Trong lịch sử thế giới, có 4 nền văn minh lớn được coi là cái nôi của thế giới hiện đại
là Trung Quốc, Ai Cập, Ấn Độ và Lưỡng Hà.
Trong số đó, Lưỡng Hà vẫn thường được coi là nền văn minh cổ xưa bậc nhất, ngang hàng với Ai Cập.
Vậy nền văn minh này có gì thú vị? Hãy cùng bọn mình tìm hiểu trong bài viết dưới đây nhé!
Khái quát chung về vùng Lưỡng Hà
Khác với Trung Quốc hay La Mã, vốn khởi điểm là những sắc dân nhỏ bé nhưng dần đồng hóa những sắc dân xung quanh.
Lưỡng Hà lại là mảnh đất của nhiều sắc dân khác nhau.
Có những giai đoạn một sắc dân trỗi dậy rồi bắt đầu suy tàn dần dần để một sắc dân khác lên thay.
Tuy nhiên những nền văn hóa của từng sắc dân này đều có nhiều điểm tương đồng về tập tục, văn hóa và truyền thuyết với nhau.
Nổi bật nhất trong số đó là nền văn minh Sumer, tập hợp của một loạt thành bang dọc theo con sông Tigris và Euphrates.
Akkad là một trong những đề chế lâu đời nhất trong lịch sử nhân loại.
Thành quốc Babylon và đề chế Assyria nổi tiếng tàn mạo.
Lưỡng Hà, đúng như cái tên của mình, là vùng đất nằm giữa hai con sông lớn Tigris và Euphrates.
Phía bắc Lưỡng Hà là sa mạc khô căn, còn phía nam lại là vùng đầm lấy rộng lớn.
Địa hình đặc biệt này khiến cho người cổ đại gọi nơi đây là Buranun, nghĩa là trận lụt lớn.
Thường có sự phân biệt giữa Thượng Lưỡng Hà ở bắc và Hạ Lưỡng Hà phía nam.
Thượng Lưỡng Hà là khu vực giữa Euphrates và Tigris từ Đồng Nguồn xuống đến Bạc Đa.
Hạ Lưỡng Hà là khu vực từ Bạc Đa đến Vịnh Ba Tử, bao gồm Kuwat và một phần của miền Tây Iran.
Một điều thú vị là Lưỡng Hà không có nhiều tài nguyên kim loại nên nông sản trở thành mặt hàng buôn bàn chính.
Điều này khiến khí hậu có ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống của người dân.
Trong thần thoại Lưỡng Hà, nhiều vị thần quan trọng đều gắn liền với những hiện tượng tự nhiên như gió, mưa và bão.
Hay như là thần tối cao Enlil, một vị thần bão đã từng tận diệt nhân loại vì thấy khó chịu với họ.
Điều này cho chúng ta thấy tính thất thường và nguy hiểm của thiên nhiên vùng Lưỡng Hà.
Hơn nữa, địa hình băng phẳng, ít đồi núi và thiếu các chiếng hại vật tự nhiên đã khiến Lưỡng Hà dễ bị các bộ đạc du mục xâm lược.
Chính vì thế mà về sau, lịch sử vùng đất này có rất nhiều biến động.
Đời sống cư dân Lưỡng Hà
Là một vùng đất màu mỡ, tại Lưỡng Hà, người ta ưa chuộng việc trồng nho, ô lưu, đúa mạch và nhiều trái cây khác.
Khí hậu nóng ẩm và thực phẩm phong phú đã tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc sống của người dân.
Từ tháng 5 đến tháng 10, nước sông dân cao sẽ mang theo phù sa màu mỡ, nhưng cũng gây ra lũ lụt và hạn hắn.
Dù vậy, nhiều người vẫn đổ về đây sinh sống, khiến Lưỡng Hà trở thành một vùng có nhiều sắc dân giao thoa với nhau.
Xã hội Lưỡng Hà được chia thành 6 tầng lớp chính, đứng đầu là nhà vua.
Tiếp theo là các tăng lữ và học giả được nhà vua bảo trợ.
Dưới họ là thương nhân, thợ thủ công và nông dân.
Tầng lớp thấp nhất là nô lệ, thường là tu nhân chiến tranh.
Trong thời kỳ đầu của nền văn minh Sumer và địa chỉ Akkad, nông nghiệp là nền tảng kinh tế chính.
Người dân xây dựng hệ thống thủy lợi phức tạp để phục vụ cho việc trồng lương thực và làm cây ăn quả.
Ngoài ra họ còn chân nuôi nhiều loại da súc như là cưu, bò, lừa,
và da cầm như là vịt, ngỗng, cũng như đánh bắt cá.
Gia đình trong xã hội Lưỡng Hà thường theo chế độ gia trưởng và đa thê.
Nhưng con cái đều có quyền thừa kế thải sản, không chỉ có riêng con trưởng.
Tầng lớp nô lệ dần hình thành và chiếm một phần đáng kể trong xã hội,
dù nông dân tự do vẫn là nhóm nông đảo nhất.
Ban đầu, phụ nữ Lưỡng Hà có nhiều quyền lợi, nhưng xã hội dần trở nên phụ quyền hơn.
Các hội đồng trưởng lão gồm cả nam và nữ bị thay thế bởi chế độ quân chủ tập trung và nhà vua.
Tuy nhiên, phụ nữ vẫn được quyền sở hữu tài sản và có thể ly hôn nếu có lý do chính đáng.
Đến thời kỳ Babylon, nền kinh tế Lưỡng Hà phát triển mạnh mẽ hơn.
Nông nghiệp vẫn là chủ cột, nhưng việc buôn bán bắt đầu có quy mô lớn hơn.
Các sản phẩm nông nghiệp được trao đổi với người đất ngoài thông qua đường biển và đường bộ,
mang về kim loại như là đồng và sắt.
Thủ công nghiệp cũng phát triển cao với các công trình kiến trúc, cung điện,
làng mộ, đồ trang sức, dẹt may và đồng thuyền.
Trong thời kỳ Assyria, nền kinh tế không phát triển mạnh do điều kiện tự nhiên khó khăn.
Người Assyria tập trung vào chăn nuôi, săn bắn và khái thác gỗ, đá.
Sau khi mở rộng lãnh thổ, họ dùng của cải từ các vùng chiếm đóng để xây dựng đèn đài
và các công trình lớn.
Dưới thời Assyria, các thần dân của đế chế hay những người nước ngoài
có cơ hội để đạt được những vị trí rất cao trong chính quyền.
Tuy vậy, tổ chức xã hội chính vẫn là các gia đình và bộ lạc
sống xung quanh vùng đất canh tác và chăn nuôi của riêng họ.
Giáo dục ở lưỡng Hà chỉ dành cho con cái của người giàu,
quan chức, quý tộc và những người quản lý đền thờ.
Trẻ em thường được học nghề từ cha mẹ, như con nhà thương gia,
học buôn bán, con nông dân thì học làm rộng từ nhỏ.
Con gái thì thường ở nhà nấu ăn và quản lý gia đình.
Người dân lưỡng Hà có nhiều trò chơi giải trí như là đấm bốc,
đấu vật và các trò chơi board game, nổi tiếng nhất là trò chơi vương giả
thành Ur, một trong những trò board game cổ nhất thế giới.
Những thành tựu đáng chú ý nhất của nền văn minh lưỡng Hà
có lẽ sẽ là thiên văn học.
Vào thời kỳ Babylon, cư dân lưỡng Hà đã tư duy được về hình ảnh vũ trụ,
biết được 5 hành tinh khác ở trong hệ mặt trời
Họ đã có thể tính toán trước được hiện tượng nhật thực,
nguyệt thực và đặt ra lịch âm.
Lịch của họ về sau được cải tiến thành âm dương lịch,
và từ đấy dân đến sự hình thành của chiêm tính học và nghề bói toán.
Dân lưỡng Hà cũng đạt được nhiều thành tựu về y học.
Ngành phát triển nhất của họ có lẽ là giải phẫu học.
Tuy vậy, họ vẫn chịu ảnh hưởng nặng nề về tôn giáo.
Một mảng khác là toán học cũng có nhiều phát triển quan trọng.
Dân lưỡng Hà đóng vai trò tiên phong trong toán học,
khi họ là những người đầu tiên khám phá ra được hệ số thập lục phân,
tính toán chu vi cũng như là tìm ra được số pi,
hệ thống vị trí giữa các con số cùng các phép tính canh mặt khác,
như còn tìm ra được cách tính tam gia vuông trước cả Pitagore suốt nhiều thế kỷ.
Một số mảng khác cũng được người dân lưỡng Hà đi trước,
bao gồm cách cất nước, tạo nến và thủy tinh,
thuật luyện kim cũng như kiểm soát dòng chảy của những con sông.
Những di sản này về sau được những nền văn minh khác
Văn hóa Lưỡng Hà
Lưỡng Hà cùng với Ai Cập là một trong những nền văn minh đầu tiên
phát triển nghệ thuật một cách toàn diện.
Một trong những thành tựu nổi bật nhất của họ là Cổng Istar ở Babylon.
Cổng này là một công trình đôi với những bức tường
được trang trí bằng cạch tráng men màu xanh lam,
cao tới 15 mét và có móng sâu từ 14 mét.
Đến nay, Cổng Istar vẫn là một trong những di tích vật chất
ấn tượng nhất còn sót lại của nền văn minh Babylon.
Nghệ thuật Lưỡng Hà được thể hiện qua các tác phẩm bằng đất xét.
Mặc dù nhiều tác phẩm đã bị thời gian hủy hoại,
một số vẫn còn giữ được như là Sư Tử Cái, Guernon,
một tác phẩm điêu khắc kết hợp giữa hình dáng phụ nữ và sư tử
có niên đại hàng nghìn năm.
Các tác phẩm điêu khắc của người Lưỡng Hà thường tập trung
vào hình tượng đàn ông, có thể là các vị vua,
với đặc điểm như là bộ râu dài và đôi mắt to.
Nghệ thuật phủ điêu cũng rất phổ biến,
được sử dụng để trang trí các bia đá, lễ vật cổng nguyện
và các bia kỷ niệm chiến thắng.
Dưới thời Assyria, các công trình nghệ thuật quy mô lớn được xây dựng,
miêu tả chi tiết các cảnh chiến tranh, săn bắn
và những bức tượng hộ thần khổng lồ.
Lưỡng Hà cũng là những người đầu tiên trên thế giới
quy hoạch đô thị một cách bài bản.
Trong sử thi Gilgamesh, thành phố Uruk được miêu tả
như là một nơi tráng lệ và phôn thịnh,
với những khu vườn, chợ, đền đài
và những bức tượng thành khổng lồ.
Vật liệu xây dựng chủ yếu là sạy, đá, gỗ, gạch và bùn.
Đối với các công trình lớn như là cung điện,
họ sử dụng thêm đá quý và gạch để trang trí,
phục vụ mục đích tôn giáo.
Một công trình kiến trúc độc đá của người Lưỡng Hà là Jiggurat,
những tòa tháp bậc thang giống như là kim tự tháp của Ái Cập.
Người Lưỡng Hà tin rằng các vị thần sống ở trên đỉnh Jiggurat.
Vì vậy, chỉ có các linh mục và những người có quyền lực
mới được phép lên đó.
Jiggurat không chỉ là nơi thờ cúng mà còn là biểu tượng của quyền lực
và sự kết nối giữa con người với thần linh.
Ngôn ngữ được biết đến sớm nhất của Lưỡng Hà là tiếng Sumer,
theo sau đó là tiếng Semit.
Cả hai đều đại diện cho những sắc dân phổ biến nhất của vùng.
Trong thời kỳ thống trị của đề chế Akkad,
tiếng của dân Akkad được sử dụng rộng rãi nhưng mà tiếng Sumer
vẫn được ưa chuộng trong hành trình, văn học và các công việc tôn giáo.
Ngôn ngữ Sumer sử dụng chữ hình đêm
với các đầu bút tam giác được sử dụng để khắc các ký hiệu trên đất xét ướt.
Phải đến thời vua Sargon,
chữ viết theo âm tiết mới được sử dụng rộng rãi
và số lượng người biết chữ đã được phổ biến hơn.
Một thành tựu quan trọng khác của nền văn hóa Lưỡng Hà có thể kể đến
là sự ra đời của bộ luật Hammurabi,
được viết đến 282 điều. Đây được coi là bộ luật cổ xưa nhất thế giới
và được khắc trên một tấm đá Ba Gian cao hơn 2 mét
với đường kinh đáy gần 2 mét.
Mặt trước khắc họa cảnh thần mặt trời trao phiền đá cho vua Hammurabi
trong tư thế nghiêm trang. Phiền đá này được tìm thấy vào năm 1902
và đến nay vẫn được lưu trữ cẩn thận
tại bào tàng Louvre của Pháp.
Thần Thoại Lưỡng Hà
Truyền thuyết của người dân Lưỡng Hà cho rằng thế giới là một cái đĩa phẳng
bao quanh bởi một cái hồ lớn và trên tất cả chính là thiên đường.
Họ còn tin rằng nước bao trùm lấy cả thế giới
và vũ trụ được khai sinh từ vùng nước này.
Thần thoại của họ như nhiều thần thoại khác có rất nhiều dị bản
và mâu thuận với nhau vì sự thay đổi của tôn giá theo thời gian.
Tuy vậy, giữa cả 4 nền văn hóa lớn nhất từng thống trị Lưỡng Hà
vẫn có một số điểm chung nhất định.
Trong số đó có 3 thần thoại sáng thế nổi tiếng nhất
bao gồm Enuma Elish, Astrahasis
và sáng thế Eridu.
Enuma Elish là thần thoại gốc Babylon
miêu tả quá trình hình thành thế giới bắt đầu với thần Apsu
và thần Tiamat. Tiamat và Apsu giao phối với nhau
và tự họ một loạt thực thể ra đời
được biết đến với tên gọi là Igigi.
Trong số các Igigi, 2 vị thần quyền lực nhất
là Lamu và Lahamu và như cha mẹ
cả 2 đều giao phối với nhau để sinh ra
Ansa và Kiasa.
Ansa và Kiasa nối gót cha mẹ và sinh ra Anu
người có cháu nội là Ea.
Những hậu rệ từ Ansa và Kisa được gọi là Anuaki
là dòng máu của An.
Sau một khoảng thời gian, Apsu nhận thấy bản thân hậu rệ
quá ồn ào, định giết chết con cùng với cả cháu chất của ông.
Tuy nhiên Tiamat đã nhanh chóng cảnh báo cho Ea
và để đáp trả lại, Ea đã giết Apsu
và dùng thân xác của cụ tổ để làm nhà cho mình cùng người thân.
Trong xác của Apsu, con trai của Ea
là thần ma đúc ra đời.
Trong khi đó, sau cái chết của Apsu, Tiamat lại muốn đối đầu với các vị thần.
Bà kết hôn với cả Quingu,
con trai của mình và đưa Quingu tablet vận mệnh.
Quả đấy công nhận Quingu là vị thần tối cao.
Nhận thấy tình thế vô cùng nguy cấp, Ansa
lúc đấy đang là người đứng đầu những hậu rệ của mình
đã trao quyền lực cho ma đúc, trong khi Lamu và Lahamu
cùng tuyên bố ma đúc là vua của thế giới Igigi.
Với quyền năng của bản thân, ma đúc đã vượt qua nỗi sợ
và giết chết Tiamat, chiếm lấy tablet vận mệnh
từ thầy Quingu. Qua đấy tuyên bố bản thân là vị thần tối cao
của vũ trụ. Từ thân xác của Tiamat,
ông tạo ra thiên đường vào mặt đất, mặt trời và mặt trăng
cùng những vị sao, với hai dòng Ygris
và Elphritis từ mắt của Tiamat,
trong khi thân xác của Apsu trở thành địa ngục.
Ma đúc sau đó trao tablet vận mệnh cho Ansar
như những gì đã thỏa thuận và Ansar chấp nhận,
đồng thời công nhận vương quyền của ma đúc. Cuối cùng,
ma đúc tạo ra Babylon, ngôi nhà của những vị thần.
Thần Ea sau đó tạo ra con người từ máu của Quingu.
Sau khi tất cả hoàn tất,
ma đúc xưng vương một lần nữa và cai trị cả thế giới
từ thành đô của Babylon.
Astrahasis, có nguồn gốc từ thời đế chế Akkar,
câu chuyện xoay quanh nhân vật cùng tên
với tác phẩm cùng quá trình hình thành thế giới.
Câu chuyện bắt đầu bằng việc các vị thần đứng đầu bởi Enlil,
người sở hữu tablet vận mệnh.
Sau quá trình lao động vất vả để duy trì sự sống đã tạo ra con người
với mục đích thay thế công việc của bọn họ.
Tuy nhiên, con người lại xinh xôi này nở nhanh chóng,
gây phiền để các vị thần. Enlil, vị thần tối cao trừng phạt
con người bằng một trận lũ lụt.
Tuy nhiên, nhờ vào sự tranh cãi giữa các vị thần
lân sự giúp đỡ từ Enki, con người đã sống sót,
đổi lại bằng việc bản thân các vị thần áp đặt thêm
các bệnh tật cùng các tai họa khác để kiểm soát dân số.
Sang thế Eridu,
còn được gọi là thần thoại sang thế của người Sumer
bắt đầu với lời đọc thoại của nữ thần Nintha,
người đã sinh ra nhân loại. Mặc dù những trang bị đầu thiếu,
ta vẫn có thể thấy được, Ninthu đã rất ngạc nhiên
trước việc con người có thể đi từ giai đoạn ru mục
sang việc xây dựng một nền văn minh.
Ninthu bắt đầu lên kế hoạch để trao vương quyền cho con người.
Tuy nhiên, sau đoạn chuyện đó, Enlil,
vị thần tối cao đã nhấn chìm toàn bộ con người vì thấy họ quá hồn hào.
Tuy vậy may mắn thay, vị thần Enki đã thông báo
một tư tế mang tên là Yusudra
về hành động của Enlil.
Yusudra sau đó đã xây dựng một số con thuyền để cứu sống bản thân của ông
cùng tất cả những sinh vật khác.
Như chúng ta đã thấy, sang thế Eridu có thể coi là
một trong những văn bản đầu tiên trên thế giới.
Về chuyên thuyết Đại Hồng Thủy và những ảnh hưởng của câu chuyện Noah
trong Kinh Thánh về sau, trong câu chuyện về Enlil nhấn chìm cả nhân loại
có thể là lời gợi nhắc đến điều kiện thiên nhiên
bất thường của miền đất Lưỡng Hà.
Bên cạnh ba câu chuyện kể trên, dân Lưỡng Hà còn có nhiều câu chuyện
sang thế khác như là thần thoại người Sumer
Nữ thần đại dương Sao đã sinh ra thần bầu trời An
và thần mặt đất Ki và tạo ra thế giới.
Thần phả Anu miêu tả Ruri và Dari.
Vị thần đại diện cho thời gian vĩnh cửu đã tạo ra thế giới.
Trong khi thần phả Enlil lại đề cập đến thần đất Enki và Ninki
mới chính là những người đã tạo ra thế giới.
Thần phả Enlil lại ảnh hưởng về sao đến thần phả Anu
để tạo nên một phiên bản mới.
Thần thoại Lưỡng Hà có rất nhiều các vị thần nhỏ,
nhưng trong đó tiêu biểu nhất là nhóm bảy vị thần quyết định vận mệnh.
Họ là bảy vị thần có quyền lực nhất trong nhóm Anu-Aki.
Lần lượt là Anu, Ishtar, Enlil,
Ea, Ninhơ-Shak,
Nana và Shamash.
Trong đó, Nana là cha của Ishtar và Shamash.
Ông là vị thần đại diện cho mặt trăng và là người bảo trợ
cho thành phố Ur cùng Haran.
Tuy vậy, Nana không phải là người đứng đầu các vị thần
mà vị trí đấy thuộc về Enlil, vị thần bảo trợ Nipper
và đại diện cho bão tố, gió và đất đai
cũng như là hình mẫu lý tưởng cho những bậc quân vương.
Ea hay là Enki là vị thần đại diện
cho sáng tạo, kiến thức và ma thuật.
Ông được coi là người bảo vệ nhân loại và thế giới và là nhân vật quan trọng
trong sáng thế Eridu.
Bản thân Ea cũng là người bảo trợ thành quốc Eridu.
Trong sự thi Gilgamesh, ông đã tạo ra Enkidu để đánh bại anh hùng Gilgamesh.
Trong khi một lần khác, ông đã tạo ra Sautu
để đánh bại Ishtar.
Tương truyền Ea có mối quan hệ đối thủ với người chị em Ninhursag của ông
vì cả hai đều muốn trở thành vị thần vĩ đại thứ ba
sau Anu và Enlil.
Tuy nhiên, một số câu chuyện vẫn miêu tả hai người họ là vợ chồng
thông qua việc để Damkina, tên vợ của Ea,
thành danh hiệu của Ninhursag.
Một điểm thú vị khác là Ea cũng có phiên bản khác là Enki
Tuy nhiên, nếu Ea là vị thần trí tuệ
thì Enki lại là vị thần nguyên thủy của mặt đất.
Ishtar, vị thần đại diện cho tình hiệu, chiến tranh và quyền lực
tôn giáo thời Ishtar có từ thời Sumer
và vẫn được lưu truyền đến thời Issyria.
Bà là nữ vương thiên đường và là vị thần bảo trợ cho đền Anna
của thành quốc Uruk.
Nhiều học giả tin rằng Ishtar không phải là một vị thần gốc Sumer
mà đã sắp nhập vào thần thoại dưới thời Sumer-Akkad.
Bản thân bà đại diện cho sao kim và kết hôn với cả Dumuzid,
vị thần đại diện cho những người chăn cừu cùng sự màu mỡ,
sinh sôi và suy tàn.
Tuy vậy, bản thân ông bị đẩy xuống địa ngục từng năm để thay thế cho Ishtar
và hàng năm khi ông trở lại, cả Ishtar và Dumuzid sẽ ân nai với nhau
để có thể đem sự sống trở lại lần nữa.
Câu chuyện của Dumuzid lý giả cho sự thay đổi
từng năm theo mùa của lưỡng Hà
và có thể về sau đã truyền cảm hứng cho câu chuyện tương tự
của Persephone ở bên thần thoại Hy Lạp.
Bên cạnh Ishtar còn có Shamash, anh em sinh đôi của bà
và là vị thần của mặt trời, công lý, luân lý và sự thật.
Ông là người truy cầu công lý và bảo vệ những nhà lữ hành,
quân lính, thương gia và thủy thù.
Tương truyền ông rất thân với Ishtar
và là người biết đến tương lai cũng như những giấc mơ.
Qua những đứa con là Mamu và Jaquiku,
Shamash đem đến giấc mơ để báo trước tương lai cho mọi người.
Eres Kigan, bà là nữ thần,
chủ nhân của Urkala, âm phủ của thần thoại lưỡng Hà.
Bà là chị gái của Ishtar.
Mặc dù một số phiên bản thần thoại có đề cập đến Eres Kigan
như là một phiên bản khác của Ishtar.
Eres Kigan lên làm địa phủ đến từ việc bản thân bà
bị bắt cóc về âm phủ và bị giam cầm ở dưới đó.
Về sau, bản thân của Kerr, kẻ bắt cóc bà,
đã đánh nhau với cả Enki một trận chiến khủng khiếp.
Sau cuộc chiến đó, Eres Kigan nhân cơ hội
để trở thành chủ nhân của âm phủ.
Câu chuyện phổ biến nhất về Eres Kigan
có lẽ là cuộc đụng chạm giữa bà và người chị gái Ishtar.
Một ngày nọ Ishtar xuống âm phủ
để có thể có được quyền kiểm soát tất cả những mặt của thế giới,
âm phủ, mắt đất và thiên đường.
Neti, người gác cổng âm phủ đã làm theo lệnh của nữ hoàng,
ép Ishtar phải bay qua 7 cánh cổng của âm phủ.
Qua mỗi cánh cổng, Ishtar phải tư bỏ một món đồ
và chẳng còn gì để bảo vệ bản thân.
Vì vậy, bà vẫn đủ sức để đe dọa sẽ sử dụng sắc sống
để khuất phục Eres Kigan.
Eres Kigan ghen tị với cả Ishtar
đã thừa cơ bắt chó chị gái
và treo sác bà trên một móc câu dưới địa ngục.
Không có Ishtar, thế giới rơi vào hỗn loạn.
Thân Nishtuber bèn bàn với cả Enki giải thoát cho Ishtar
bằng cách tạo nên một sinh vật,
lệnh cho nó mang nước sự sống chảy xuống âm phủ.
Được truyền năng lượng từ dòng nước,
Ishtar trở lại dương gian và thu lại những món đồ của mình,
qua đấy khôi phục trật tự cho thế giới.
Trong thần thoại Lưỡng Hà,
Maduk là con của thần nước Enki và nữ thần Damkin.
Ông là vị thần bảo trợ cho trật tự, công lý, ma thuật và sự công bằng,
cũng như là bão tố và nông nghiệp.
Ông là một vị thần trẻ và cực kỳ mạnh mẽ,
được công nhận là vua của các vị thần.
Vì thế mà sau này người Hy Lạp coi ông là phiên bản Zeus của Lưỡng Hà.
Ông cũng gắn liền với sao mộng,
hành tinh vĩ đại nhất mà người Lưỡng Hà biết đến.
Tuy vậy, dưới thời Hammurabi,
Maduk không phải là vị thần tối cao,
mà vị trí đó thuộc về Enlil.
Thay vào đó, Maduk được ghi nhận là người liên kết giữa chư thần và con người.
Bên cạnh việc giành lấy vương quyền và đánh bại Tiamat,
Maduk cũng từng được ghi nhận là vị thần đại diện cho nông nghiệp và sự màu mỡ.
Sự khác biệt giữa Maduk, vua của chư thần,
và Maduk thần nông nghiệp địa phương,
có thể đến từ việc thành Babylon của ông đi từ một thành bang nhỏ bé
sang một thành bang quyền lực và rộng lớn.
Sau sự suy yếu của Babylon,
Maduk dần bị lấn át bởi vị thần của Assyria, Asher.
Trong các tác phẩm như là Sử Thiêra,
Maduk, người đem đến trật tự và sự ổn định
biến thành người đem đến hỗn loạn và bị lật đổ.
Tiamat
Tiamat là một nữ thần nguyên thủy trong thần thoại Lương Hà.
Có lẽ nguyên gốc của bà là nữ thần khởi nguyên Namu.
Bà là nữ thần của nước mặn,
là người đã sinh ra các thần.
Bà cũng đã sinh ra 11 con quái vật,
đứng đầu trong số đó là Gwingu,
một kẻ có hình dáng nửa người nửa dòng.
Nhiều lúc được miêu tả dưới hình hài của một con dòng đen.
Bên cạnh Gwingu, Tiamat còn sinh ra Basmu,
con rắn độc.
Usumgalu, một con dòng khổng lồ có ba sừng,
đầu sư tử, bốn chân và có cánh.
Mushmahu, một con rắn bảy đầu.
Mushushu, một con bò sát,
có thân hình như là rắn, cùng chân cao như là chân mèo.
Lamu, một gã đàn ông cao lớn đẩy lông.
Ugalu, một con quái vật đầu sư tử.
Uridimu, một gã nửa người nửa sư tử.
Gitabulu, một con quái vật nửa người nửa bọ cạp.
Umudabrutu, một cơn bão được né lại.
Kululu, một con nhân ngư.
Và Kushariku, một con nhân ngư.
Câu chuyện của Tiamat có lẽ là phiên bản đầu tiên của Chaos Camp,
hay là cuộc chiến đấu hỗn mang,
xoay quanh cuộc chiến giữa anh hùng
của một hình tượng quái vật từ địa ngục hay từ biển cả.
Điều mà về sau có lẽ đã truyền cảm hứng
cho cuộc chiến giữa Zeus và Typhoon trong thần thoại Hy Lạp,
hay là sang thế ở trong Kinh Thánh.
Cái chết của bà có thể được diễn giải là quá trình thay đổi của xã hội con người
từ giai đoạn mẫu hệ sang giai đoạn phụ quyền.
Với thần thoại Lưỡng Hà, có lẽ câu chuyện nổi tiếng nhất
chính là Sử thi Gilgamesh.
Sử thi này xuất hiện trong khoảng từ năm 2001 trước công nguyên
đến năm 1200 trước công nguyên,
vẫn còn giữ gìn được đến tận ngày nay.
Câu chuyện bắt đầu với những dòng văn miêu tả thành phố phổn hoa Uruk
nằm dưới quyền kiểm soát của vua Gilgamesh.
Vị vua có đến 2 phần 3 dòng máu chảy trong huyết quả là thần.
Trong bối cảnh của câu chuyện, Gilgamesh được coi là chưa trưởng thành
khi dành nhiều thời gian để đánh nhau, vật lộn, tiệc tùng và nhiều trò tai hại khác.
Các vị thần bèn cử người thú Enkidu đến để đánh bại Gilgamesh.
Cả hai đánh nhau cả ngày lẫn đêm,
tuy nhiên đến cuối cùng họ lại kết thân với nhau
và dành nhiều thời gian để khám phá thế giới.
Cùng nhau, họ đánh bại Argar, vị vua của thành Kish,
tiêu diệt con bò của thiên đường
và Humbaba, một vị thân bảo vệ rừng cây.
Tuy nhiên hành động của họ cuối cùng lại chọc tức các vị thần
và Enkidu qua đời vì bệnh tật không lâu sau đó.
Đau buồn trước cái chết của người bạn,
Gilgamesh nhận thức được sự tan nhẫn của cái chết
và ông ra đi tìm kiếm sự bất tư.
Ông cuối cùng thất bại, trở về Uruk.
Và như các câu chuyện mở đầu,
Gilgamesh lại miêu tả cảnh phôn hoa của Uruk một lần nữa cho người đọc.
Tuy nhiên, điều khác biệt lớn nhất trong lần này
là bản thân Gilgamesh đã nhận ra được một bài học quan trọng
về sự kiêu ngạo lẫn tinh cách nóng vội.
Ông đã trở về cai trị vương quốc của mình
một cách công bằng suốt hơn 100 năm.
Mặc dù là một câu chuyện đã có từ rất lâu,
nhưng những giá trị của sử thi Gilgamesh
vẫn đáng được ghi nhận cho đến ngày nay.
Bên cạnh những giá trị của hành trình trưởng thành
hay những lời cảnh báo về tác hại của bạo chúa
và lãm dụng quyền lực,
sử thi Gilgamesh còn khác biệt
khi không xây dựng một hình mẫu anh hùng hoàn mỹ
như là nhiều sử thi khác về sau.
Hành trình bắt đầu hình thành từ những cộng đồng nhỏ
sống dọc theo các con sông trải dài
từ địa Trung Hải đến Vịnh Ba Tư.
Theo thời gian, họ bước vào giai đoạn New Bed,
kéo dài từ năm 6.500 chiếc công nguyên
đến năm 3.800 chiếc công nguyên.
Thời kỳ này, dân lượng Hà phát triển nền nông nghiệp và văn hóa.
Nhờ sản lượng lương thực dư thừa,
cư dân ở đây có nhiều điều kiện
để phát triển thủ công mỹ nghệ,
hình thành hệ thông thuế và quản lý lương thực,
dẫn đến sự ra đời của các nhà nước sơ khai.
Từ đó, những thị trấn và thành phố bắt đầu xuất hiện.
Nổi bật nhất là Uruk,
một thành phố với hệ thống quan chức
và các công sưởng được tài trợ bởi các đền thờ.
Khác với mô tả,
Uruk không được cai trị bởi một vị vua
mà bởi một tư tế
hoặc là một nhóm những tư tế.
Điều này cho chúng ta thấy tầm ảnh hưởng lớn
của đời sống văn hóa và tôn giáo
đối với những người dân lượng Hà.
Dưới quyền tư tế là các quan chức, học giả
và người lưu trữ, đảm bảo xã hội vận hành trơn tru.
Tầng lớp thấp nhất là nông dân và ngư dân.
Giai đoạn này cũng chứng kiến
sự ra đời của chữ viết,
ban đầu được dùng để ghi chép thuế và phân phối đương thực.
Từ năm 3500 trước công nguyên trở đi,
ảnh hưởng của thành phố Uruk
ngày càng lan rộng,
kéo theo quá trình đô thị hóa và hình thành
các thuộc địa dưới quyền kiểm soát của Uruk.
Giờ là thế lực hùng mạnh nhất vùng.
Giai đoạn này được gọi là thời kỳ Uruk.
Tuy nhiên, sau một thời kỳ hỗn loạn,
có thể do nội chiến, ru mục
hoặc các cuộc nổi dậy của thuộc địa.
Uruk dần suy yếu và nhượng
chỗ cho các thế lực khác.
Hàng thế kỷ sau sự suy yếu của Uruk,
người Sumer bắt đầu xây dựng các thành phố riêng
như là Uma, Eridu
và Nippur.
Mỗi thành phố đều là một tiểu quốc độc lập
với các vị thần riêng biệt,
tương tự như là các thành bang của Hy Lạp cổ đại.
Các thành bang này tập trung vào các khu vực đô thị
và được bao quanh bởi những ngôi làng
cung cấp lương thực.
Sự phát triển nông nghiệp và sự giàu có của vùng đất
đã thu hút nhiều người nhập cư,
khiến dân số tăng nhanh.
Điều này tạo ra áp lực lớn về hậu cần,
dẫn đến các cuộc chiến tranh giành tài nguyên
giữa các thành bang và các thế lực bên ngoài.
Bối cảnh này dần truyền đổi xã hội lưỡng hà
từ thể chế dân chủ sơ khai
sang thể chế quân chủ,
với sự xuất hiện của các Lugar,
hay còn được gọi là những vị nhân,
những vị vua sống trong cung điện.
Tuy nhiên tôn giá vẫn giữ vai trò quan trọng,
với mỗi thành bang tuyên bố được một vị thần bảo hộ
như là Inanna,
bảo trợ Uruk
hay là Enlil,
bảo trợ Nipper.
Vị vua huyền thoại Gilgamesh có lẽ cũng xuất hiện trong thời kỳ này.
Trong giai đoạn này,
Enshakushanna, một vị vua của Uruk,
đã tạm thời thống nhất nền văn minh Sumer.
Tuy nhiên,
sự cai trị của ông không kéo dài.
Sau khi ông qua đời, Lugar Jaxi,
một vị vua từ Umar,
đã thống nhất thành công lưỡng hà
và cai trị các chư hầu từ Uruk,
thành phố mà ông đã chinh phục và biến thành thủ đô mới của mình.
Trong thời kỳ mà Lugar Jaxi
cai trị, có một câu chuyện kể rằng
một nữ tư tế sinh ra một đứa con trai
và đặt đứa bé vào giỏ
thả trôi sông Elphratis.
Đứa trẻ sau đó đợi Akki,
người làm vườn cho vua thành Kish nhận nuôi.
Khi lớn lên, đứa trẻ được vua Kish tin tưởng
và giao cho vị trí hậu rượu.
Tuy nhiên, vua Kish sau đó nằm mơ
thấy mình bị chim trong hồ máu
và lo sợ đứa trẻ sẽ phản bội mình,
nên đã gửi nó đến Lugar Jaxi.
Nhưng cuối cùng, đứa trẻ này đã lật đổ
ngôi vua Kish và trở thành Sargon,
người sáng lập đế chế đầu tiên trong lịch sử nhân loại.
Câu chuyện về nguồn gốc của Sargon
có lẽ là một thông điệp chính trị được tạo ra
để thuyết phục mọi người dân Akkab
và Sumer rằng ông là một người phi thường.
Vừa là một nhà cai trị
có nguồn gốc kiêm tốn khác với những kẻ giàu
có trước đây, tương tự như là những thần dân.
Ông cũng có xuất phát điểm
từ sự nghèo đói.
Từ căn cứ tại Kish, Sargon đã chinh phục
vùng phía Nam, giành chiến thắng hơn 30 trận chiến
rồi lần lượt kiểm soát các thành bang khác.
Ông tiến quân đến Uruk,
đánh bại Lugar Jaxi
rồi tiếp tục hành quân xuống phía Nam
đến Vịnh Ba Tử, sau đó ông quay trở về phía Bắc
xử tử Lugar Jaxi
và chính thức thành lập chiều đại mới.
Nhận thấy chưa thể mở rộng về phía Bắc ngay lập tức,
Sargon tập trung vào việc mở rộng lãnh thổ
về phía Đông và phát triển giao thương.
Từ năm 2300 trước công nguyên,
ông đã chinh phục Shusha,
thủ đô của người Elam,
và mở rộng đề chế từ địa Trung Hải
đến Vịnh Ba Tử.
Điều này mang lại sự ổn định cho giao thương và kinh tế,
đồng thời giúp lưỡng hà tiếp cận
đến các nguồn tài nguyên quan trọng như là đồng,
bông, đa quý, bạc, voi và trâu.
Từ thời Sargon,
các vị vua lưỡng hà sau này thường sử dụng
hàng hóa ngoại quốc để thể hiện quyền lực.
Sargon đưa người Akkad bản địa
và các vị trí cai trị và sử dụng tôn giáo
để thuyết phục thần dân rằng
các vị thần đã trao đề chế cho ông,
chứ không phải ông tự chiếm lấy.
Ông cũng giao những vị trí quyền lực
cho người thân, như là con gái cả
được giao làm vị trí hiên tế.
Sargon tiếp tục trị vì và duy trì quyền lực
cho đến khi ông qua đời
vào năm 2279 trước công nguyên
sau 56 năm cai trị.
Sau cái chết của Sargon,
hai người con trai là Ripmuche và Manis Tosu
dành phần lớn thời gian
để dẹp loạn trong đề chế.
Dưới thời Naramsin, cháu nội của Sargon,
ông không chỉ dẹp loạn thành công
mà còn đánh bại người Elam
và khuất phục nhiều bộ lạc du mục
để củng cố đề chế.
Dẫu vậy, triều đại của Naramsin
cũng đánh dấu thời kỳ huy hoàng cuối cùng
của đề chế Akkad.
Sau khi ông qua đời, đề chế dần suy yếu
và cuối cùng sụp đổ vào năm 2154
trước công nguyên.
Sau sự sụp đổ của đề chế Akkad,
người Gutia, từng là kẻ thù của Akkad,
đã tràn vào lưỡng Hà
và thành lập một triều đại mới
quanh thung lũng sông Euphrates.
Tuy nhiên họ không thể kiểm soát
hoàn toàn vông đất này.
Liên minh các thành bang Sumer, đứng đầu là Uruk,
đã lật đổ vô Gutia
và tạm thời cai trị lưỡng Hà trong một khoảng thời gian ngắn.
Trước đó, Unamu,
một vị quan đến từ thành U
đã lật đổ Uruk
và thành lập triều đại mới
sau được gọi là triều đại thứ ba của thành U.
Khác với Akkad, triều đại này tập trung
vào việc củng cố và quản lý đề chế
thay vì liên tục mở rộng lãnh thổ.
Dưới thời U, vai trò của Ensi
đã bị thay đổi từ người đại diện địa phương
sang quan chức dưới quyền vua.
Mặc dù không có nhiều ghi chép
về các cuộc nổi loạn trong giai đoạn này,
lưỡng Hà vẫn phát triển mạnh mẽ về thương mại,
hệ thống tươi tiêu và dân số.
Các thành phố cũ tiếp tục phát triển,
trong khi những thành phố mới dần trở thành
trung tâm kinh tế quan trọng,
một trong số đó chính là thành quốc Babylon.
Tuy nhiên, triều đại Âu cuối cùng cũng đã sụp đổ
vào năm 2004 trước công nguyên do hạn hán,
dịch bệnh và cuộc xâm lược
của người Amorites, một nhóm người dân ru mục.
Lưỡng Hà rơ vào cuộc hỗn loạn
giữa các thế lực bản địa và người Amorites.
Trước đó, người Amorites đã nhiều lần
tấn công vùng lưỡng Hà,
chiếm được Palestine, Syria
và các vùng lần cận.
Giống như những dân tộc ru mục khác từng đến đây,
họ dần hoa nhập vào cộng đồng bản địa
và bị đồng hóa chỉ sau vài thập niên.
Theo thời gian,
người Amorites thành lập nhiều thành bang,
phát triển hệ thống chữ viết và ngôn ngữ,
nền tảng cho địa chế Babylon sau này.
Tuy vậy, những thành bang quyền lực nhất
trong giai đoạn này lần lượt là
Ibn và Lasha.
Trong giai đoạn này, Shamshi Adad,
một nhà trinh phạt và quân phiệt
dân mở rộng thế lực.
Sau nhiều năm lưu vong, ông trở về quê hương Ekalatum,
đánh bại người Assyria
và tự xưng là vua của Assyria.
Ông xây dựng thủ đô mới
tên là Shutbad-en-Liu
và giao cho hai con trai cai trị
các thành phố khác.
Tuy nhiên, đế chế của ông không tồn tại được lâu
do các cuộc tấn công từ những người
ru mục vùng nối Zagros
và các cuộc nổi loạn ở trong nước.
Đứa con trưởng của ông, Ishmi-Dagan,
mất phần lớn lãnh thổ
và chiến tranh lan rộng khắp vùng.
Các thành bang như là Mari và Babylon
liên binh để chống lại Esuna
và người Elam dọn đường cho sự
nổi dậy của Babylon.
Babylon, một trong những thành phố nổi tiếng nhất
thế giới cổ đại, bắt đầu từ một ngôi làng nhỏ
thờ thần nông nghiệp Maduk.
Dưới thời các vua Ur, nó đã trở thành
một thành phố lớn. Sau cuộc
xâm lược của người Amorit, Babylon
mở rộng và chiếm lấy nhiều thành phố giàu có
như là Kish. Đối thủ chính
của Babylon lúc này là Lasha,
một thành bang thờ thần mặt trời ưu tú.
Tuy vậy, Lasha lại là kẻ chiếm
ưu thế hơn nhờ kiểm soát Ur
và giao thương với vịnh Bà Tư,
thậm chí đánh bại liên minh giữa Uruk và Babylon
do vua Sin-Mubalit lãnh đạo.
Năm 1792 trước công nguyên,
con trai của Sin-Mubalit
là Hammurabi lên ngôi
thay cha. Lúc này Sham-Shiadat
vẫn thống trị vùng thượng lưỡng Hà,
còn Lasha đang mạnh ở phía nam.
Hammurabi dành nhiều năm để củng cố
quyền lực, phát triển kinh tế và xây dựng
thành phố. Khi đế chế của Sham-Shiadat
rụp đổ, Hammurabi lợi dụng
tình hình hỗn loạn để thành lập lên liên minh
chống lại người Elam. Dù Lasha
từ chối tham gia, Hammurabi vẫn đánh
bại Elam và sau đó dùng ngoại giao
khôn khéo để hạ gục Lasha,
thống nhất vùng lưỡng Hà dưới vinh quang
của Babylon. Ông tự xưng là
hiện thân của thân, khác với các vua trước
chỉ coi mình là đại diện của thân.
Chiều đại của Hammurabi kéo dài
trong hòa bình và thịnh vượng cho đến khi
ông qua đời. Mặc dù các vị vua
sau này không giữ được di sản của ông,
Hammurabi vẫn được nhớ đến như là
một nhà cai trị lý tượng, và
Babylon tiếp tục là trung tâm kinh tế văn hóa
của khu vực trong nhiều thế kỷ sau đó.
Sau khi đế chế Babylon suy yếu,
người Assyria ở phía bắc
lưỡng Hà bắt đầu nổi dậy và xây dựng
lãnh thổ của mình. Từ trước đó
dân Assyria đã là trư hầu
của đế chế Akkad và thành lập nên
thành phố của riêng họ, Arshur.
Dưới thời vua Ilusuma,
dân Assyria đã tiến hành nhiều
cuộc cướp phá xoay quanh vùng lưỡng Hà.
Và theo thời gian, cả Assyria
lẫn Babylon dần hình thành mối quan hệ
đối thủ với nhau, tương tự như là
Athen và Sparta. Trong một
quáng thời gian nhất định, Babylon chiếm
ưu thế trước người Assyria. Nhưng sau
sự suy tàn của Babylon, người Assyria
lại có một cơ hội mới. Họ
duy trì hòa bình với các dân tộc lân cận,
trong đó có người Kassai, nhóm
người đã chiếm Babylon và thành lập triều đại riêng.
Tuy nhiên, không có nhiều thông tin
về người Kassai, ngoại trừ
việc họ bị người Elam đánh bại. Trong khi
đó, người Assyria từng thất bại
trước người Hungry trong một thời gian ngắn,
cuối cùng đã lật đổ được họ và bước
vào thời kỳ hương thịnh. Đến thế kỷ thứ
12 trước công nguyên thì xảy ra sự kiện
sụp đổ đồ đồng, khi một loạt
nền văn minh đồ đồng ở quanh địa trung hải
suy yếu nghiêm trọng, thậm chí là diệt vong.
Tuy nhiên, đề chế Assyria
vẫn chống chọi được và dần dần khôi phục quyền lực.
Đầu thiên đến kỷ thứ nhất trước công nguyên,
cả Babylon và Assyria
đều bị các bộ lạc du mục tấn công.
Nhưng dưới thời vua Ashurdan
đệ nhị, người Assyria đã tổ chức
các cuộc trinh phạt để khôi phục lãnh thổ của
Tổ tiên. Họ tàn phá
các thành phố đối thủ, phá hủy những tượng
thần và hành hạ tù nhân.
Ban đầu, người Assyria
thờ thần Ashur, vị thần nông nghiệp.
Nhưng khi bước vào thời kỳ chiến tranh,
hình tượng của thần Ashur lại biến đổi
thành thần chiến tranh và được cư dân
Assyria lẫn chư hầu của họ thờ phụ
như nhau. Họ cũng tiếp nhận
nhiều vị thần khác, tạo nên một hệ thống
tôn giá phức tạp với hàng trăm vị thần.
Dưới thời vua Ashurna Sherpa
đệ nhị, tên ông có nghĩa là
thần Ashur là người tạo ra người thừa kế.
Quyền lực của đề chế Assyria
lên đến đỉnh cao.
Quân đội của Assyria đều được công nhận
là đội quân mạnh nhất thế giới vào thời điểm đấy
với kỵ binh, công cụ công thành
và quân đội thường trực.
Ông mở rộng lãnh thổ đến tận cao nguyên
Armenia và ép các thành phố
xa xôi về cống nạp.
Một trong những thành tựu lớn nhất của ông là
xây dựng nhiều công trình quan trọng,
đặc biệt là Thư viện Ashurna Sherpa
và thành phố Nimrud và năm 879 trước công nguyên.
Theo các báo cáo ghi chép,
ông đã tổ chức một bữa tiệc
khổng lồ tại Calhoun với 70.000
khách mời, bao gồm 16.000 người
từ Kinh Đô và 5.000 khách nước ngoài.
Trong bữa tiệc, họ đã tiêu thụ
10.000 con bổ câu, 10.000 chân gấu
và 10.000 thùng rượu. Ngoài ra,
vợ Ashurna Sherpa
còn trưng bày vô số vàng bạc đá quý
để thể hiện sự giàu có và quyền lực của mình.
Và thông điệp ông muốn truyền tải
rất rõ ràng, ông là vị vua vĩ đại
nhất thế giới, vượt xa những vị vua
nhỏ bé ở phương Tây.
Việc xây dựng cao hồ ở vị trí trung tâm giữa
3 thành phố lớn, giúp Ashurna Sherpa
đệ nhị, quản lý đề chế
dễ dàng hơn và hạn chế quyền lực
của các gia đình quý tộc lâu đời.
Tuy nhiên, sau khi ông qua đời, đề chế
Assyria dần suy yếu do các
quý tộc tranh giành quyền lực. Sau
nhiều năm suy thoái, đề chế Assyria
tạm thời ổn định dưới thời của Tyler
Pileser Đệ Tam.
Ông thực hiện nhiều cải cách, xây dựng quân đội
thường trực, tổ chức lại hệ thống cống nạp
và đánh bại các liên minh chống đối.
Ông cũng áp dụng chính sách di dân
để kiểm soát các vùng có nguy cơ nổi đoạn,
đồng thời xây dựng hệ thống liên lạc
và gián điệp để củng cố quyền lực.
Dưới thời ông, Assyria chinh phục được
Babylon và mở rộng lãnh thổ.
Tuy nhiên, đề chế Assyria cuối cùng lại
sụp đổ dưới tay Nabopolasha,
một tướng lĩnh người Shadi.
Ông liên minh với các thành băng lân cận,
đánh bại Assyria và
cướp phá thủ đô Nineveh vào
năm 612 trước công nguyên.
Nabopolasha thành lập
đề chế tân Babylon,
lần đầu tiên đưa Babylon trở lại vị thế
trung tâm quyền lực của lưỡng Hà,
kể từ thời Hammurabi.
Dưới thời vua Nebuchadnezzar
đệ nhị, Babylon không chỉ khôi phục
thương mại mà còn xây dựng kỳ quan
vườn treo Babylon, nền học thuật
cũng phát triển rực rỡ, với nhiều ghi chép
lịch sử được lâu giữ. Tuy nhiên,
tất cả đã bị phá hủy khi đề chế tân
Babylon bị người Ba Tư đánh bại vào
năm 539 trước công nguyên,
chấm dứt sự tồn tại của nó
sau chưa đầy một thế kỷ.
Sau sự sụp đổ của đề chế Ba Tư,
vùng lưỡng Hà trở thành một phần của triều đại
Seleucus của người Hy Lạp,
và bước chân vào thời kỳ cổ điển.
Trong một quãng thời gian nhất định, dân lưỡng Hà
đã nằm dưới quyền kiểm soát của đề chế La Mã.
Nhưng đến giai đoạn trung đại,
Hồi giáo dần lan tỏa quanh vùng,
và lưỡng Hà chính thức bước sang một trang sử mới.
Và vừa rồi là toàn bộ nội dung
của bài viết. Nếu thấy video này hữu ích,
đừng quên like, share, subscribe kênh youtube của Spider Room
và bật nút chuông thông báo
để không bỏ lỡ những nội dung tương tự khác trong tương lai nhé!
Còn bây giờ, xin chào và hẹn gặp lại!
Đây là Spider Room, còn mình là Pink Dot.
See ya!