽ hóa giải được phương trình tên lửa,
vốn liên kết vận động của một con tàu không gian với lượng nhiên liệu nó mang trên mình.
Mở ra một loạt những vấn đề hóc búa,
phương trình toán học vốn là rào cản của mọi hệ thống du hành không gian.
Bày nhanh thì cần thêm nhiên liệu, nhưng nhiều nhiên liệu thì khối lượng lại tăng.
Khối lượng lớn yêu cầu thêm lực đầy,
tức là thêm nhiên liệu.
Vòng luận quẩn cứ thế tiếp diễn.
Nhiên liệu, thứ không thể thiếu trong du hành không gian bằng động cơ đốt,
lại chính là thứ ngăn ta bay ra.
Đơn cử, tàu thăm dò Voyager,
vốn chỉ nặng hơn 800 kg,
cần hệ thống tên lửa đẩy nặng tới hơn 600 tấn,
với nhiên liệu chiếm phần lớn khối lượng.
Từ ngày mới tốt nghiệp, hồi những năm 1970,
nhà nghiên cứu Prophite đã nghiên cứu phát triển một hệ thống hỗ trợ du hành
có tên gọi y-ông tạo lực đầy.
Một động cơ y-ông sẽ dùng năng lượng điện
để bắn các nguyên tử mang điện tích dương với một tốc độ cao.
Mỗi nguyên tử chỉ tạo ra một lực đầy nhỏ,
nhưng khả năng tích tiểu thành đậy
khiến động cơ y-ông đẩy tàu nhanh hơn động cơ dùng phản ứng hóa học.
Động cơ y-ông vẫn mang trong mình những hạn chế.
Bay càng xa mặt trời,
hiệu suất các tầm pin năng lượng càng giảm.
Tăng kích cỡ pin có thể khắc phục được điều đó.
Nhưng kích cỡ tăng đồng nghĩa với việc khối lượng tăng
và phương trình tên lửa tiếp tục ám ảnh con tàu du hành.
Một động cơ y-ông không tạo ra đủ lực đầy
để thoát khỏi lực hấp dẫn của trái đất.
Ngay cả trong môi trường không có lực cẳn không khí,
động cơ y-ông vẫn mất cao khá thời gian để đạt được tối đa vận tốc.
Ông Brofile hiểu rõ những hạn chế này
khi chính tay ông thiết kế động cơ y-ông của tàu du hành Đao.
Thiết bị đã hoàn thành sứ mệnh thăm dò tiểu hành tinh Vesta
và hành tinh lồn Ceres.
Ngay cả với tầm pin năng lượng mặt trời rộng tới 20 mét,
tàu Đao vẫn phải mất 4 ngày để tăng tốc từ 0 lên 100 km trên giờ.
Trong khi Brofile vẫn đang cân nhắc giữa động cơ hiệu quả
với một nguồn năng lượng mặt trời chưa đủ mạnh,
dự án Breakthrough Starshot ra mắt công chúng.
Đó là lúc nhà nghiên cứu Lão Thành chuyển hướng suy nghĩ.
Liệu ông có thể dùng tia laser cực mạnh
thay thế cho những tia sáng yếu dần đều theo khoảng cách không?
Với một hệ thống laser đủ mạnh,
động cơ y-ông có thể vận hành mạnh mẽ hơn.
Trong khi không cần phải mang trên mình một tấm pin mặt trời quá khổ,
trong phòng thí nghiệm của mình,
ông Brofile lắp dắt được một nguyên mẫu động cơ y-ông hiệu suất cao,
đầy tiềm năng.
Thiết bị sử dụng y-ông lithium,
vốn nhẹ hơn y-ông xenon,
được tàu Đao sử dụng.
Tức là thiết bị mới sẽ cần ít năng lượng hơn
để đẩy tàu du hành đi với vận tốc cao hơn.
Động cơ mới sẽ vận hành ở hiệu điện thế 6.000V,
gấp 6 lần mức mà tàu Đao hoạt động trong quá khứ.
Ông khẳng định, hiệu năng thiết bị này sẽ thực sự gây kinh ngạc
nếu như ta có một hệ thống laser hậu thuẫn nó.
Tuy nhiên, máy phát laser đó không tồn tại.
Dù đã phải giảm quy mô mô hình Starshot xuống nhiều lần,
ông Rofei vẫn mừng tưởng ra một hệ thống laser
đặt trong vũ trụ, mạnh tới 100MW,
sản sinh ra năng lượng gấp 100 lần
còn số mà Trạm Vũ trụ Quốc tế tạo ra hàng ngày.
Thậm chí, nó phải bắn chính xác vào một tàu du hành
đang bay ở vận tốc cao.
Rofei thừa nhận, chúng tôi không rõ phải làm thế nào
để thực hiện được điều đó.
Nhưng một khi thành công,
nó sẽ là dự án kỹ thuật ngoài hành tinh phức tạp nhất
từng được thực hiện.
Sản laser mạnh mẽ sẽ được tái sử dụng nhiều lần
cho nhiều sứ mệnh.
Có thể coi nó là một hệ thống đa nhiệm
hỗ trợ đẩy tàu du hành.
Lấy ví dụ, ông Rofei mô tả một con tàu chạy pin
lithium-ion với sải cánh 90m
chảy đầy những tấm quang điện,
vốn cung cấp năng lượng cho động cơ ion phản lực
ông đang phát triển tại JPL.
Tìa laser sẽ phủ sáng các tấm pin năng lượng mặt trời
với cường độ sáng gấp hàng trăm lần ánh mặt trời.
Nó sẽ giúp một động cơ ion dư sức bay từ trái đất
tới Diêm Vương Tinh,
hết quãng đường khoảng 5 tỷ km.
Sẵn ra tốc lớn,
tàu du hành có thể bay thêm khoảng 5 tỷ km nữa
sau khoảng từ 1 đến 2 năm
sau khi tới Diêm Vương Tinh.
Với tốc độ này,
một tàu du hành có thể nhanh chóng khám phá khu vực mở ảo
nơi khởi nguồn các sao trồi
hoặc khởi đầu hành trình nghiên cứu hành tinh thứ 9
mới chỉ đang tồn tại trên giả thuyết.
Nói tóm lại, sản laser sẽ giúp nhân loại
với tay tới hầu hết các ngóc ngách hệ mặt trời.
Tên lửa nhiệt mặt trời
Cũng tại JPL,
một bộ óc khác cũng nhìn thấy tiềm năng
từ hệ thống laser viễn tường của Breakthrough Starshot.
Ông An Kalai,
người định hình hướng phát triển cho những sứ mệnh mới
của Ban Giám đốc Kỹ thuật và Khoa học
tại JPL,
cũng có cái nhìn xa của một con người
đam mê chân trời mới.
Ông cho rằng dự án Starshot đi đúng hướng,
nhưng hấp tấp quá.
Ông nói, chúng ta vẫn còn xa thời điểm
có đủ công nghệ hiện đại
để thiết kế một sứ mệnh bay tới vị sao khác.
Ta cần khởi đầu bằng những bước đi tí hon.
Ông đã hình dung ra cách vùng chân
để đi bước đầu tiên.
Dù chưa thể ghé thăm những vị sao khác,
ta vẫn có thể gửi tàu thăm dò
đi lấy mẫu từ vùng không gian liên sao,
là những khí thừa và bụi vũ trụ
lờ lừng giữa các vị sao.
Ông An Kalai nói,
tôi rất hứng thú với việc tìm hiểu vật chất
nằm ngoài hệ mặt trời.
Duy cho cùng, chúng ta xuất thăn từ chúng mà.
Sự sống khởi sinh từ những đám mây bụi nguyên sơ.
Ta biết bên trong chúng có vật chất hiệu cơ,
nhưng nó thuộc loại gì?
Mật độ ra sao?
Có phân tử nước trong đó không?
Đó là những kiến thức lớn cần được hiểu.
Vùng trung gian giữa các ngôi sao vẫn bí ẩn,
bởi lẽ ta chưa chạm tới được chúng.
Những cơn gió mặt trời
là một luồng hạt phóng ra từ ngôi sao trung tâm hệ,
đẩy những vật chất cần được nghiên cứu xa xa.
Nếu ta tới được vùng không gian
nằm ngoài tầm ảnh hưởng của mặt trời,
ta sẽ lần đầu tiên lấy được mẫu tình khiết
của Giải Ngân Hà.
Ông An Kalai mong tới ngày được tận tay tận mắt
chứng kiến mẫu vật quý giá.
Ông đã ngoài sáu mươi,
không thể trong đợi dàn laser khổng lồ
của Red Drow Starshot được.
Thay vào đó, ông đề xuất một công nghệ đơn giản hơn.
Tuy chưa được chứng thử,
nhưng nó vẫn đã có danh sưng là
tên lửa nhiệt mặt trời.
Ông cho biết, rất khó,
nhưng chúng tôi đã đăng dựng mô hình
các yếu tố vật lý liên quan.
Nhà nghiên cứu mong muốn có thể sớm thử nghiệm
một số bộ phận thuộc hệ thống tên lửa nhiệt
và biến những bản thiết kế
thành một sứ mệnh hoàn chỉnh trong thập kỷ tới.
Khoảng 10 năm sau khi phóng tàu,
thiết bị sẽ tới được vùng không gian liên sao.
Bên cạnh việc lấy mẫu thiên hà,
tàu sẽ ghi lại ảnh hưởng của mặt trời
tới khoảng cách không xa xôi,
nghiên cứu cấu trúc bụi trong thái dương hệ.
Một hành trình xuân xẻ sẽ giúp tàu thăm dò
tiện đường ghé một hành tinh nào đó.
Ông Ancalay gọi đây là chuyến đi
không giống bất cứ dự án gì
chúng ta đã thực hiện trong quá khứ.
Ghé mắt thay vì ghé thăm.
Các khái niệm tên lửa mặt trời
hay động cơ laser-ion rất ấn tượng,
nhưng vẫn nằm gọn trong lãnh thủ viễn tường.
Khoảng cách giữa hệ mặt trời
và khoảng không gian liên sao
vẫn xa vời với công nghệ hiện đại.
Điều đó không làm cho nhà nghiên cứu
Theuricep trùn bước.
Khi ông đang thiết kế một sứ mệnh ảo
giúp chúng ta vân tới vị sao khác,
ông đang nổi dưỡng dự án kính viễn vọng
dựa trên phương pháp mang tính giả thuyết
có tên.
Phân phối của lực hấp dẫn mặt trời
The Solar Gravitational Lens gọi tắt là SGL.
Một kính viễn vọng nằm ở vị trí thích hợp
để tận dụng SGL
sẽ chứng kiến hiện tượng đẹp huyền ảo.
Khi nhìn về phía mặt trời,
kính sẽ thấy ánh sáng
từ những vật thể đằng sau bị kéo rãn,
tọa thành một vòng bao quanh mặt trời.
Vòng sáng này có tên gọi vòng Einstein
hay còn có tên gọi khác là vòng Swanson
đặt theo tên nhà vật lý học người Nga
Oleg Swanson.
Nó hiện ra dưới thác động bẻ cong ánh sáng
của lực hấp dẫn mặt trời.
Theo lời ông Theorise,
một kính viễn vọng tận dụng được SGL
sẽ đánh mắt tới các điểm vị trí trên vòng Einstein,
tái dựng hình ảnh nơi xa,
có thể là những ngôi sao,
những ngoại hành tinh ở hệ sao,
thiên hạ khác,
thành một tấm hình có độ phân giải megapixel.
Trên lý thuyết, tấm ảnh có thể rõ ràng đến vậy.
Một hình ảnh với độ phân giải
1.000 x 1.000 pixel
sẽ đủ rõ ràng để chứa dữ liệu
về một vật thể có chiều ngang 15 km,
nằm cách kính viễn vọng 100 năm ánh sáng.
Sứ mệnh sẽ cần tới một thiết bị
có kích cỡ từng đường kính viễn vọng Hubble
và sống sót được chuyến hành trình
dự kiến sẽ dài 547 đơn vị thiên văn,
từng đường 82 tỷ km,
gấp 55.000 lần khoảng cách
giữa kính viễn vọng James Webb
và trái đất.
Theo đề xuất của ông Tiurisev,
chuyến đi vất vả sẽ kéo dài 17 năm
do một hệ thống trí tuệ nhân tạo dẫn đường.
Hơn hết, họ sẽ cần một mục tiêu nghiên cứu,
một hành tinh đáng để tiêu tốn
hàng tỷ tỷ USD tiền vốn
và hàng chục năm nghiên cứu phát triển.
Với phương châm bài dễ làm trước,
NASA đang để mắt tìm một ngoại hành tinh
có kích cỡ tương tự trái đất
và có khả năng hỗ trợ sự sống.
Ông Tiurisev hồ hời đề xuất.
Cuối cùng, để thấy sự sống trên ngoại hành tinh,
ta sẽ phải ghé thăm nó.
Nhưng một sứ mệnh quan sát
sẽ giúp chúng ta nghiên cứu sớm
những đích đến cả thi trước cả nhiều thập kỷ,
thậm chí nhiều thế kỷ.
Hành trình thay đổi nhận thức con người này
sẽ đạt yêu cầu cao hơn sự thành công
của động cơ ion và tên lửa nhiệt mặt trời.
Một đích đến xa vời,
nhưng ít nhất chúng ta đã có
những kinh nghiệm quỷ báu trong hoạt động
đưa kính viễn vọng ra với khoảng không lạnh lẽo.
NASA thường được biết tới với các dự án
như tạo ra những hệ thống kính thiên văn đầy tham vọng,
có thể nhìn thấy thời điểm bắt đầu của vũ trụ
hay được con người lên mặt trăng rồi quay trở lại.
Nhưng ít ai biết rằng
họ cũng chịu trách nhiệm cho các sản phẩm
như áo tắm, công nghệ phẫu thuật mắt
hay cách bạn chụp ảnh selfie.
Các sản phẩm hàng ngày được liệt kê dưới đây
chỉ là 15 trong số hơn 2.000 sản phẩm tiêu dùng
đến từ các chương trình vũ trụ của NASA.
Tất cả đều dựa trên công nghệ và khám phá
do NASA trực tiếp phát triển,
hợp tác với NASA
hoặc thông qua tài trợ của NASA.
Truyền hình vệ tinh
Có lẽ không có gì ngạc nhiên
khi NASA cũng đóng một vai trò quan trọng
trong việc phát minh ra truyền hình vệ tinh.
Vệ tinh đầu tiên có khả năng
truyền tiếp tín hiệu TV là Theostar I
được cơ quan này phóng vào năm 1962.
Nó bắt đầu như một dự án hợp tác
giữa phòng thí nghiệm Bell
để phát triển một hệ thống liên lạc vệ tinh thử nghiệm
trên Đại Tây Dương.
Sau đó NASA tiếp tục phát triển công nghệ này
nhằm tạo ra các hệ thống tiên tiến hơn
để giảm tiếng ồn và lỗi trong tín hiệu được truyền
dẫn đến khả năng truyền video và âm thanh độ nét cao.
Chuột máy tính cổ điển
Chuột máy tính được phát minh
tại Đại học Stanford vào đầu những năm 1960
bởi Doe M. Leibat
dựa trên một nghiên cứu về đầu vào máy tính tương tác
được NASA tài trợ.
Nghiên cứu này được thực hiện
bởi chuyên gia về khoa học máy tính
có tên Bob Tyler của NASA.
Nhiệt kế hồng ngoại
Nếu bạn từng kiểm tra nhiệt độ của mình
bằng nhiệt kế hồng ngoại
thì hãy nhớ rằng
bạn không thể làm được điều đó
nếu không có NASA.
Cơ quan Vũ trụ Mỹ
đã phát triển các nhiệt kế hồng ngoại
để đo nhiệt độ của vật thể vũ trụ ở xa
và công nghệ này cuối cùng
đã tìm ra cách để xuất hiện trong các ngôi nhà
thông qua việc trở thành bộ phận quan trọng
của nhiệt kế gia đình.
Máy ảnh điện thoại di động
Các cảm biến hình ảnh được sử dụng
trong hầu hết các máy ảnh kỹ thuật số hiện đại
có nguồn gốc trực tiếp từ NASA.
Eric Fossum, một nhân viên của phòng thí nghiệm
sức đầy phản lực của NASA
là người đầu tiên sử dụng công nghệ CMOS
trong máy ảnh.
Mục tiêu ban đầu là tạo ra một hệ thống camera tốt hơn
rẻ hơn và hiệu quả hơn
cho tổ vũ trụ.
Nhưng công nghệ này
nhanh chóng được phổ biến trên toàn thế giới.
Phẫu thuật Lasik
Trong một nỗ lực để xác định
việc thiếu trọng lực
ảnh hưởng đến chuyển động của mắt như thế nào
NASA đã tiến hành một loạt thí nghiệm
trên trạm vũ trụ quốc tế
vào giữa những năm 2000.
Kết quả mang lại không hữu ích cho lắm.
Nhưng công nghệ theo dõi mắt
được phát triển dựa trên nó
đã giúp ích rất lớn cho các thí nghiệm sau đó
giúp các cà phẫu thuật điều chỉnh thị lực Lasik
có thể thực hiện được.
Sữa công thức
Trong khi nghiên cứu các chiến lược dinh dưỡng
cho những chuyến du hành tới sau hòa trong tương lai
các nhà khoa học NASA đã phát hiện ra
nguồn tự nhiên trong một loại ácid béo Omega-3
trước đây chỉ có trong sữa mẹ.
Thành phần này hiện được sử dụng
trong hầu hết các loại sữa công thức
dành cho trẻ em trên thị trường.
Máy hút bụi không dây
Hãng Black & Decker
đã hợp tác chặt chẽ với NASA
trong những năm 1960
để sản xuất máy khoan không dây
búa và các công cụ khác
để tạo ra các sản phẩm
có thể hoạt động trong môi trường trọng lực thấp
hoặc không trọng lực.
Và giờ đây bạn có thể thấy công nghệ này
trong hàng loạt máy hút bụi không dây
trên thị trường.
Máy lọc nước
Mặc dù các bộ phận lọc nước cơ bản
đã tồn tại từ giữa những năm 1950
nhưng phải đến khi NASA
bơng tài nguyên và nghiên cứu của mình
cho chương trình Apollo
vào năm 1963
thì các hệ thống lọc hiện đại
mới bắt đầu xuất hiện.
NASA đã dẫn đầu nghiên cứu về lĩnh vực này
vì họ cần một lượng lớn nước sạch
lưu trữ thời gian dài
trong điều kiện cất nhiệt bên ngoài không gian.
Để đạt được mục tiêu này
NASA đã phát triển một hệ thống hoạt động
bằng cách sử dụng khả năng hấp thụ
các chất ô nhiễm và hạt vật chất
có trong nước
khi được xử lý đặc biệt với than quỷ.
Phương pháp xử lý này
về cơ bản là một quá trình ô si hóa
mở ra hàng triệu lỗ chân lông nhỏ
giữa các nguyên tử carbon
trong than quỷ,
khuếch đại khả năng hấp thụ của than quỷ
với diện tích về mặt số lớn
đã tạo ra nhiều vị trí
để các chất ô nhiễm
liên kết hóa học với nó
thông qua lực hút.
Điều này làm cho nước thu được không có tạp chất.
Bộ vi xử lý
Microprocessor
Về mặt kỹ thuật
NASA không phát minh ra mạch tích hợp
thay vào đó phát minh này xuất hiện
vào năm 1958
bởi kỹ sư điện Jack Kinby.
Tuy nhiên NASA đã phát minh ra
các biến thể mới hơn
và tiên tiến hơn của mạch tích hợp.
Chương trình Apollo của NASA
đã khởi động cuộc cách mạng phi mạch
với việc chính phủ Hoa Kỳ
đã thu mua hơn 60%
mạch tích hợp trong nước
những năm 1960.
Một trong những ứng dụng cao cấp đầu tiên
của công nghệ phi mạch
là trong máy tính hướng dẫn Apollo
với giao diện DSKY
được sử dụng để cung cấp khả năng tính toán
và điều khiển trên tàu để điều hướng
cũng như điều khiển mô đun chỉ huy
và mô đun mặt trăng.
Ngày nay, các mạch tích hợp
có thể được tìm thấy trong hầu hết
mọi lĩnh vực của cuộc sống
từ điện thoại di động và máy tính cá nhân
đến lò vi sóng.
Điều này chủ yếu nhờ vào quá trình sử lý
và sản xuất phi mạch rẻ tiền
từ chương trình Apollo của NASA.
Mũ Bảo Hiểm
Vào những năm 1970
NASA đã phát minh ra bọt ủ
một vật liệu hấp thụ sốc
được thiết kế để cải thiện
độ an toàn của điện máy bay.
Lại bọt ủ này
sau đó được trang bị cho mũ bảo hiểm
và ghế ngồi của tàu vũ trụ Apollo.
Đây là một lớp lót
giúp giảm thiểu một số lực cực đoan
mà các phi hành gia sẽ phải chịu.
Bọt ủ là một loại
polyurethane được sử lý
bằng các hóa chất bổ sung
có cả độ nhất và mật độ cao
các đặc tính lý tưởng để hấp thụ
các tác động đáng kể và chống lại
dòng năng lượng.
Bọt có tính đàn hồi nhất
và nhạy cảm với nhiệt độ
nghĩa là khi được ép vào nguồn nhiệt
nó có thể tạo ra hình dáng theo khuôn.
Lại bọt ủ ban đầu
được tùy biến thành bọt sốt kích nhiệt
và được tung ra thị trường
vào đầu những năm 1980.
Sau đó nó nhanh chóng được sử dụng
trong các thiết bị y tế
như nệm sốt kích nhiệt
và dụng cụ thể thao như
mũ bảo hiểm bóng bầu dục Mỹ
và mũ bảo hiểm xe máy, xe đạp.
Mặt đường có rãnh
Ngay cả khi bạn không nhận thấy
toàn bộ thế giới đã bớt chân trượt hơn
nhờ có NASA.
Cụ thể, các nhà nghiên cứu của NASA
đã chứng minh rằng
việc cắt các rãnh mỏng trên đường băng bê tông
để tạo ra các cành dẫn nước thừa
thoát ra ngoài
làm giảm nguy cơ tai nạn do chân trượt
tại sân bay.
Kết quả là hàng trăm sân bay thương mại
trên khắp thế giới đã được bố trì rãnh an toàn.
Sau đó, thậm chí cả trên đường cao tốc
quy trình tạo rãnh an toàn
cũng đã được áp dụng cho các đường cong
và cầu vượt.
Sau đó là lối đi dành cho người đi bộ,
đường dốc và bực tăng cấp,
rồi tới các nhà máy chế biến thực phẩm
và chuồng gia sốt.
Công nghệ này cũng đã được chứng minh
là có khả năng khôi phục hiệu suất
mà sát ướt đối với bề mặt đường mòn
hoặc nhẵn và kéo dài
tuổi thọ của chúng từ 5 đến 10 năm,
giúp tiết kiệm đáng kể
chi phí bảo trì.
Niệm phàm hoạt tính
Nếu niệm, gối,
đi văn, sô pha
hoặc bất cứ thứ gì của bạn
có chứa phàm hoạt tính
hay còn gọi là điệp nhớ
do khả năng trở lại hình dạng ban đầu
sau khi sử dụng,
thì bạn có thể cảm ơn NASA.
Phần liệu này được phát triển
bởi kỹ sư hàng không Jocelyn George
do NASA tài trợ
và ban đầu được sử dụng để tạo ra
những chiếc ghế máy bay
có thể hấp thụ và chạm tốt hơn
Đồ bơi hiệu suất cao
Hầu hết chúng ta không thường xuyên
mặc đồ bơi hiệu suất cao,
nhưng những vận động viên bơi lội
như Michael Phelps
thì sử dụng chúng một cách thường xuyên.
Bộ đồ bơi LZA Racer
của Speedo,
trang phục được lựa chọn cho những vận động viên
bơi lội ưu tú,
rap mắt vào năm 2008
và có các đặc tính động lực học dưới nước độc đáo
đã ra đời sau quá trình thử nghiệm
trong đường hầm gió
tại trung tâm nghiên cứu lang lây của NASA
Chăn cứu hộ khẩn cấp
Những chiếc chăn cứu hộ mỏng dính
được đóng gói trong bộ dụng cụ sơ cứu
và thường được phát
khi kết thúc các cuộc chạy marathon
được NASA phát triển
vào năm 1964
Vật liệu của nó được tạo ra bằng cách
cho nhồm bốc hơi lên bề mặt nhựa mỏng
và hiện được sử dụng
trong việc cắm chạy
tấm chăn nắng, kính viễn vọng không gian
như một tấm chắn
nó phản xạ nhiệt trở lại cho bất kỳ ai
hoặc thứ gì được quấn trong đó
Ô tô tự lái
Chúng ta có thể được sử dụng công nghệ này
một cách phổ biến hơn
trong tương lai gần
nhờ nhóm công nghệ và khoa học lượng tử
của phòng thí nghiệm sức đầy phản lực
của NASA
Với các dự án bắt đầu vào những năm 1980
trong số các phát minh của họ
có một thứ sở hữu
cái tên đầy gậy cảm
là Bộ Cộng hưởng Quang học
Chế độ Thì thầm
trong Thư viện
Đó là một bộ cộng hưởng hình cầu
cho dòng ánh sáng
Cho đến gần đây, công nghệ này mới được sử dụng
trong thực tế
khi nó được tích hợp vào hệ thống LIDAR
dành cho ô tô tự lái
Tròng kính chống sức
Đã có nhiều loại mắt kính chống sức ra đời
nhưng không có thứ gì tốt
bằng công nghệ trên dòng kính
Su-Vivo của Ray-Ban
Bởi nó được cấp phép công nghệ từ NASA
NASA đã đi tiên phong
trong việc phủ các màn hình dụng cụ nhạy cảm
bằng một loại carbon giống kim cương
để làm cho chúng có khả năng
chống sức gấp 10 lần
so với các phương pháp khác
Điều này có thể là hơi quá mức cần thiết
đối với kính râm
nhưng nó vẫn khá tuyệt vời
Hệ thống kiểm soát không lưu
Cục Hàng không Liên bang Mỹ
và NASA gần đây
đã hoàn thành việc phát triển một hệ thống cải tiến
để quản lý các chuyến bay trên mặt đất
Nó có tên gọi tắt là
EADS
hiện đã được thiết lập tại 27 sân bay
bận rộn nhất của Mỹ
Giày Nike Air
Đôi giày thể thao này là sản phẩm
chứa đựng tới hai cải tiến của NASA
Quá trình đúc cao su cứng
của giày thể thao được thực hiện
thông qua công nghệ đúc cao su thổi
một quy trình tiên phong tại NASA
để sản xuất mũ bảo hiểm
Còn vật liệu hấp thụ sốc
được sử dụng trong Nike Air
đến từ kỹ sư Frank Rudy của NASA