Chương 9- Kinh tế – Mồi nhử của ma quỷ (Phần I) - Ma quỷ đang thống trị thế giới của chúng ta

Chân Tướng
576 Người theo dõi
2.1K Lượt xem video·25 thg 2, 2025
Chương 9- Kinh tế – Mồi nhử của ma quỷ (Phần I) - Ma quỷ đang thống trị thế giới của chúng ta
Ma Quỷ đang thống trị thế giới của chúng ta
Chương 9. Kinh tế, môi nhừ của Ma Quỷ
Phần 1
Lời dẫn
Hơn 100 năm trước, Mark đã xuất bản cuốn tư bản luận
Hô hào dùng chế độ công hữu để xóa bỏ chế độ tư hữu
Nửa thế kỷ sau, lan sóng công hữu của Chủ nghĩa Cộng sản đã lan rộng đến 1 phần 3 diện tích toàn cầu
Khoảng những năm 1990, Chủ nghĩa Cộng sản ở Đông Âu bị giải thể
Rất nhiều quốc gia Đông Âu đang phải thực hiện liệu pháp cú sốc để quay trở lại nền kinh tế thị trường
Một số quốc gia vốn không phải do Đảng Cộng sản cầm quyền
Nhưng lại tôn thờ Chủ nghĩa Xã hội đã tiến hành quốc hữu hóa tài sản quốc gia
Quá trình thực hiện chế độ công hữu và kinh tế kế hoạch đã mang đến đói nghèo và thống khổ cho các quốc gia này
Họ cũng phải bắt đầu thực hiện kinh tế thị trường tự do một phần
Tàn linh Cộng sản xâm lấn toàn cầu với mục đích thống trị thế giới
Những quốc gia này lần được từ bỏ Chủ nghĩa Cộng sản hoặc mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa
Đây chẳng phải là minh chứng cho sự thất bại của tàn linh Cộng sản hay sao?
Sự thực không đơn giản như vậy
Một trong những đặc điểm của tàn linh Cộng sản là để đạt được mục tiêu cuối cùng của mình
Nó không hề có nguyên tắc nào mà biến hóa khôn lường
Nguyên tắc của nó biến đổi theo ý muốn của nó
Phủ nhận một phần thủ đoạn của bản thân nó cũng là thủ đoạn để nó đạt được mục tiêu lớn hơn
Trong lĩnh vực kinh tế, nó cũng sử dụng thủ đoạn này
Phân tích cụ thể tình hình kinh tế thế giới hiện nay và thực chất đằng sau
Chúng ta không thể không kinh ngạc khi phát hiện rằng
Móng vút của má quỷ của tàn linh Cộng sản đã sớm vươn tới từng ngóc ngách của lĩnh vực kinh tế
Trong các viễn cảnh tươi đẹp, trong sự sùng bái mù quáng vào chính phủ
Nền kinh tế của các quốc gia đang từng bước rời khỏi quỹ đạo của nền kinh tế tự do
Mất đi đạo đức căn bản và rơi vào vòng khống chế của tàn linh Cộng sản
Do vậy, nhận rõ bộ mặt chân thực của nó để suy nghĩ và tìm ra đôi sách là việc vô cùng cấp thiết
Mục 1. Các quốc gia phát triển ở phương Tây đang tham gia vào một hình thức khác của chủ nghĩa Cộng sản
Mark đã nói trong tuyên ngôn Đảng Cộng sản
Những người theo Đảng Cộng sản có thể khái quát lý luận của mình chỉ trong một câu
Tiêu diệt chế độ tư hữu
Đối với con người bà nói cần phải tiêu diệt ca tính, tính độc lập và tự do của người tư giản
Đối với xã hội bà nói thì tức là lợi dụng chế độ chính trị của bản thân nó
Để từng bước đoạt lấy toàn bộ tư bản của giai cấp tư sản
Tập trung toàn bộ công cụ sản xuất vào tay quốc gia
Tức là nằm trong tay giai cấp thống trị là giai cấp vô sản
Để đạt được mục đích này, tàn linh Cộng sản đã dùng biện pháp giết chóc và bạo lực ở những quốc gia Cộng sản
Tuy nhiên, ở những xã hội tự do thì biện pháp bạo lực của chủ nghĩa Cộng sản lại không có nhiều môi trường để phát huy
Vì vậy, tàn linh Cộng sản đã sử dụng phương thức phi bạo lực
Dùng các hình thức chủ nghĩa xã hội biến tướng
Chia thành các giai đoạn khác nhau và các mức độ khác nhau để thẩm thấu vào toàn xã hội
Bề ngoài chúng ta khó mà phân biệt được
Rất nhiều chính sách kinh tế của các quốc gia phương Tây hiện nay
Trên bề mặt có vẻ như không phải là chủ nghĩa xã hội
Tên gọi cũng không phải là chủ nghĩa xã hội
Nhưng cuối cùng, nó đều làm hạn chế, suy yếu
Thậm chí tước đoạn tài sản tư hữu
Làm suy yếu quyền tự do của doanh nghiệp
Khuếch trương quyền lực của chính phủ
Tiếp cận tới chủ nghĩa xã hội
Thủ đoạn sử dụng cũng bao gồm thu thuế cao, phúc lợi cao
Và nhà nước tích cực can thiệp vào nền kinh tế một cách toàn diện
Mục 1.1. Thu thuế cao và phúc lợi cao ở các quốc gia phát triển phương Tây
Một đặc điểm quan trọng của nền kinh tế chủ nghĩa Cộng sản
Chủ nghĩa xã hội ở các quốc gia phương Tây là chế độ phúc lợi cao
Những quốc gia phát triển phương Tây thực thi chính sách phúc lợi cao
Khiến cho những người đến từ các quốc gia Cộng sản cảm thấy
Những chính sách đó rất giống với chủ nghĩa Cộng sản
Mục 1.1.1 Chủ nghĩa xã hội biến tướng
Bản thân chính phủ không tạo ra giá trị
Ví như lông dê phải mọc trên thân con dê
Nguồn tiền để thực hiện phúc lợi cao đến từ các khoản thuế
Hoặc các khoản nợ của quốc gia
Rốt cuộc thì người dân đều phải trả
Nợ quốc gia cuối cùng cũng do người nộp thuế trả
Chẳng qua thời gian trả chậm hơn
Phúc lợi cao chính là hình thức chủ nghĩa xã hội biến tướng
Chỉ có điều xã hội phương Tây không diễn ra cách mạng bạo lực của Đảng Cộng sản mà thôi
Thu thuế cao đồng nghĩa với việc cưỡng chế chuyển giao
Một lượng lớn tài sản của tư nhân vào tay nhà nước
Để nhà nước thống nhất tiến hành hoạt động kinh tế và phân phối lại tài sản
Thực chất nó là hình thức biến tướng
Dần dần tiến đến xóa bỏ tài sản tư hữu
Chính sách thu thuế cao so với chế độ công hữu
Và chủ nghĩa bình đẳng của chủ nghĩa Cộng sản
Tuy khác nhau về hình thức nhưng đều có cùng một mục đích
Điểm khác biệt giữa hai hình thức này
Chỉ là việc nhà nước chiếm hữu tài sản
Xảy ra trước hay sau quá trình sản xuất mà thôi
Trong chế độ công hữu của chính quyền Cộng sản
Tư liệu sản xuất do nhà nước trực tiếp nắm giữ
Còn trong chính sách thu thuế cao ở các quốc gia phương Tây
Tư liệu sản xuất do cá nhân nắm giữ
Nhưng tài sản làm ra lại bị nhà nước chiếm hữu
Thông qua hình thức thu thuế cao
Sau đó được phân phối lại trở thành tài sản công cộng
Hai hình thức này kỳ thực đều tương đương với việc
Tước đoạt tài sản của người khác
Chỉ có điều cách làm của nhà nước phương Tây
Không bạo lực như nhà nước Cộng sản
Mà được tiến hành một cách hợp pháp
Thông qua bầu cử và pháp luật
Sự trợ giúp của chính phủ
Nhất là trợ giúp xã hội trong những sự cố ngoại
Y muốn hay thiên tai là hoàn toàn hợp lý
Chính vì chế độ phúc lợi có mặt tích cực
Nên nó mới có khả năng mê hoạt người ta
Tạo cái cớ để tà linh Cộng sản lợi dụng
Không ngừng thúc đẩy chính sách thu thuế cao và phúc lợi cao
Về mặt này phúc lợi cao đã đạt được mục đích phá hoại con người
Xã hội và đạo đức tương tự như nền kinh tế chủ nghĩa Cộng sản
Bản thân nền kinh tế chủ nghĩa Cộng sản tự nhiên có tính hủy hoại nhân tính
Dựa trên việc con người phải đấu tranh sinh tồn về khía cạnh kinh tế
Từ đó kích thích mặt ác của con người
Làm bại hoại đạo đức con người
Đây chính là nguyên nhân căn bản khiến tà linh muốn tìm cách thúc đẩy
Các quan điểm kinh tế của chủ nghĩa Cộng sản phát triển ra toàn thế giới
Bao gồm cả các nước theo chính quyền Cộng sản và các xã hội tự do
Mục 1.1.2 Thực trạng chính sách thu thuế cao
Chế độ phúc lợi cao của các quốc gia phát triển phương Tây
Đòi hỏi một nguồn tài chính lớn
Nếu không có chính sách thu thuế cao
Cũng chính là không có sự chuyển dịch một lượng lớn tài sản tư hữu sang công hữu
Thông qua việc nộp thuế hoặc các khoản nợ chính phủ
Thì chính sách phúc lợi cao sẽ không thể thực hiện được
Ví dụ ở Mỹ, quá nửa số thuế thu được dành cho phúc lợi xã hội và y tế
Nhưng số thuế này đến từ đâu?
Hơn 80% nguồn thuế đến từ thuế thu nhập cá nhân và thuế an toàn xã hội
Còn 11% đến từ thuế thu nhập doanh nghiệp
So với Mỹ thì chế độ phúc lợi xã hội ở rất nhiều quốc gia phương Tây còn cao hơn nhiều
Tất nhiên cũng đòi hỏi thu thuế cao hơn nữa
Theo số liệu thống kê năm 2016 của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế Quốc tế
Trong số 35 quốc gia có nền kinh tế thị trường
Thì có 27 quốc gia có thuế xuất thu nhập lao động lớn hơn 30%
Cao nhất là 54%
Xếp thứ 2 là 49,4%
Đa phần đều ở các nước châu Âu
Đồng thời, khi ăn uống và mua sắm ở châu Âu
Người tiêu dùng còn phải chịu thuế giá trị gia tăng
Có quốc gia có thuế giá trị gia tăng lên đến 20%
Nếu tính thêm thuế thu nhập doanh nghiệp
Và các loại thuế lặt vặt khác
Thì tổng mức thuế xuất sẽ còn cao hơn nữa
Một nghiên cứu khác chỉ ra rằng
Khoảng những năm 1900
Người dân ở nhóm 20 quốc gia có nền kinh tế phát triển
Chỉ phải đột thuế rất thấp
Ví dụ thuế xuất cao nhất ở Ý những năm 1900 là 10%
Nhật Bản và New Zealand là 5%
Tuy nhiên, đến những năm 1950
Thuế xuất cao nhất bình quân ở 20 quốc gia này đã vượt qua 60%
Sau đó dần hạ xuống còn khoảng 40% ngày nay
Chính sách thu thuế cao không chỉ nhắm vào người giàu
Nó cũng trực tiếp hoặc gián tiếp nhắm vào người nghèo
Người giàu thường có nhiều biện pháp
Hơn thông qua thương mại và các biện pháp khác
Để hợp thức hóa việc trốn thuế
Nhưng người nghèo khi thu nhập tăng lên
Lại có nguy cơ mất đi một số phúc lợi xã hội
Trong một phạm vi thu nhập nhất định
Thậm chí càng làm việc nhiều thì càng phải nộp thuế nhiều
Mà phúc lợi nhận được càng ít đi
Mục 1.1.3 Thực trạng chính sách phúc lợi cao
Năm 1942, nhà kinh tế học người Anh William Belfast
Đã đề xuất chủ trương xây dựng chính sách phúc lợi quốc gia
Vạch ra một hệ thống an sinh xã hội toàn diện và phổ quát
Mang lại lợi ích cho tất cả các công dân
Chế độ phúc lợi cao của xã hội hiện đại
Đã mở rộng thành một hệ thống bao trùm rất nhiều phương diện
Như thất nghiệp, y tế, dưỡng lão, tai nạn lao động
Nhà ở, giáo dục, chăm sóc trẻ em v.v
Vượt ra khỏi phạm vi truyền thống
Là việc làm từ thiện có tính khẩn cấp
Nhằm giải quyết những vấn đề khó khăn tạm thời
Một báo cáo của Quỹ Di sản Mỹ cho thấy
Năm 2013, có 100 triệu người Mỹ chiếm một phần ba dân số
Được nhận các khoản phúc lợi
Không bao gồm bảo hiểm an toàn xã hội
Và bảo hiểm y tế liên bang
Bình quân mỗi người nhận mức trợ cấp tương đương 9.000 USD
Theo số liệu công bố của Cục Thống kê Mỹ năm 2016
Số người sống dưới mức nghèo khổ chiếm 12,7% dân số Mỹ
Tuy nhiên, mức sinh hoạt của những người nghèo ở Mỹ
Có thể còn sẽ khiến nhiều người phải giật mình hơn nữa
Theo điều tra của chính phủ
Trong những gia đình nghèo này
96% cha mẹ nói rằng con cái của họ chưa từng bị đói
49,5% số gia đình sống trong những căn nhà một hộ
40% số gia đình sống trong những căn nhà phố liền kề
Chỉ có 9% số gia đình sống trong những căn nhà lưu động
80% số gia đình có điều hòa
40% số gia đình có tivi tình thể lỏng
3,4% số gia đình có xe hơi
Số lượng đông đảo những người nghèo này
Lại là cái cớ để chính phủ mở rộng thêm phúc lợi xã hội
Trong các nước thành viên của OECD
Mỹ là nước có chính sách phúc lợi thấp hơn mức trung bình
Phần lớn người dân ở các nước Bắc Âu và Tây Âu
Được hưởng chính sách phúc lợi cao hơn rất nhiều so với người dân Mỹ
Ví dụ, hệ thống an sinh suốt đời ở Đan Mạch
bao gồm chăm sóc y tế miễn phí, giáo dục đại học miễn phí
và các khoản tiền phúc lợi lớn
Ngay cả những công dân giàu có nhất cũng được hưởng phúc lợi
Trước khi kinh tế Hy Lạp xảy ra khủng hoảng
thì người Hy Lạp cũng được hưởng phúc lợi cao
Một năm được lĩnh 14 tháng lương
61 tuổi có thể nghỉ hưu
Lương hưu lên đến hơn 90% mức lương khi còn công tác
Người Thụy Điển có thể nghỉ ốm lâu nhất là 550 ngày liên tục v.v
Việc biến chế độ phúc lợi
từ biện pháp hỗ sợ khẩn cấp cho người nghèo
có tính tạm thời theo quan niệm truyền thống
trở thành lợi ích toàn dân được hưởng
Kỳ thực đây là thủ đoạn mà Tà Linh dùng
để tiến dần đến thực hiện nền kinh tế chủ nghĩa Cộng sản
Mục 1.1.4
Ma Quỷ lợi dụng chính sách phúc lợi cao
để làm văng hoại đạo đức
và làm gia tăng mâu thuẫn giữa người giàu và người nghèo
Nhìn từ góc độ kinh tế
bản chất của chính sách phúc lợi quốc gia
là lấy tiền của một số người đưa cho một số người khác tri tiêu
Nhưng do chính phủ đóng vai trò trung gian
là người phân phối lại tài sản
khiến cho những người hưởng phúc lợi
ngày càng coi nhẹ giá trị đạo đức
trở thành những người không làm mà hưởng
Về phương diện này
chế độ phúc lợi cao đã gây nên sự văng hoại đạo đức
rõ rệt ở các nước Bắc Âu
Nhà xã hội học người Thụy Điển
Nima Sanadaji
đã chỉ ra vấn đề này qua những số liệu điều tra
về giá trị quan của thế giới
Vào đầu những năm 80 của thế kỷ trước
có 82% người Thụy Điển
và 80% người Na Uy
đồng ý rằng
việc nhận những khoản phúc lợi xã hội
mà chúng ta không nên nhận là không đúng
Nhưng cuộc điều tra tiến hành năm 2005
và năm 2008
lại cho thấy rằng
chỉ có 56% người Na Uy
và 61% người Thụy Điển tin rằng
việc hưởng những khoản phúc lợi xã hội
mà bản thân không nên được hưởng
là không đúng
Dưới thác động của chính sách phúc lợi xã hội
người ta nhận được ít thành quả
do bản thân nỗ lực làm việc hơn
Chính sách phúc lợi khuyến khích
mọi người sống dựa vào phúc lợi của chính phủ
Theo thời gian, quan niệm đạo đức
của con người đã trở nên biến dị
một cách vô thức
Sau mấy thế hệ, những người trưởng thành
trong chế độ phúc lợi, rất nhiều người đã dần dần
mất đi tinh thần tự thân phấn đấu
độc lập, chịu trách nhiệm
cần cù của ông cha mình
Họ coi việc thụ hưởng phúc lợi trở thành
một loại quyền lợi, thậm chí thành
một loại nhân quyền. Họ đã dưỡng thành
thói quen lệ thuộc vào chính phủ
thậm chí còn đòi hỏi ngược lại chính phủ
Quan niệm của con người đã thay đổi
gần như không thể quay lại
quan niệm trước đây được nữa
Đây chính là thủ đoạn nước ấm nấu ếch
Nước ấm luộc ếch là câu chuyện ngộ ngôn
của Trung Quốc. Khi thả con ếch
thẳng vào nồi nước nóng, nó sẽ
lập tức nhảy ra. Nhưng nếu thả vào
nồi nước lạnh rồi từ từ đun nóng
con ếch sẽ chết từ từ mà không biết
Ma Quỷ lợi dụng chính sách
phúc lợi cao để dần dần làm
Không chỉ vậy, chế độ phúc lợi cao
còn tước đoạt đi quyền được làm việc thiện
của những người làm từ thiện truyền thống
và cũng tước đoạt đi cơ hội cảm ơn
của những người nhận từ thiện
Phương thức giúp đỡ người nghèo
trong xã hội truyền thống là do cá nhân
tự quyết định. Cá nhân mỗi người
xuất phát từ sự cảm thương mà
trực tiếp hỗ trợ những người cần sự giúp đỡ
Hoặc cá nhân quyên góp cho
những tổ chức từ thiện như giáo hội
sau đó thông qua các tổ chức từ thiện
Trong tình huống này, người cho tặng
và người nhận đều rõ ràng
Người nhận vốn dĩ không có quyền
yêu cầu người khác cứu trợ mình
Nhưng khi nhận được sự giúp đỡ
họ sẽ mang lòng biết ơn đối với
người cho tặng mình. Lòng biết ơn này
có thể khiến họ sau này nỗ lực thay đổi
hoàn cảnh, bởi vì đó là tâm nguyện
của người quyên tặng. Cũng có thể
sau này, khi cuộc sống tốt lên
họ sẽ quay lại làm việc thiện để
giúp đỡ xã hội. Họ cũng sẽ trở thành
người cho tặng hoặc sẽ dùng cách nào
đó để báo đáp người đã cho tặng mình
Tô Cơ Vin, nhà tư tưởng
người Pháp đã quan sát thấy rằng
trong hành động đạo đức truyền thống
tức là hành động làm từ thiện của cá nhân
sự cho đi và lòng biết ơn trong
xã hội có tính bổ trợ cho nhau
có tác dụng tích cực nâng cao đạo đức
của toàn xã hội. Mối quan hệ tình cảm
hai chiều này đồng thời cũng có thể
hóa giải mâu thuẫn và sự đối lập
giữa người giàu và người nghèo
bởi vì việc làm từ thiện của cá nhân
giúp liên kết hai giai tầng xã hội
thông qua tình cảm và lợi ích
Chế độ phúc lợi cao ngày nay
đã cắt đứt mối liên hệ giữa
người cho tặng và người nhận. Một mặt
người cho tặng bị cưỡng ép phải nộp thuế
mà không xuất phát từ thiện tâm
muốn cho tặng. Trên thực tế
họ bị cưỡng đoạt quyền được bố thí
hành thiện. Mặt khác
người nhận không biết ai là người cho tặng
bản thân chế độ phúc lợi quốc gia
không phải là người cho tặng thực sự
người cho tặng thực sự là người nộp thuế
do vậy họ cũng không có
lòng biết ơn. Ngoài ra
Tóc Qua Vinh còn chỉ ra rằng
chế độ phúc lợi làm gia tăng mâu thuẫn
giữa người giàu và người nghèo.
Người giàu bị cưỡng chế giao nộp một phần
tài sản nhưng lại không thể được gặp
trực tiếp người được cứu trợ mà đồng cảm
với họ. Ngược lại
họ chỉ cảm thấy oán hận và khinh miệt
những người ở giai tầng đói nghèo
coi những người này là những kẻ xa lạ
tham lam. Đồng thời
trong tâm người nghèo cũng sẽ nảy sinh sự
bất mãn bởi vì sự cứu trợ
về vật chất được coi là việc đương nhiên
nhưng lại không thể giúp người ta no đủ.
Một giai cấp nhìn thế giới
bằng con mắt sợ hãi và thù hận
còn giai cấp kia lại nhìn
những bất hạnh của bản thân bằng một con mắt
thất vọng và đấu kỷ.
Kích động lòng đấu kỷ và đấu tranh
chế độ phúc lợi cao chính là
một trong những thủ đoạn của Tà Linh để hủy
hoài con người. Mâu thuẫn này
biểu hiện vô cùng rõ rệt khi cuộc khủng hoảng
kinh tế Hi Lạp xảy ra. Tuy vậy
đó không phải là mâu thuẫn giữa người giàu nhất
và người nghèo nhất mà là mâu thuẫn
giữa đa số những người ở tầng lớp trung lưu
và người giàu. Ở Hi Lạp
người ta không muốn đóng thuế cao
toàn dân trốn thuế nghiêm trọng.
Báo The Economist nói
giới quan chức Hi Lạp gọi trốn thuế
là phòng trào toàn dân.
Một khi nền kinh tế có vấn đề
vấn nạn người giàu trốn thuế lại càng nhức nhối hơn.
Chính phủ Hi Lạp vì không muốn
làm mất lòng cử tri nên suốt một
thời gian dài đã phát hành trái phiếu
để bù đắp cho những thâm hụt ngân sách
do việc thu thuế không đủ
để duy trì mức phúc lợi cao ngang bằng
với các nước thành viên khác trong Liên minh châu Âu.
Sau khi khủng hoảng xảy ra
khi chính phủ cần phải giảm phúc lợi
thì một làn sóng bất mãn
của những người dân vốn đã quen được nuôi chiều
bằng phúc lợi cao bùng phát
trên quy mô lớn. Dân chúng
chỉa mũi nhọn vào những người giàu. Họ yêu cầu
phải thu thế nhiều hơn từ những người giàu.
Rốt cuộc là tầng lớp
giàu có hay tầng lớp trung lưu
phải chịu trách nhiệm cho cuộc khủng hoảng
kinh tế này. Đây là một vấn đề
khiến chính phủ phải đau đầu.
Nhưng cho dù thế nào, Đà Linh đã đạt được
mục đích của nó là phá hoại
đạo đức con người và xúi dục
những nhóm người thù hận đấu tranh lẫn nhau.
Chế độ phúc lợi
thúc đẩy quan niệm không làm mà hường.
Điều này sẽ làm giảm đi tinh thần
nỗ lực và làm việc và tích cực
phấn đấu của xã hội. Nó cũng sẽ
khiến nền kinh tế bị tổn thương.
Ba nhà kinh tế học gồm
đã tiến hành phân tích
những tác động thực tế của chế độ phúc lợi
xã hội và đưa ra số liệu
chứng minh chế độ phúc lợi chắc chắn
sẽ làm suy yếu động lực phát triển
của xã hội. Mà tác động này
phải sau một thời gian rất lâu dài
mới có thể thực sự biểu hiện ra.
Họ kết luận rằng chế độ
phúc lợi xã hội sẽ phá hủy đi
nền tảng kinh tế của chính quốc gia đó.
Mục 1.1.5
Chế độ phúc lợi tạo nên văn hóa
đói nghèo. Năm 2012
thời báo New York
The New York Times đã đăng bài báo
với tiêu đề việc kiếm lợi bằng cách
không cho trẻ biết chữ. Kể
một câu chuyện đau xót mà chế độ
phúc lợi ở Mỹ ngày nay gây ra cho
những gia đình đói nghèo.
Rất nhiều gia đình đói nghèo sống trong
những căn nhà lưu động ở chân núi
Appalachian. Những phụ huynh này đã
bắt con gái họ phải vào học vì
lo lắng rằng nếu các em đi học sẽ
biết đọc và gia đình họ sẽ
không đủ điều kiện để nhận trợ cấp
mù chữ mỗi tháng nữa. Những
gia đình nghèo này nhận được một khoản
tiền trợ cấp 698 đô la
Mỹ mỗi tháng từ chương trình phụ cấp
an sinh cho đến khi đứa trẻ
được 18 tuổi. Chỉ vì khoản
trợ cấp trước mắt mà đã khiến các
bậc cha mẹ này hy sinh cả cơ hội
học hành của con cái. Khoảng
40 năm trước chương trình này đã trợ cấp
cho những gia đình có trẻ em thực sự
bị khuyết tật về mặt trí tuệ
hoặc sinh lý. Tuy nhiên hiện nay
hơn 55% số trẻ em
khuyết tật được nhận trợ cấp không
thể xác định rõ ràng có là người
chậm phát triển trí tuệ hay không. Toàn
nước Mỹ có 1,2 triệu trẻ em
như vậy và cần 9 tỷ đô la
Mỹ tiền trợ cấp mỗi năm từ
những người nụ thuế. Ở đây
chính sách phúc lợi và sự tham
làm của con người thúc đẩy lẫn nhau.
Điều này tất nhiên không phải là ý định ban đầu
của những người đề xuất chính sách phúc lợi
nhưng họ đã gián tiếp trợ giúp cho
mà quỷ đạt được mục đích hủy hoại
con người của nó.
100 năm trước, Toccovill đã
dự báo rằng chế độ phúc lợi sẽ không
thể phân biệt được đúng đối tượng nào
cần trợ cấp. Tức là không
phân biệt được người nhận trợ cấp bị rơi
vào cành đói nghèo là do họ không
nỗ lực vươn lên hay do họ
thực sự gặp bất hạnh. Vì thế
nó cũng không thể giúp đỡ một cách
có hiệu quả những người thật sự cần
giúp đỡ. Xét từ khía cạnh
kinh tế, việc lạm dụng chính sách
phúc lợi sẽ gây nên gánh nặng
tài chính. Nhưng đối với những trẻ em
nghèo mà nói, chế độ phúc lợi mang
đến những bị kịch còn lớn hơn.
Nghiên cứu năm 2009 cho thấy
2 phần 3 số trẻ em nghèo
khi đến 18 tuổi đều trở thành những
người thụ hưởng từ chương trình trợ cấp an sinh
dành cho người trưởng thành tàn tật.
Cũng có nghĩa là suốt đời
họ sẽ không thể thoát khỏi cảnh
đói nghèo. Dưới chế độ phúc lợi
định nghĩa tàn tật không ngừng được
mở rộng. Các chính khách vì để lấy
lòng cử tri mà không ngừng khuếch chương
chế độ phúc lợi. Tuy nhiên
mặt trái của chế độ phúc lợi lại dẫn đến
lạm dụng phúc lợi, dẫn đến
suy thoái đạo đức xã hội và nảy sinh
nhiều vấn đề kinh tế. Đây là
sự cố ý ăn bài của Tà Linh.
Phúc lợi xã hội có thể được xem
là một biện pháp cứu trợ khẩn cấp
nhưng không nên sử dụng thường xuyên.
Phúc lợi xã hội có thể trợ giúp đối với
những người gặp tai nạn do nguyên
nhân ngoại ý muốn như
nhưng nó không thể giải quyết tận gốc
vấn đề đói nghèo. Lấy ví dụ
nước Mỹ tính đến năm 2014
trong vòng 50 năm.
Từ khi Tổng thống Mỹ Johnson bắt đầu
cuộc chiến chống đói nghèo, nước Mỹ
đã tiêu tốn 2,2 nghìn tỷ đô la Mỹ
thu từ người nục thuế.
Nhưng số liệu của Cục Thống kể Mỹ cho thấy
ngoại trừ hơn 10 năm đầu tiên
tỷ lệ người nghèo ở Mỹ trong gần
40 năm qua cơ bản được duy trì ổn định.
Tỷ lệ nghèo không hề giảm xuống
nhờ các chương trình cứu trợ.
Nhà kinh tế học người Mỹ
William Anthony Kenner
chỉ ra rằng chế độ phúc lợi là nguyên nhân
gây ra văn hóa đói nghèo.
Văn hóa đói nghèo bao gồm
đói nghèo, sống lệ thuộc vào phúc lợi,
quan hệ tình dục ngoài hôn nhân,
tội phạm, bạo lực, thất nghiệp,
nạo phá thai v.v.
Nghiên cứu thực tiễn của Nicholas cho thấy
trong chương trình trợ cấp những gia đình
có trẻ em phụ thuộc, nếu
số tiền hỗ trợ tăng thêm 1%,
sẽ thu hút thêm số người nhận hỗ trợ
tăng 3%, số người nghèo
sẽ tăng 0,8%,
tỷ lệ trẻ em sinh bởi những phụ nữ
không kết hôn tăng 2,1%,
đồng thời số ca nạo phá thai
và số vụ phạm tội bạo lực
cũng tăng lên tương ứng. Điều này
chứng tỏ rằng chính sách phúc lợi cao ngược lại
khiến con người ỉ lại vào phúc lợi
mà thiếu đi tinh thần trách nhiệm.
Một hậu quả quan trọng
của văn hóa đói nghèo là làm tan
vỡ gia đình. Nhà kinh tế học
Wester E. William
khi tìm hiểu lịch sử và thực trạng
vấn nạn đói nghèo của những người da đen ở Mỹ
đã chỉ ra rằng 85%
trẻ em người da đen sinh ra
trong những gia đình mẹ đơn thân.
Đây là nguyên nhân quan trọng dẫn đến
tỷ lệ nghèo trong cộng đồng người da đen.
Mà chế độ phúc lợi cao
lại chính là thủ phạm tiếp tay,
khiến những người mẹ đơn thân không phải chịu
trách nhiệm cho những hành động sai lầm của họ.
Ngược lại, họ còn nhận được
các khoản phụ cấp nhà ở,
thực phẩm và các khoản tiền trợ cấp khác
từ phúc lợi xã hội.
Phúc lợi trở thành trợ thủ đắc lực
làm tỷ lệ sinh con không kết hôn tăng cao,
làm tăng số lượng người nghèo.
Mặc dù mức phúc lợi
không ngừng tăng lên nhưng khoảng cách
người giàu nghèo ở Mỹ vẫn không ngừng
mở rộng suốt 30 năm qua.
Thu nhập bình quân không tính yếu tố lạm phát
tăng trường trậm, tài sản
chảy vào tầng lớp giàu có nhất,
thậm chí xuất hiện nghề làm nghèo.
Càng như vậy thì các đảng phải cánh tả
lại càng lấy việc giải quyết vấn đề
người nghèo làm cái cớ để thúc đẩy
mở rộng chính phủ.
Thu thuế cao, phúc lợi cao,
từ đó khiến xã hội rơi vào cái vòng luận quần.
Mục 1.1.6
Phe cánh tả
sử dụng chính sách phúc lợi để
biến dân chúng thành kho phiếu bầu.
Các chính khách phe cánh tả
thường đưa ra những lý do nghe có vẻ
cao thượng như cứu trợ người nghèo,
công bằng xã hội để
cổ suý cho chính sách phúc lợi cao,
hoặc thu thuế cao nhằm đánh bóng
tên tuổi của họ. Kỳ thực,
bản thân họ không phải là người ban phát
phúc lợi, họ chẳng qua chỉ là lấy
tài sản của tầng lớp giàu có và
trung lưu cấp cho người nghèo mà thôi.
Tuy nhiên, sau khi chính sách phúc lợi
làm rối loạn mối quan hệ giữa
cho và nhận, những người chủ trương
và quy định ra chính sách phúc lợi này
lại dẫn dắt những người nhận phúc lợi
hướng sự cảm ơn và báo đáp
đến chính họ. Bằng cách bỏ phiếu
bầu cho họ, lợi dụng chính sách
phúc lợi cao để biến quần chúng
thành kho phiếu bầu cho mình. Đây
là hiện tượng phổ biến ở Mỹ
và châu Âu.
Mục 1.2 Các quốc gia
phương Tây tích cực can thiệp vào
lĩnh vực kinh tế. Mục 1.2.1
Sự can thiệp
kinh tế của nhà nước. Nhìn
vào thực trạng hiện nay có thể thấy chính phủ
ở các xã hội tự do cũng đã
can thiệp rất sâu vào lĩnh vực kinh tế.
Một mặt là vì dưới
sự ảnh hưởng của chính sách phúc lợi theo
hình thái ý thức của chủ nghĩa xã hội.
Chính phủ ngày nay càng nắm quyền
phân phối tài sản. Mặt khác,
xã hội phương Tây sau cuộc khủng hoảng kinh tế
trong những năm 30 thế kỷ trước
đã chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của học thuyết
kinh tế Keynes khuyến khích nhà nước
sử dụng chính sách tiền tệ và tài khoá
để điều hành nền kinh tế.
Trong xã hội bình thường,
nhà nước có vai trò hữu hạn trong nền kinh tế.
Thông thường, nhà nước chỉ
can thiệp vào nền kinh tế khi xảy ra
cuộc khủng hoảng, tài họa do tự nhiên
hoặc trong một thời kỳ đặc thù
hay tình huống đặc thù nào đó.
Điều này là bình thường. Nhưng hiện nay,
chủ nghĩa Keynes đã trở thành
một loại trào lưu thời thượng.
Chính phủ các nước đua nhau tích cực
theo đuổi chính sách can thiệp vào nền kinh tế.
Khi chính phủ can thiệp toàn diện vào kinh tế,
nhất cử nhất động của nó đều có
ảnh hưởng to lớn đến thị trường,
trở thành nhiệt kế đo biến động của nền kinh tế.
Rất nhiều chính sách pháp luật
trực tiếp quyết định sự thành bại của doanh nghiệp
hoặc ngành kinh doanh nào đó
dẫn đến rất nhiều doanh nghiệp và nhà đầu tư cá nhân
phải quan sát động thái của chính phủ
để hoạt động. Từ vai trò thông thường
là người đặt ra các quy định
và người giám sát việc thực hiện quy định,
nay, chính phủ lại trở thành
người chỉ đạo và tham gia vào hoạt động kinh tế.
Từ vai trò trọng tài,
giờ đây trở thành người vừa đà bóng,
vừa thổi còi. Chính phủ sử dụng
nguyên tắc bàn tay hữu hình
thay cho nguyên tắc bàn tay vô hình,
trở thành người chỉ huy và người điều khiển
sự vận hành của dòng vốn và thị trường,
trở thành người thay thế
cho chủ thể nền kinh tế tư nhân.
Chính sách tài khoá và chính sách
phúc lợi cao khiến cho rất nhiều chính phủ
phải gánh những món nợ lớn.
Theo số liệu từ Tổ chức Hợp tác Kinh tế Quốc tế
OECD, có đến gần
một nửa số quốc gia có tỉ lệ
nợ lên đến 100% GDP,
thậm chí lớn hơn,
có quốc gia tỉ lệ nợ thậm chí còn
vượt quá 200% GDP.
Thâm hột tài khoá lớn
đã trở thành hiểm họa tiềm ẩn
trong sự phát triển kinh tế và xã hội
của rất nhiều quốc gia.
Nhà kinh tế học đoạt giải Nobel Kinh tế
Ronald Quest đã công bố rất nhiều
luận văn nghiên cứu về sự can thiệp
của chính phủ vào nền kinh tế
và hiệu ứng của nó.
Ông phát hiện gần như tất cả sự can thiệp
vào lĩnh vực kinh tế đều gây ra những hiệu ứng tiêu cực.
Ông cho rằng sự can thiệp quá lớn
của chính phủ đã đạt đến cái
mà các nhà kinh tế học gọi là
Mặc dù vậy, người ta vẫn thấy rằng
bất kể quốc gia nào cũng đang ngày càng
tích cực can thiệp vào nền kinh tế.
Khả năng can thiệp của chính phủ
đã đạt đến mức không thể tưởng tượng nổi.
Chính phủ sử dụng quyền lực để can thiệp
vào nền kinh tế đã gây hậu quả tối thiểu
ở hai phương diện sau.
Thứ nhất, quyền lực vai trò
và quy mô của chính phủ ngày càng mở rộng.
Các quan chức ngày càng cho rằng
mình có khả năng can thiệp vào nền kinh tế.
Để chính phủ vào vai chúa cứu thế,
rồi lại càng tích cực can thiệp
vào kinh tế hơn.
Dù khi đối phó với khủng hoảng,
một khi chính phủ đã ra tay xử lý vấn đề,
thì cho dù khủng hoảng không còn,
nhưng chính phủ vẫn không nơi lỏng
sự can thiệp của mình.
Thứ hai, con người sẽ ngày càng
ỉ lại vào quyền lực của chính phủ
khi người ta gặp vấn đề khó khăn
hoặc không thể đạt được lợi ích như kỳ vọng
trên thị trường tự do cạnh tranh.
Họ sẽ yêu cầu chính phủ can thiệp nhiều hơn
để thỏa mãn yêu cầu của bản thân họ.
Điều này tạo thành cái vòng luận quần,
khiến quyền lực của chính phủ
ngày càng lớn, không gian cho doanh nghiệp
tư nhân và thị trường tự chủ
ngày càng thu hẹp.
Sản xuất sẽ mang tính phụ thuộc
và những người lợi dụng các chính khách để trục lợi
sẽ yêu cầu chính phủ phải phân phối tài sản nhiều hơn,
thậm chí đặt ra các quy định pháp luật
Ở phương Tây,
một trào lưu chính trị mạnh mẽ
đang khiến xã hội nghiêng sang phía cánh tả.
Một số chính trị gia vốn thuộc phe cánh tả
là tàn dư của chủ nghĩa xã hội,
chủ nghĩa cộng sản.
Một số chính trị gia vốn không thuộc phe cánh tả
nhưng bị phe cánh tả cứng ép gia nhập
cũng trở thành đồng minh của phe cánh tả.
Các thế lực này đã hợp sức nhau
thúc ép chính phủ sử dụng các biện pháp
can thiệp vào kinh tế,
can thiệp vào hoạt động của các doanh nghiệp tư nhân,
ăn mòn hoạt động kinh tế
bình thường của nhân loại,
khiến nhiều phong trào xã hội nhìn bề ngoài
giống như hành vi tự phát của người dân
nhưng kỳ thực đều chịu nhận sự thao túng
của toàn lĩnh cộng sản đằng sau.
Mọi người có thể thấy rằng
chính phủ phương Tây đã ngày càng thường xuyên
dùng lý do chính trị và bình đẳng,
sử dụng quyền lực công để can thiệp vào thị trường,
thậm chí dùng pháp luật
để cố định việc can thiệp.
Không nghi ngờ gì, điều này đã cướp đoạt
ý chí tự do của con người
vốn là chủ thể của nền kinh tế thị trường
áp đặt ý chí của quốc gia
lên thị trường.
Thực tế, đây là quá trình liên tục hình thành
sự tập trung quyền lực của chính phủ lên nền kinh tế,
biến nền kinh tế thị trường
trở thành nền kinh tế quyền lực,
khiến thị trường phụ thuộc vào quyền lực.
Về lâu dài, quyền lực chính phủ công
sẽ khống chế mọi mặt của nền kinh tế
và đời sống của người dân,
dùng thủ đoạn kinh tế để xây dựng
chính trị tập quyền, nô dịch công dân
và toàn xã hội.
Mỗi chính sách về kinh tế nhìn bề ngoài
có vẻ bình thường, nhưng trong quá trình
lâu dài dần dần đi đến cực đoan.
Cứ như vậy, ta linh cộng sản
đang từng bước dẫn dắt nhân loại hướng
đến chủ nghĩa cộng sản.
Mục 1.2.3
Nền kinh tế chủ nghĩa xã hội sẽ dẫn đến
chủ nghĩa cực quyền.
Chính sách thu thuế cao, phúc lợi cao,
sự can thiệp sâu của chính phủ
chính là việc thực hiện chủ nghĩa xã hội
dưới chế độ chủ nghĩa tư bản ở phương Tây.
Nó phù hợp với tư tưởng
cốt lõi của nền kinh tế kế hoạch,
đều lấy danh nghĩa và quyền lực của chính phủ
để thao túng kinh tế.
Nó coi chính phủ là đứng toàn năng,
coi chính phủ như thần. Điểm khác biệt
là hiện nay sự can thiệp của chính phủ
ở phương Tây còn chịu ước chế
bởi lực lượng tự do trong dân chúng.
Thêm vào đó là chế độ chủ nghĩa tư bản
cho nên nó không có
biểu hiện cực đoan như nền kinh tế kế hoạch
ở các quốc gia cộng sản.
Nhà kinh tế,
nhà tư tưởng nổi tiếng Hark
đã từng cảnh báo bất cứ kế hoạch
tái phân phối nào do chính phủ thao túng
và thực hiện trên quy mô lớn,
trên thực tế đều sẽ can thiệp vào thị trường
và tất nhiên cũng đều dẫn đến
thể chế chính trị cực quyền.
Mà điều này không liên quan gì tới dân chủ.
Ông cho rằng, chủ nghĩa xã hội
ở ông Mỹ hiện nay tuy rằng
có điểm khác biệt với chế độ công hữu
và kinh tế kế hoạch trước kia,
nó chủ yếu thông qua việc thu thuế
và chế độ phúc lợi xã hội
để tiến hành phân phối lại thu nhập
một cách rộng rãi.
Nhưng hình thức này cũng sẽ dẫn đến
hậu quả nô dịch giống như chế độ công hữu.
Chỉ có điều sẽ chậm hơn,
gián tiếp hơn và không toàn diện
như chế độ công hữu mà thôi.
Phần trước của cuốn sách này đã chỉ ra rằng
Marx, Angel và Lenin đều coi
chủ nghĩa xã hội là giai đoạn tất yếu
của chủ nghĩa cộng sản.
Giống như một đoàn tàu,
điểm dừng ở trạm trung chuyển
sẽ không ảnh hưởng đến điểm đến cuối cùng của nó.
Nhân tố đằng sau thúc đẩy
một quốc gia hướng đến chủ nghĩa xã hội
chính là tà linh cộng sản.
Nó nhất định sẽ liên tục tiến về phía trước.
Xã hội nhân loại với phương diện
kinh tế và các phương diện khác,
một khi quay lưng lại với truyền thống
và tiếp thu những giá trị quan của tà linh cộng sản,
đi theo đường tà,
thì không cần quan tâm tốc độ thế nào,
chỉ cần phương hướng không thay đổi
thì sớm muộn cũng sẽ đi đến điểm cuối của con đường.
Điểm cuối của con đường
khi đã rời xa truyền thống này
không phải là thiên đường nhân gian,
mà là hủy diệt nhân loại.
Trên thực tế, ma quỷ không hề quan tâm
thiên đường có thành hiện thực không.
Nó cũng biết đó chỉ là những lời dối trá
để lừa người.
Chỉ cần có thể hủy diệt nhân loại
thì ma quỷ đã mãn nguyện rồi.
Mục 2 Nền Kinh tế Trung Cộng
Mô hình kinh tế quái thai
của chủ nghĩa xã hội
Sau khi trải qua nghèo đói và thống khổ
do chế độ công hữu và nền kinh tế kế hoạch mang lại,
Trung Cộng đành phải thực hiện
cái gọi là cải cách mở cửa,
cũng gọi là kinh tế thị trường.
Rất nhiều người tưởng rằng Trung Cộng
đang thực hiện theo chủ nghĩa tư bản,
khi thực không phải.
Mục 2.1 Tan Linh Cộng sản không hề buông lỏng
sự khống chế đối với kinh tế Trung Quốc.
Trung Cộng bất đắc dĩ đành phải
cởi trói trong lĩnh vực kinh tế
để một bộ phận kinh tế bước vào
kinh tế thị trường và cho phép duy trì
một bộ phận kinh tế tư nhân nhất định.
Nhưng điều này không có nghĩa là
mà quỳ Cộng sản buông lỏng sự khống chế của nó.
Ngược lại, đây chỉ là thủ đoạn
mà Tan Linh lợi dụng để duy trì sự tồn tại
của bản thân nó và lừa dối
thế giới mà thôi.
Mô hình kinh tế Trung Cộng hoàn toàn là
một thứ quái thai, là sự kết hợp
kỳ dị giữa chủ nghĩa xã hội,
chủ nghĩa quốc gia và kinh tế thị trường.
Trên bề mặt, mặc dù nền kinh tế
có một bộ phận là doanh nghiệp tư nhân,
nhưng Trung Cộng lại chưa từng
thừa nhận quyền sở hữu
các tài sản vĩnh viễn của người dân.
Do đó, tất cả tài nguyên bao gồm
cả đất đai cơ bản vẫn thuộc sở hữu
nhà nước, thuộc nền kinh tế công hữu.
Đồng thời, Trung Cộng lợi dụng
quyền lực nhà nước để khống chế
tất cả cơ chế phận hành của nền kinh tế.
Nó vẫn tồn tại kế hoạch nhà nước
khổng lồ, vốn thuộc nền kinh tế
tập quyền. Thị trường
chỉ là thủ đoạn mà chính phủ dùng để
thúc đẩy kinh tế. Nó không có tính độc lập
thực sự, cũng không có cơ chế
phù hợp với thị trường, không minh bạch
về pháp lý và quyền sở hữu,
tỷ giá không được tự do biến động,
tài sản cũng không được tự do ra vào,
doanh nghiệp nước ngoài không được
tự do hoạt động. Để khuyến khích
xuất khẩu, chính phủ Trung Cộng đã đưa ra
chính sách hoàn thuế và giảm thuế
xuất khẩu cho doanh nghiệp, với mục
đích dùng giá thấp để đánh bại những
đối thủ cạnh tranh, gây nhiễu loạn
hoạt động ngoại thương bình thường của thế giới.
Mọi hoạt động kinh tế phải
phù hợp với yêu cầu của chính trị.
Hoạt động kinh tế và các tài nguyên
kinh tế của doanh nghiệp và cá nhân đều
phải phụ thuộc vào chính trị.
Chúng có thể bị chiếm đoạt bất cứ lúc nào
vì lý do chính trị. Chính vì
thấy được những nguyên nhân này nên
các nước theo kinh tế thị trường ở châu Âu
và Âu Mỹ vẫn luôn không thừa nhận
Trung Quốc có nền kinh tế thị trường.
Rất nhiều người trong chính phủ phương Tây
từng ngây thơ cho rằng sự phát triển
kinh tế sẽ mang lại tự do dân chủ
cho Trung Quốc về mặt chính trị.
Nhưng không may là Trung Cộng
chỉ dùng chất dinh dưỡng của chủ nghĩa tư bản
để nuôi lớn cơ thể chủ nghĩa xã hội.
Nó liều chết bám chặt lây bóng ma
của chủ nghĩa cộng sản. Trung Cộng
càng có nhiều tiền hơn thì lại càng
bức hại và đàn áp dân chúng tàn khốc hơn.
Bắt đầu từ tháng 7 năm 1999
Trung Cộng phát động
cuộc bức hại lên 100 triệu người
tu luyện Pháp Luân Công. Cuộc chiến
tranh không khói súng chống lại giá trị
phổ quát chân, thiệt, nhẫn
này vẫn tiếp diễn cho đến ngày nay.
Năm 2013
Trung Cộng đã tiêu tốn hơn 700 tỷ
nhân dân tệ làm cái gọi là
phí giữ vững sự ổn định để
trấn áp người dân.
Mục 2.2 Sự thực đằng sau
sự tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc
Sự tăng trưởng GDP của Trung Quốc
gần 40 năm qua khiến rất
nhiều người có vẻ như đã thấy được tính
ưu việt của nền kinh tế chủ nghĩa xã hội
khiến rất nhiều người phương Tây
bao gồm cả những người nổi tiếng trong giới
chính trị và học thuật phải thay đổi cách nhìn
phải khen ngợi hiệu quả của thể chế cực quyền
Thực ra, mô hình
kinh tế trung cộng không thể sao chép được
Nguyên nhân phát triển kinh tế của nó
một mặt đã chứng minh vấn đề nội tại
của nền kinh tế chủ nghĩa xã hội
mặt khác nó làm nội bật nguy cơ đáng sợ
gây ra bởi một nền kinh tế quyền lực
vô đạo đức
Sự tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc 40 năm qua
có liên quan mật thiết đến
một số phương diện nhân tố sau
Thứ nhất, sự nới lỏng chế độ
kinh tế công hữu, bãi bỏ nền
kinh tế kế hoạch hóa tập trung
ở Trung ương. Khôi phục nền kinh tế
tư nhân và doanh nghiệp tư nhân khiến cho
nền kinh tế Trung Quốc có động lực phát triển
mạnh mẽ. Người Trung Quốc cần cù,
thông minh nhưng bị đảng Cộng sản kìm kẹp
40 năm qua khiến họ trở nên
sợ đói nghèo. Một khi được giải phóng
thì mong muốn kiếm tiền tự nhiên
sẽ tạo thành sức mạnh vô cùng lớn
Thứ hai, vốn đầu tư
và kỹ thuật từ phương Tây ảo ạt chảy
vào Trung Quốc. Phần lớn bất đai
lao động và thị trường do thể chế công hữu
ban đầu của Trung Quốc tích lũy
có thể sử dụng được nhưng chưa được
khai phát tiềm năng. Giống như
mỏ vàng chưa được khai thác, kỹ thuật
được ví như củi, còn vốn đầu tư
được ví như dầu và lửa.
Hai thứ này kết hợp lại tạo thành ngọn lửa
lớn thổi bùng nền kinh tế Trung Quốc
Nếu không phải vì sự thống trị cực quyền
của Trung Cộng thì ngọn lửa này lẽ ra
phải cháy sớm hơn, thịnh vượng hơn
lâu dài và an toàn hơn
Nên kinh tế Trung Quốc lẽ ra
đã phát triển sớm hơn rồi
Dòng tiền từ các quốc gia phương Tây
chảy vào Trung Quốc có quy mô rất lớn
bên ngoài khó mà tưởng tượng được
Theo thống kê đầu tư trực tiếp của Mỹ
vào Trung Quốc từ năm 2000 đến năm 2016
đã lên đến gần
800 tỷ USD
Từ năm 1979 đến năm 2015
Trung Quốc thực tế đã sử dụng
tổng số tiền đầu tư nước ngoài
lũy kế lên đến 1642,3 tỷ USD
Thứ ba, các quốc gia phương Tây
còn dành cho Trung Cộng ưu đãi đặc biệt
về thương mại và thị trường rộng lớn
Tháng 5 năm 2000, Mỹ quyết định
bình thường hóa quan hệ thương mại vĩnh viễn
với Trung Quốc. Ngày 11 tháng 12
năm 2001, Trung Quốc
chính thức gia nhập tổ chức thương mại quốc tế
với KFTO. Thị trường quốc tế
đã mở rộng cửa với Trung Quốc
Thứ tư, nền kinh tế Trung Cộng
phát triển dựa trên cơ sở phi đạo đức
Họ bóc lột công nhân,
nông dân trong các công sưởng, lương thấp
điều kiện lao động tồi tệ,
cưỡng chế giải phóng mật bằng
một cách đẫm máu. Tất cả chỉ để mở đường
cho kinh tế phát triển, bất chấp
ô nhiễm môi trường và những tác hại lâu dài
trong thời gian ngắn chiếm hết ưu thế
về giá thành và tốc độ
Trung Cộng lợi dụng tiền bạc,
kỹ thuật và thị trường của phương Tây,
những điều khoản thương mại có lợi với phương Tây,
lao động giá rẻ trong nước
và giá thành sản phẩm rẻ để thu về
rất nhiều ngoại tệ mỗi năm. Thâm hụt
thương mại Mỹ Trung từ hơn 80 tỷ USD
năm 2000 tăng lên
đến hơn 375 tỷ USD
năm 2017.
Cuối cùng, Trung Cộng lại là người
phá hoại các quy tắc thương mại quốc tế
để giành lợi thế lớn nhất, thu được
lượng ngoại hối khổng lồ. Nó còn
dùng chiến lược quốc gia để đánh cắp
sở hữu trí tuệ, dùng chiến thuật đi tắt
đón đầu để đánh cắp khoa học kỹ thuật,
dùng mọi thủ đoạn đầu cơ để gây ra
những vụ trộm cắp lớn nhất trong lịch sử,
cũng phá hoại trật tự kinh tế
bình thường của chủ nghĩa tư bản.
Theo báo cáo công bố năm 2017
của Ủy ban Bảo vệ quyền sở hữu
trí tuệ Mỹ, Trung Quốc mỗi năm
gây thiệt hại cho Mỹ từ 225
đến 600 tỷ USD
thông qua việc làm hàng giả, phân mềm lộ
và ăn cắp bí mật công nghiệp của Mỹ.
Thống kê trên chưa bao gồm
việc vi phạm quyền sáng chế phổ biến
ở Trung Quốc. Báo cáo còn nêu
trong 3 năm qua, Mỹ đã thiệt hại
1.200 tỷ USD do bị đánh cắp
sở hữu trí tuệ, phần lớn
do Trung Quốc gây ra.
Báo cáo tháng 11 năm 2015
của Văn phòng Cục Tình báo Quốc gia Mỹ
cho thấy hoạt động gián điệp kinh tế
của hacker máy tính gây thiệt hại
cho Mỹ 400 tỷ USD mỗi năm.
90% hoạt động gián điệp là
đến từ Trung Quốc. Có thể thấy rằng
nguyên nhân tăng trưởng kinh tế Trung Quốc
là do sự nới lỏng hình thái ý thức
chủ nghĩa xã hội trong lĩnh vực kinh tế
cộng thêm sự đầu tư chuyển dịch
tài sản từ các quốc gia phát triển phương Tây
và những hành vi kinh tế vô đạo đức
của Trung Cộng. Điều này không phải
do tính yêu Việt của chế độ chủ nghĩa xã hội
càng không có nghĩa là Trung Quốc
đang đi trên con đường bình thường
của chủ nghĩa tư bản. Các quốc gia
phương Tây có lúc gọi mô hình kinh tế
cực quyền cộng sản vô đạo đức này
của Trung Cộng là chủ nghĩa tư bản
quốc gia. Thực ra đó là để
tô vẽ cho Trung Cộng. Dưới chế độ
cực quyền cộng sản, kinh tế chỉ là
tì nữ của chính trị. Biểu tượng
kinh tế thị trường chỉ là kỹ xảo
để nó treo đuổi thế giới mà thôi.
Mô hình kinh tế của Trung Cộng
mang đến cho thế giới một ảo tưởng rằng
sử dụng lực lượng nhà nước có thể
nhanh chóng phát triển kinh tế. Sử dụng
các thủ đoạn vô đạo đức có thể
thu được thắng lợi trong cạnh tranh kinh tế.
Vì thế đã khiến cho các quốc gia
tích cực can thiệp vào kinh tế hướng
đến chủ nghĩa xã hội. Nếu coi
mô hình kinh tế Trung Cộng là ví dụ
của thành công thì vô hình Trung đã
tạo thành tai nạn nhân quyền và là
kết quả của sự suy đổi đạo đức.
Không khác gì uống rượu độc giải khác.
Đây là sai lầm lớn.
Mục 2.3 Hậu quả do
mô hình kinh tế kỳ dị mang lại.
Mô hình phát triển kinh tế kỳ dị của
Trung Cộng đã mang đến nguy cơ đáng sợ
về đạo đức. Tà Linh Cộng sản chính
là muốn khiến Trung Quốc vừa phát triển kinh tế
đồng thời sẽ làm cho đạo đức
suy thoái, toàn diện. Dùng kinh tế
để phá hoại đạo đức. Dùng kinh tế
để che đậy sự bại hoại đạo đức.
Khiến cho con người mải mê, dương
dương tự đắc với việc hưởng thụ lợi ích
kinh tế mà vô thức đi đến
bờ vực bị hủy diệt.
Ngày nay ở Trung Quốc
vấn nạn hàng giả, thực phẩm
độc hại tràn ngập, dâm loạn, ma túy
cờ bạc, xã hội đen mặc sức
hoành hành, tham nhũng, hủ bại
mại dâm, không những không xấu hổ
mà ngược lại còn cảm thấy tự hào.
Thiếu chữ tín, khoảng cách giàu
nghèo, tội phạm kết cấu với
quan chức, xung đột xã hội, pháp luật
không công bằng, thấy chết không cứu.
Giới chế độ kinh tế cực quyền
tham nhũng lên đến cực điểm
mua quan bán chức, công tư
lẫn lộn. Sự tham ô của
quan chức trung cộng đã vượt qua sức tưởng tượng
của con người. Quan nhỏ tham ô
lớn chỗ nào cũng có, quan lớn
còn tham ô lớn hơn. Hàng tỷ,
hàng chục tỷ tài sản quốc hữu bị
biển thủ. Không một chính phủ quốc gia
nào trên thế giới lại tham nhũng
nhiều và suy đổi đạo đức như trung cộng.
Tháng 10 năm 2011
sự kiện cô bé Tiểu Duyệt Duyệt
ở Phật Sơn, tỉnh Quảng Đông làm
chấn động toàn Trung Quốc và toàn thế giới.
Cô bé Vương Duyệt, 2 tuổi,
tên thân mật là Tiểu Duyệt Duyệt
bị một chiếc xe đâm ngã.
Người tài xế không những không cứu em bé
mà còn tiếp tục lái xe nghiến lên
người em rồi bỏ đi. Chiếc xe
đi đằng sau tiếp tục nghiến lên người em.
Có khoảng 18 người đi đường đi qua
nơi xảy ra tai nạn nhưng không một ai
ra tay giúp đỡ. Cô bé
cuối cùng đã tử vong vì không được
cứu chữa kịp thời. Truyền thông
quốc tế kinh ngạc thốt lên rằng
phải chăng Trung Quốc đã mất đi linh hồn
rồi. Nếu như gặp phải con đồ
thì người ta còn có chút e dè
nhưng trong trường hợp kể trên
trong tình huống căn bản không có bất kỳ
nguy hiểm nào mà vẫn thấy chết không
cứu. Chính tỏ rằng xã hội ngày nay
đã phá vỡ giới hạn đạo đức thấp nhất.
Sự phát triển kinh tế
không còn đạo đức thì rất hỗn loạn
không bền vững và là thảm họa.
Nền kinh tế tàn ác, vô nhân đạo
này đã gây nên khủng hoảng môi trường
gia tăng xung đột xã hội.
Xã hội không có thành tín làm gia tăng
mạnh mẽ chi phí kinh tế.
Khi cái giá phải trả về
đạo đức lớn đến mức độ nhất định
sẽ kéo kinh tế sụp đổ.
Cạnh tranh trên trường quốc tế mà không có đạo đức
cũng không thể lâu dài.
Kinh tế Trung Quốc đang bắt đầu trả giá cho điều này
và đang bắt đầu bước vào thời kỳ
suy giảm nên kinh tế của Trung Quốc
là một ảo ảnh mà ma quỳ tạm thời
tạo ra. Trung Quốc chỉ có thể
được gọi là nước yếu hùng mạnh.
Biểu hiện phốn vinh được tạo ra do
tăng trưởng kinh tế nhanh trong thời gian gần đây
chỉ giống như xây lâu đài trên cáp.
Bất cứ lúc nào cũng có thể bị hủy hoại
vì sự suy thoái toàn diện
của đạo đức và sự khủng hoảng
toàn diện của xã hội.
Nếu không thoát ra khỏi cái thồng lọng này của ma quỳ
thì với mô hình kinh tế hiện nay
Trung Quốc sẽ không thể có một tương lai
tốt đẹp. Bởi vì ta linh cộng sản
vốn không quan tâm và cũng sẽ không
giúp kinh tế Trung Quốc thực sự phát triển
bệt vững. Mục đích thực sự của nó
chính là hủy diệt.
Mục 3. Chủ nghĩa xã hội
đưa các quốc gia kém phát triển đi vào
ngõ cụt. Mục 3.1
Bóng ma kinh tế của các quốc gia
cộng sản Đông Âu cũ vẫn ám ảnh.
Trên thế giới hiện nay, ngoại trừ
việc tiến hành chủ nghĩa xã hội trá hình
tại các quốc gia phát triển ở phương Tây
và nền kinh tế quái thai của chủ nghĩa xã hội
mà Trung Cộng đang tiếp tục thực thi
các quốc gia chủ nghĩa cộng sản Đông Âu
cũ vì không triệt để xóa bỏ
tội ác của chủ nghĩa cộng sản khiến
cho bóng ma cộng sản vẫn ám ảnh.
Trong tâm mọi người vẫn còn chứa đựng
chủ nghĩa cộng sản. Điều này phản ánh
đến mọi phương diện kinh tế, chính trị.
Ví dụ ở Nga và Belarus,
doanh nghiệp nhà nước vẫn chiếm tỷ trọng lớn
và chế độ phúc lợi cao.
Nhà nước vẫn còn can thiệp sâu vào nền kinh tế.
Khi các quốc gia Đông Âu
truyền đổi chế độ, nền kinh tế rơi vào
khủng hoảng, tỷ lệ thất nghiệp cao,
kinh tế tăng trưởng chậm đã mang lại
cơ hội cho chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa
Các chính đảng gánh tả phát triển mạnh mẽ.
Những cảm xúc hoài niệm về chủ nghĩa
cộng sản trước đây lại trỗi dậy
trong các quốc gia cộng sản Đông Âu cũ.
Có thể coi đó là bóng ma kinh tế cộng sản.
Vào những năm 60 của thế kỷ trước,
trong các nước thuộc thế giới
thứ ba ở châu Á và châu Phi,
đại đa số các quốc gia độc lập
ở châu Phi đều tuyên bố đi theo
chủ nghĩa xã hội, nhưng điều đó đã để lại
một đống hỗn loạn, ví dụ gần đây
nhất là Venezuela và Zimbabwe.
Venezuela từng là
quốc gia giàu có nhất châu Mỹ-Là Tinh.
Hiện tại quốc gia này kinh tế bất ổn,
nạn đói hoành hành, tội phạm tràn lan,
bầu không khí tuyệt vọng
bao trùm khắp đất nước.
Zimbabwe cũng từng là một quốc gia giàu có nhất châu Phi.
Ngày nay quốc gia này đã
hoàn toàn rơi vào thảm họa.
Thực sự, lạm phát đã tăng đến
mức không thể tưởng tượng được.
Venezuela,
chủ nghĩa xã hội khiến một quốc gia giàu có
rơi vào vực thảm phá sản.
Venezuela có một nguồn tài nguyên
dầu mỏ phong phú.
Vào những năm 70 của thế kỷ 20,
Venezuela từng là một quốc gia có tốc độ
tăng trưởng nhanh nhất và có mức
bất bình đẳng thu nhập thấp nhất châu Mỹ-Là Tinh.
Có GDP bình quân đầu người
cao nhất trong khu vực. Nền kinh tế
Venezuela lúc đó khá tự do
và chính sách di dân hấp dẫn
công nhân lành nghề từ Ý, Bồ Đào Nha
và Tây Bà Nha, cộng thêm
chính sách bảo hộ quyền sở hữu,
khiến cho quốc gia này từ năm 1940
đến năm 1970 đạt
mức tăng trưởng kinh tế trước này chưa từng có.
Năm 1999,
tân Tổng thống Venezuela
sau khi nhậm chức đã tiến hành
chủ nghĩa xã hội, thực hiện quốc hữu hóa,
cuối cùng làm cho nền kinh tế
Venezuela sụp đổ vì Tổng thống này
từng công khai tuyên bố rằng cần
tiến hành chủ nghĩa xã hội thế kỷ 21.
Thực hiện chủ nghĩa xã hội chính
là tiến hành trừng thu hoặc
quốc hữu hóa rất nhiều doanh nghiệp tư nhân
trong các lĩnh vực dầu khí, nông nghiệp,
tài chính, công nghiệp nặng, thép,
thông tin truyền thông, năng lượng,
giao thông vận tải và du lịch.
Quá trình này càng được đẩy mạnh sau khi vị
Tổng thống này tái đắc cử vào năm 2007.
Từ năm 2007
đến năm 2012,
chính phủ đã trừng thu 1.147
doanh nghiệp tư nhân,
hơi thảm họa nghiêm trọng.
Các doanh nghiệp sản xuất đóng cửa,
thay vào đó là các xí nghiệp quốc doanh
nặng xuất thất.
Nhà đầu tư cũng sợ hãi bỏ chạy.
Việc nhà nước trừng thu các doanh nghiệp tư nhân
đã phá hoại lĩnh vực sản xuất,
từ đó khiến cho Venezuela ngày càng
phụ thuộc vào nhập khẩu.
Thêm vào đó là một loạt các biện pháp
can thiệp của chính phủ như khống chế tỷ giá
và khống chế giá cả.
Cuối cùng, khi giá dầu đi xuống,
khủng hoảng xảy ra là điều không thể tránh khỏi.
Có người cho rằng, nguyên nhân của tấm
bi kịch này là do khủng hoảng dầu mỏ.
Nhưng sự việc lại không đơn giản như vậy.
Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới,
có 7 quốc gia khác còn phụ thuộc
vào dầu mỏ nhiều hơn Venezuela.
Nhưng trong giai đoạn từ năm 2013
đến năm 2017,
7 quốc gia này đều đạt
tăng trưởng kinh tế.
Căn nguyên của vấn đề chính là
chế độ kinh tế chủ nghĩa xã hội.
Trên cơ bản, chính sách kinh tế của Venezuela
phù hợp với 10 yêu cầu mà Mark
đã đề xuất cho những quốc gia
đi lên chủ nghĩa xã hội.
Tại tuyên ngôn Đảng Cộng sản,
tình cảnh bi thảm của Venezuela
là thai hỏa nền kinh tế mà
tà linh Cộng sản gây ra.
Zimbabwe từ vượt lúa bánh mì
của châu Phi đến nạn đói tồi tệ.
Sau khi chính thức giành
độc lập vào năm 1980,
Zimbabwe đã lựa chọn hướng
phát triển theo chủ nghĩa xã hội,
muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội theo
chủ nghĩa Mark Lenin. Tổng thống đầu tiên
của quốc gia này khi còn trẻ cũng là
một tín đầu của chủ nghĩa Mark.
Đội quân du kích của ông từng
chịu ảnh hưởng của tư tưởng Mao Trạch Đông
và được chính phủ trung cộng viện trợ
vô điều kiện. Vì thế, quốc gia này
có quan hệ mật thiết với trung cộng,
không giống với các quốc gia khác ở châu Phi
mà cũng tuyên bố đi theo chủ nghĩa
xã hội, Zimbabwe chưa lập tức
tiến hành quốc hữu hóa.
Sau khi bắt đầu cải cách dụng đất
năm 2000, nền kinh tế Zimbabwe
bắt đầu rơi vào tình cảnh khốn cùng.
Theo chính sách cải cách đất đai của
Zimbabwe, nông trường của người da trắng
bị phân phối lại cho những người da đen bản địa
không có đất đai và những
người có quan hệ chính trị tốt.
Kế hoạch này đã khiến cho sản xuất của Zimbabwe
mau chóng sụt giảm.
Ngân hàng trung ương Zimbabwe dự định
in thêm tiền để giải quyết khủng hoảng,
châm ngòi cho siêu lạm phát bắt đầu.
Số liệu của ngân hàng
trung ương Zimbabwe cho thấy tháng 6
năm 2008, mức
lạm phát của quốc gia này đạt đến
231 triệu phần trăm.
Đến giữa tháng 11 năm 2008,
con số này đã đạt mức
cao nhất, sắp sửa vượt qua 80 tỷ
phần trăm. Chính phủ thậm chí
còn bỏ qua số liệu thống kê hàng tháng.
Một năm sau, tỷ giá đô la
Mỹ và đồng tiền Zimbabwe đã đạt
đến mức 1 USD đổi được
35.000 tỷ đồng Zimbabwe.
Zimbabwe buộc phải ngừng sử dụng đồng tiền
của mình. Năm 2008,
quốc gia này xảy ra nạn đói
tồi tệ khiến rất nhiều người chết.
Quốc gia này có 16 triệu dân
mà có đến 3,5 triệu người thiếu
lương thực. Tà linh cộng sản
hoành hành trên thế giới, con người
ở các quốc gia khác nhau đều có thể nhìn thấy
nguy cơ trước mắt và tiềm tảng
mà nó mang lại. Những vấn đề
mà nó mang tới cho các nước phát triển phương Tây
đang triển hiện ra, nó cũng
tạo ra những hiện thực đau thương
cho các nước đang phát triển. Mọi người
phải nhớ kỹ, cho dù ma quỷ có
mang lại cho con người sự đầy đủ và
thoải mái nhất thời về mặt kinh tế hay không,
thì bản tính của nó sẽ
không thay đổi. Nó nhất định muốn
đưa con người đi đến sự bại hoại
của đạo đức và vực thảm của sinh mệnh.
