#Su6#Sử6#su6vietnam #aulac#vanlang#vanlangaulac#nhanuocaulac #vuahung#giotohungvuong Nhà nước Âu Lạc được thành lập vào khoảng thế kỷ thứ ba trước Công nguyên, trên cơ sở hợp nhất hai bộ tộc Âu Việt của Thục Phán An Dương Vương và Lạc Việt (hay còn gọi là Văn Lang) của vua Hùng. Lãnh thổ nước Âu Lạc cũng được mở rộng trên cơ sở sáp nhập hai vùng lãnh thổ Văn Lang và Âu Việt. Vì vậy, nước Âu Lạc là một bước phát triển mới, kế tục nước Văn Lang.
Trong triều An Dương Vương, giúp việc cho vua vẫn có các lạc hầu. Lạc hầu có thể là tướng văn, nhưng cũng có thể đồng thời là tướng võ, chỉ huy quân đội và thay mặt nhà vua giải quyết công việc trong nước. Theo truyền thuyết dân gian, trong triều An Dương Vương có nhiều tướng giỏi như Cao Lỗ, Nồi Hầu, Đinh Toán. Ngoài ra, còn có một số bộ phận làm công việc tôn giáo, thu cống phẩm, giữ kho tàng, truyền lệnh vua…
Lạc tướng đứng đầu bộ, cai quản một đơn vị hành chính địa phương. Lạc tướng phải thu nộp cống phẩm cho nhà vua, thường xuyên truyền mênh lệnh từ trên xuống. Khi có chiến tranh, lạc tướng là thủ lĩnh quân sự địa phương và chịu sự điều động của nhà vua.
Thời Âu Lạc đã có những tiến bộ đáng kể trong sản xuất nông nghiệp. Với nghề rèn ngày một tiến bộ, người dân đã làm ra nhiều công cụ sản xuất như: lưỡi cày đồng, uốc sắt, rìu sắt… Nhờ đó người dân trồng trọt dễ dàng hơn, lúa gạo, khoai, đậu, rau, củ,... ngày một nhiều lên.
Cùng với công cụ sản xuất, cư dân thời Âu Lạc đã làm ra nhiều sản phẩm đẹp, tiêu biểu như trống đồng, thạp đồng, đồ trang sức bằng đồng. Bên cạnh đó, nghề làm đồ gốm, dệt vải, xây nhà, đóng thuyền cũng ngày một phát triển.
Vào thời này, lễ hội rất phổ biến, là một phần quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân. Lễ hội được tiến hành rải rác quanh năm, trong đó đặc sắc nhất là ngày hội mùa với nhiều nghi lễ như đâm trâu, bò và các hình thức hát múa, diễn xướng dân gian.
Trong các buổi lễ hội có những sinh hoạt nổi bật như: tục lệ đánh trống đồng, thường do một người đánh hoặc hòa tấu từng cặp trống đực - cái, người đánh trống bận lễ phục hình chim ở tư thế ngồi hay đứng; hội giã gạo với từng đôi nam nữ cầm chày dài giã cối tròn, tạo nên hình ảnh tượng trưng cho sự sinh tồn, cầu mong được mùa, giống nòi phát triển.
Cùng với sự phát triển của lễ hội, nhiều phong tục tập quán ra đời đã nói lên sự phát triển phong phú của đời sống tinh thần trong xã hội Âu Lạc, trong đó đáng kể nhất là tục cưới xin. Sách Lĩnh Nam chích quái mô tả nghi thức chính của phong tục hôn nhân thời này như sau: “Khi chưa có trầu cau, việc hôn thú giữa nam và nữ thì trước lấy gói muối hay nắm đất làm đầu, sau đó mới giết trâu, giết dê để làm đồ lễ, lấy cơm nếp để nhập phòng cùng ăn, sau đó mới thành thân”.
Một trong những dấu tích của thời Âu Lạc còn để lại đến ngày nay là thành Cổ Loa (Hà Nội) và hàng vạn mũi tên đồng được khai quát ở gần thành cổ. Sau khi An Dương Vương bị Triệu Đà của nhà Tần đánh bại, Nhà nước Âu Lạc bị thôn tính, đất nước ta rơi vào thảm họa hơn 1.000 năm Bắc thuộc.
Comments are disabled for this video.
Nhà nước Âu Lạc được thành lập vào thế kỷ thứ 3 trước công nguyên trên cơ sở hợp nhất hai bộ tộc Âu Việt của thục phán An Dương Vương và Lạc Việt hay còn gọi là Văn Lan của cô Hồ.
Đánh thổ nước Âu Lạc cũng được mở rỗng trên cơ sở sáp nhập hai vùng đánh thổ Văn Lan và Âu Việt.
Vì vậy, nước Âu Lạc là một bước phát triển mới kế tục nước Văn Lan.
Trong chiều An Dương Vương, giúp việc trong vua vẫn có cách Lạc Hầu.
Lạc Hầu có thể là tướng văn nhưng cũng có thể đồng thời là tướng võ, chỉ huy quân đội và thay mặt nhà vua giải quyết công việc trong nước.
Theo truyền thuyết dân gian, trong chiều An Dương Vương có nhiều tướng giỏi như Cao Lỗ, Nồi Hầu, Đinh Toán.
Ngoài ra còn có một số bộ phận làm công việc tôn giáo, thu cống phẩm, giữ kho tàng, truyền lệnh vua.
Lạc tướng đứng đầu bộ cai quản một đơn vị hành chính địa phương.
Lạc tướng phải thu nộp cống phẩm cho nhà vua, thường xuyên truyền mệnh lệnh từ trên xuống.
Khi có chiến tranh, Lạc tướng là thủ lĩnh quân sự địa phương và chịu sự điều động của nhà vua.
Thời Âu Lạc đã có những tiến bộ đáng kể trong sản xuất nông nghiệp.
Với nghề gian ngày càng tiến bộ, người dân đã làm ra nhiều công cụ sản xuất như lưới cây đồng, quốc sách, rìu sách.
Nhờ đó, người dân trồng trọt dễ dàng hơn, rúa gạo, khoai, đậu, rau củ ngày một nhiều lên.
Cùng với công cụ sản xuất, cư dân thời Âu Lạc đã làm ra nhiều sản phẩm đẹp, tiêu biểu như trống đồng, thạp đồng, đồ trang sức bằng đồng.
Bên cạnh đó, nghề làm đồ gốm, dẹt vải, xây nhà, đóng thuyền cũng ngày một phát triển.
Vào thời kỳ này, lễ hội rất phổ biến, là một phần quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân.
Lễ hội được tiến hành rải rác quanh năm, trong đó đặc sắc nhất là ngày hội mùa với nhiều ghi lễ như đâm trâu, bò và các hình thức hát múa diễn xuống dân gian.
Trong các buổi lễ hội, có những sinh hoạt nổi bật như tục lệ đánh trống đồng, thường do một người đánh hoặc hòa tấu từng gặp trống, đực, cái.
Người đánh trống bận lễ phục hình chim ở tư thế ngồi hay đứng.
Hội rã rạo với từng đôi nam nữ, cầm chày dài, rã cuối tròn tạo nên hình ảnh tượng trưng cho sự sinh tồn, cầu mong được mùa, giống loại phát triển.
Cùng với sự phát triển của lễ hội, nhiều phong tục đập quán ra đời đã nói lên sự phát triển phong phú của đời sống tinh thần trong xã hội Âu Lạc.
Trong đó, đáng kể nhất là tục cưới xin, sách kính nam chích quái, mô tả nghĩa thức chính của phong tục hôn nhân thời này như sau.
Khi chưa có chầu câu, việc hôn thú giữa nam và nữ thì trước lấy gói muối hay nắm đất làm đầu, sau đó mới giết châu, giết dê để làm đổ lễ, lấy cơm nếp để nhập phòng cùng ăn sau đó mới thành thân.
Một trong những dấu tích của thời Âu Lạc còn để lại đến ngày nay là thành cổ loa Hà Nội và hàng vạn mũi tên đồng được khai quật ở gần thành cổ.
Sau khi An Dương Vương bị triệu đà của nhà Trần đánh bại, nhà nước Âu Lạc bị thôn tính, nước nước ta rơi vào thảm họa hơn một ngàn năm bắc thuộc.
Tháng 2 năm canh tý, tức năm 40, Trưng chắc cùng với em gái là Trưng Nghị phát động cuộc khởi nghĩa ở cỡ Sông Hát thuộc địa phận huyện Phúc Thọ, Hà Nội ngày nay.
Từ Mê Linh, Nghĩa quân tiến về xuôi, tiến đánh Lê Lâu, Thuận Thành, Bắc Ninh, thù phù của chính quyền nhà Đông Hán ở Giao Trị.
Chế độ áp bức của nhà Hán bị quật đổ, Lê Lâu được giải phóng.
Chỉ trong một thời gian ngắn, hai bà Trưng đã giải phóng được 65 huyện thành, toàn bộ lãnh thổ nước Việt hồi đó.
Trưng chắc được suy tôn lòng vua, hiệu là Trưng Nữ Phương, đóng đồ ở Mê Linh.
Cuộc khởi nghĩa của hai bà Trưng mở đầu cho phong trào chống ách đối hộ phương Bắc của nhân dân ta.
Cuộc khởi nghĩa đánh quân Ngô do Triệu Thị Trinh và anh trai là Triệu Quốc Đạt lãnh đạo, bùng nổ vào năm 248 và nhanh chóng lan ra khắp quận Giao Trị.
Từ núi rừng Ngạn Đưa, nghĩa quân bà Triệu tấn công thành tư phố giành thắng lợi.
Bà Triệu cùng nghĩa quân vượt sông Mã xuống vùng Bồ Điền xây dựng căn cứ địa.
Khi Triệu Quốc Đạt tử trận, Triệu Thị Trinh lãnh đạo toàn bộ quân khởi nghĩa chiến đấu chống quân Ngô, bà tự xưng là Nguyễn Kiều Tướng Quân.
Vua Ngô điều 8.000 quân sang nước ta đàn áp phong trào khởi nghĩa.
Quân khởi nghĩa bị thua trận, si yếu dần và tan vững.
Bà Triệu phải rút về núi Tùng Sơn rồi rút gươm tự vẫn vào ngày 22 tháng 2 năm Bậu Thển, 248.
Năm 930, Vua Nam Hán mở cuộc chiến tranh xâm lực nước ta lật thứ nhất, đánh bại chính quyền Khúc Thừa Sụ, thiếm thành Đại La.
Năm 931, được sự ủng hộ của nhân dân và hào kiệt trong vùng, Dương Đình Nghệ kéo quân ra Bắc, bao vây công phá thành Đại La.
Cuộc khởi binh đánh đuổi quân xâm lực dưới sự đánh đạo của Dương Đình Nghệ hoàn toàn thắng lợi, chấm dứt miêu độ hán hóa của dạng phương Bắc.
Dương Đình Nghệ tự xưng là tiết độ sứ, cai quản việc trong châu, ông là một trong những người có công phục hồi và mở rộng thành Đại La để trở thành Kinh đô Thăng Long vào thế kỷ thứ 11.
Ngô Quyền, quê ở Đồng Lâm, là người có sức khỏe, miêu cao chi lớn.
Trong cuộc kháng chiến của Dương Đình Nghệ chống quân Nam Hán, Ngô Quyền đã chiến đấu anh dũng nên được Dương Đình Nghệ tin yêu, gả con gái cho và sau đó hông lặng thứ sự, chấn dự tái châu thành hóa.
Năm 937, Dương Đình Nghệ bị tướng của mình là Kiểu Công Tiễn xét hại.
Được tin đó, Ngô Quyền đã kéo quân ra Bắc chỉ tội Kiểu Công Tiễn.
Kiểu Công Tiễn cầu cứu nhà Nam Hán, tạo thiền lề cho quân Nam Hán xâm lược nước ta lần thứ hai.
Ngô Quyền tiến quân nổ thành Đại La, giết chết Kiểu Công Tiễn, đồng thời chuẩn bị chống quân xâm lược.
Để ghi nhớ công lao của Ngô Quyền, người lãnh đạo quân ta đánh thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm 938,
chấm dứt hơn 1.000 năm Bắc thuộc và mở ra thời kỳ độc lập tự chủ cho nước nhà.
Ở nhiều địa phương gắn liệt với cuộc đời và sự nghiệp của ông đều lập đền thờ.
Duyên ở Hải Phòng, nơi diễn ra trận chiến đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng,
đã có trên 20 ngôi đền, đình, tử và khu di tích được xây dựng.
Có những đền thờ được lập cách đây hơn 1.000 năm, cũng có khu di tích mới được xây dựng.
Ngoài Hải Phòng, tại Đồng Lâm, nay là thị xã Sơn Tây Hà Nội, quê hương ông, cũng có đền thờ và lăn Ngô Quyền.
Lăn mộ được xây dựng năm tự đức thứ 27-1874 và chúng tu năm minh mạng thứ 2-1821.
Đặc biệt, trong quần thể đền và lăn Ngô Quyền có 18 cây dưới cổ,
tương truyền là nơi Ngô Quyền bộ vôi ngựa đã được công nhận là cây di sản quốc gia.
Tại những ngôi đền này còn lưu giữ hàng trăm hiện vật, cổ vật và hàng chục bản sắc phong có nền hiệu từ năm 1522-1924.
Trong đó nhiều sắc phong suy tôn Ngô Quyền là Ngô Vương Thiên Tử và Thượng Đặc Tối Linh Đại Phương.
Đặc biệt, một số đền thờ còn lưu giữ những chiếc cổ trứng tích của trận bạch đập lịch sử năm 1938.