Ly Kỳ Phật Sống Luân Hồi 900 Năm, Hiện Tại Chuyển Sinh Thành 2 Người Vĩ Đại Này! - Đông Tây Kim Cổ

Đông Tây Kim Cổ
3.1K Người theo dõi
"Bạn có biết, trong Phật Giáo Mật Tông Tây Tạng, không phải chỉ duy nhất Đức Đạt Lai Lạt Ma mới chuyển sinh qua các đời, mà hơn 1000 năm qua, còn có 3 vị Bồ Tát khác cũng tuần tự chuyển sinh để duy hộ Phật Pháp và cứu độ chúng sinh. Đặc điểm của các vị ‘Phật Sống’ này là đều sinh ra với trí tuệ hơn người, nhớ được tất cả tiền kiếp, cũng như tu luyện nhanh gấp hàng vạn lần người phàm. Quá phi thường phải không nào!
Và Câu chuyện hôm nay chúng ta sẽ nói về ‘Phật Sống’ Cát Mã Ba (Karmapa) của Phật giáo Tây Tạng!
----------------------------------------
Hãy Follow chúng tôi trên nền tảng mới GanJingWorld
(Nền tảng Thế giới sạch):
https://ganjing.b3355.xyz/channel/1ffqsenpmu75KRUdd0dEnG46w1670c
#đôngtâykimcổ #luanhoi #biantamlinh #bian"
Đề kỳ vật sống luân hồi 900 năm hiện tại truyền sinh thành 2 người vĩ đại.
Bạn có biết trong vật giáo Mật Tông Tây Tạng
không phải chỉ duy nhất Đức Đạt Lai Lạt Ma mới truyền sinh qua các đời
mà hơn 1.000 năm qua còn có 3 vị Bồ Tát khác
cũng tuần tự truyền sinh để duy hộ vật pháp và cứu đội chúng sinh.
Đặc điểm của các vị vật sống này là đều sinh ra với chí huệ hơn người,
nhớ được tất cả tiền kiếp
cũng như tu luyện nhanh cấp hàng bạn lần người phàm quá phi thường phải không nào.
Và câu chuyện hôm nay chúng ta sẽ nói về vật sống Cát Mã Bà của vật giáo Tây Tạng.
Tứ Đại Bồ Tát của Tây Tạng
Quay về quá khứ của Tây Tạng ở thế kỷ thứ 8
lúc này vùng đất đang được cai quản bởi vương chiều Thổ Phồn
tín ngưỡng phổ biến nhất là Bồn Giáo.
Đây là tôn giáo từ Saman Giáo Nguyên Thủy phát triển thành, tin rằng vạn vật hữu đinh.
Vua Tán Phổ Thổ Phồn vì ngưỡng mộ Phật Pháp
đã mời Cao Tăng Ấn Độ là Liên Hòa Đại sĩ đến Tây Tạng để hoàng dưng Phật Pháp.
Đại sĩ Liên Hòa sinh khi ấy đã đại hiện thần thông,
đánh bại tất cả các đạo sĩ của Bồn Giáo khiến người Tạng chấn động.
Từ đó Phật Giáo dân dân thay thế Bồn Giáo trở thành tín ngưỡng chính của người Tạng.
Tuy nhiên canh đẹp không lâu dài,
một thế kỷ sau, tức giữa thế kỷ thứ 9
một vị Tán Phổ khác là Lãng Đạt Mã lên ngôi.
Ông đã ra lệnh tiêu diệt Phật Giáo, phục hưng Bồn Giáo,
sư sách gọi là Lãng Đạt Mã Diệt Phật.
Hơn trăm năm sau khi Lãng Đạt Mã Diệt Phật,
lần lượt bốn vị Bồ Tát đã hạ thế truyền sinh vào vùng đất Tây Tạng.
Nhờ đó Phật Giáo một lần nữa được phục hưng.
Lúc này, Phật Giáo phân chia làm bốn tông phái lớn là Hồng Giáo, Hoa Giáo, Bạch Giáo và Hoàng Giáo.
Cho dù các tông phái này có sự khác nhau về giao nghĩa,
nhưng họ đều có các đặc điểm chung.
Đó là đều có Phật sống.
Đây là phiên dịch từ tiếng Phạn sang chữ Hán rồi dịch Hán sang Việt.
Thực ra cách phiên dịch này không đúng.
Tiếng Phạn gọi những cao tăng này là Splun Pavisku,
nghĩa là biến hóa thân, cũng gọi là hóa thân, cao tăng truyền sinh được chứng nhận.
Những cao tăng này nếu một đời tu không viên mãn,
thì sẽ lên tiếp luân hồi để tiếp tục tu hành cho đến khi viên mãn.
Do đó mới có việc đi tìm linh đầu truyền thế.
Các tông phái đều phải tìm được linh đầu truyền thế của giáo chủ tông phái mình.
Bởi vì các tăng nhân bình thường truyền sinh bao nhiêu đời
thì cũng chỉ là tự mình tu hành tự giải thoát, chứ không có trách nhiệm khác.
Tuy nhiên, nhân vật lãnh đạo tông phái thì khác.
Họ gánh vác trách nhiệm để giáo phái tiếp tục phát triển.
Do đó, sau khi những nhân vật lãnh đạo này viên dịch,
thì việc lớn nhất của tông phái là tìm truyền thế của họ.
Thời gian tìm từ vài tháng đến vài năm.
Giáo chủ của Hoàng Giáo chính là Đạt Lai Lạt Ma
và Ban Tiền Lạt Ma mà mọi người đã quen thuộc.
Giáo chủ của Hoa Giáo gọi là Tát Ca Pháp Vương
còn giáo chủ của Bạch Giáo gọi là Cát Mã Ba.
Cát Mã Ba đời thứ nhất là Nỗ Tùng Kiền Ba,
sống vào thế kỷ 12 cho đến Cát Mã Ba đời thứ 15
là Ca Kháp Đa Kiệt, đều đã từ trần.
Điều này có nghĩa là Cát Mã Ba đã liên tiếp truyền sinh hơn 10 lần trong nhân gian
và đã tu luyện gần 800 năm rồi.
Hơn nữa vẫn còn phải tiếp tục tu luyện,
do đó phải tìm được vị Cát Mã Ba đời thứ 16.
Lý Kỳ đi tìm truyền thế của Cát Mã Ba.
Năm 1922, Cát Mã Ba đời thứ 15,
Ca Kháp Đa Kiệt viên dịch ở chùa Sở Phố ở gần La Sa.
Trước khi viên dịch, Ngài để lại bức thư được điềm phong kín cho các đệ tử.
Đây là truyền thống của các vị Cát Mã Ba các thế hệ.
Trong bức thư có khăn gian các đệ tử những việc cần chú ý
và phương vị cũng như thời gian mà Ngài sẽ truyền sinh.
Bức thư có đoạn viết rằng,
phía đông của Sở Phố, gần con sông, nơi này thuộc về Lâm Cách Tát,
bên ngoài ngôi nhà đất ở trên núi Ba Nhĩ,
có hai chữ A Đột, đây là một gia đình vương tộc.
Ngày trao đời là 15 tháng 6 năm Tý,
tức ngày 15 tháng 6 năm 1924.
Ba năm sau khi Cát Mã Ba thứ 16 Giáng sinh,
tức là năm 1927,
ba đệ tử của Cát Mã Ba thứ 15
cũng chính thức xuất phát từ chùa Sở Phố,
đi về phía đông để tìm linh đồng truyền thế của Sư Phụ.
Quả thực ở khu vực cai quản của Đức Cách Thổ Tì,
các đệ tử đã tìm được quả núi tên là núi Ba Nhĩ.
Trên núi quả thực có một cung điện,
trên cổng cung điện có khác chữ A Đột Cung.
Gõ cồng đêm mở cổng, các đệ tử mới biết,
thì ra đây là nhà của Sách Vượng Ôn Trúc, Vương Tử, Đức Cách.
Sau khi các đệ tử nói rõ lý do đến,
Sách Vượng Ôn Trúc mở to mắt ngạc nhiên.
Sao? Con trai tôi là linh đồng truyền thế của Phật Sống Ư?
Làm sao có thể như thế được?
Mặc dù ông không tình huyện,
nhưng vẫn sai người hầu bế con trai ba tuổi ra.
Cậu bé vừa ngủ dậy, mắt vẫn còn niêm diêm.
Nhưng thật kỳ lạ là,
vừa nhìn thấy những vị khách này,
cậu bé lập tức mở to mắt,
giọng non nốt gọi tên và biệt danh từng người.
Việc này khiến tất cả mọi người đều kinh ngạc.
Người trà như hóa đá,
các đệ tử biết rõ cậu bé trước mặt chính là Thượng Sư Truyền Sinh.
Tuy nhiên, các đệ tử vẫn rất nghiêm khắc cẩn trọng,
thực hiện toàn bộ thủ tục chứng nhận phức tạp.
Cuối cùng mới chính thức tuyên bố,
con trai của Sách Vượng Ôn Trúc,
chính là linh đồng truyền thế của Cát Mã Bà thứ 15.
Đợi đến khi linh đồng 7 tuổi,
các trường lão của Bạch Giáo chính thức đến nhà Sách Vượng Ôn Trúc,
xuống tóc cho linh đồng,
và công nhận ông trở thành Cát Mã Bà đời thứ 16 của Phái Cát Cử, Bạch Giáo.
Sau khi thăng tỏa kế vị,
Cát Mã Bà nhỏ tuổi được đưa đến tu viện chính của Bạch Giáo,
là Chùa Sở Phố để học tập mật pháp của Phái Cát Cử.
Trượp mặt đến một ngày năm 1944,
Cát Mã Bà luôn ở Chùa Sở Phố,
bế quan không ra ngoài, bỗng nhiên xuất quan.
Ông tuyên bố với các đệ tử rằng,
tôi muốn đến Đê-Pan, Ấn-Độ và Bù-Tàn để thăm bái các thánh tích.
Mọi người đều không hiểu tại sao,
Cát Mã Bà mới 20 tuổi lại muốn xuất ngoài du hành.
Lẽ nào kinh thư trong chùa không đủ cho ngày tụ tập,
phải đi tây phương lấy kinh trăng?
Hay là đây là biểu hiện tâm tính của thiếu niên?
Thế giới rộng lớn như thế này muốn đi ngao du thăm thú?
Phải mấy năm sau đó,
thì những câu hỏi này mới được giải đáp.
Như khi đó, Cát Mã Bà đã nói dối,
nên các đệ tử chỉ chiều theo mà làm thôi.
Rất nhanh chóng, Cát Mã Bà dẫn một đội ngũ người ngựa xuất ngoài.
Sau này, họ lại lục tục đi mấy lần đến Ấn Độ,
Sri Lanka xây dựng mối liên hệ với lãnh đạo các nước.
Năm 1958, Cát Mã Bà đột nhiên bảo các đệ tử đặt làm một loại hòm gỗ chắc chắn,
sau đó can dặn đem những kinh thư phục tạng quan trọng nhất của Cát Mã Bà.
Và những pháp khí quan trọng đã lưu truyền mấy trăm năm,
tất cả bỏ vào hòm gỗ.
Mấy tháng sau, Cát Mã Bà trụ tập tất cả các đệ tử lại.
Ngài mìm cười và nói với mọi người rằng,
mấy trăm năm trước, Đại sĩ Lên Hoa Sinh đã có sự ngôn rằng,
khi chim sát bay trên bầu trời, gỡ sát chạy trên mặt đất,
người tạng sẽ như con run cái kiến phân tán khắp thế giới,
thì đó chứng là thời kỳ mạt pháp.
Hiện nay, thời kỳ đó đã đến rồi.
Nếu các trò nguyện ý thì hãy theo ta rời đi.
Người không nguyện ý thì không miễn cưỡng.
Các đệ tử tới tấp bay tòa nguyện ý đi theo sư phụ.
Tháng 2 năm 1959, Cát Mã Bà dẫn theo 160 tăng nhân xuất phát từ chùa Sở Phố.
Do chuẩn bị đầy đủ, liên trì ba tuần, họ đã vượt qua dãy Himalaya đến Bù Tàn.
Lúc này, những mối quan hệ mà Cát Mã Bà đã thiết lưỡi được trong mấy năm trời đã khởi tác dụng.
Hoàng gia Bù Tàn đã nganh đón cả đoàn.
Quốc phương Sri Lanka nghe tiền cũng vội vàng đến.
Con xây chùa Long Đức đang trốn an thân cho họ.
Cát Mã Bà thứ 16 rời khỏi Tây Tạng.
Chỉ một tháng sau, tức tháng 3 năm 1959, biến cố Lhasa nổ ra.
Khởi nghĩa Tây Tạng khiến khoảng 89.000 người thương vong.
Đạt lại Lạt Mã thứ 14 cũng tị nạn đến Ấn Độ.
Toàn bộ Tây Tạng rời vào sự kiểm soát trực tiếp của Mao Trạch Đông
và chính quyền vô thần ở Trung Quốc.
Năm 1951, chính quyền Trung Quốc mở cuộc tan sát người Tây Tạng.
Trung Quốc đã phá hủy trên 90% chùa trên Tây Tạng.
Thiêu hủy kinh điển đã được bảo quản hàng trăm năm,
cưỡng ép đại bộ phận tăng ni hoàn tục.
Nếu không phục tùng thì kết cục chỉ có một chữ chết.
Từ năm 1958 đến năm 1961, trong vòng 3 năm ngắn ngùi,
dân số khu vực người Tạng đã giảm một phần ba.
Sau khi biến cố La Sa nổ ra,
các đệ tư của Cát Mã Bà mới thấy được tầm nhìn sa trông rộng của Thượng Sư.
Thời gian thấm thoát lại 20 năm trôi qua.
Năm 1981, Cát Mã Bà 58 tuổi được phát hiện ra bị ung thư.
Khi đó, Ngài đang ở Mỹ.
Thế là các đệ tư thúc giục Ngài mau chóng đến bệnh viện chữa trị.
Nhưng Cát Mã Bà lại cười và nói,
công việc đời này của ta đã hoàn thành rồi.
Có đi bệnh viện hay không thì cũng không có gì khác biệt.
Các trò đã muốn ta đi thì ta sẽ thuận theo ý kiến các trò.
Quả nhiên, lời tiên tri của Cát Mã Bà về vận mệnh của mình,
có đi bệnh viện hay không cũng không có gì khác biệt, đã ứng nghiệm.
Mấy ngày sau, Cát Mã Bà thứ 16 đã phiền tịch.
Nhưng điều khiến các đệ tư cảm thấy khó xử là,
trong bức mật thư mà Cát Mã Bà thứ 16 đề lại,
lại không nói rõ phương vị truyền thế,
thậm chí cả việc truyền thế cũng không nói đến.
Như vậy, làm thế nào để các đệ tư tìm được Cát Mã Bà đời thứ 17 đây?
Truyền sinh thành hai linh đồng khác nhau.
Đúng lúc mọi người không biết làm thế nào thì có tin tức truyền đến.
Một vị nhân Ba Thiết, phái Cát Cử ở Tây Tạng,
đã tìm được linh đồng truyền thế của Cát Mã Bà.
Ông ấy là Đại Tư Đồ nhân Ba Thiết,
là một nhân vật lãnh đạo quan trọng của phái Cát Cử,
là đệ tư thân truyền của Cát Mã Bà đời thứ 5.
Trong nhân thế, tình đến nay cũng đã lân hồi khoảng 600 năm rồi.
Đại Tư Đồ nhân Ba Thiết tìm được linh đồng truyền thế tiên là Đa Kiệt,
trao đời năm 1985 ở Sương Đô Tây Tạng,
được mấy vị nhân Ba Thiết chứng nhận,
đồng thời được đặt Lai Lạt Ma chứng nhận.
Thế nhưng, đến năm 1992,
một vị nhân Ba Thiết của phái Cát Cử là Hạ Mã Bà nói rằng,
ông đã tìm được linh đồng truyền thế của Cát Mã Bà.
Hạ Mã Bà là ai?
Ông cũng là một nhân vật quan trọng trong phái Cát Cử.
Ý kiến của ông quan trọng bởi vì ông cũng là một vị hóa thân.
Giữa ông và Cát Mã Bà có truyền thống xác định linh đồng truyền thế lẫn nhau.
Vị linh đồng truyền thế mà Hạ Mã Bà xác nhận cũng tên là Đa Kiệt,
chỉ có điều là Đa Kiệt sinh ở La Sa,
vị Đa Kiệt trước đó sinh ra ở Sương Đô.
Đa Kiệt La Sa được Hạ Mã Bà và mấy vị nhân Ba Thiết khác ủng hộ,
cũng chính thức thăng tọa trở thành Cát Mã Bà đời thứ 17.
Thế là đồng thời của hai vị Cát Mã Bà,
hơn nữa hai vị đây đều cho rằng mình là chính thống.
Việc này quá là khó xử,
ai mới là người có lý?
Thế thì phải xem quá trình đi tìm linh đồng truyền thế của hai người.
Hai vị Cát Mã Bà ai thật, ai giả?
Cả hai vị đều có những bằng chứng rất mạnh mẽ,
Vậy có khả năng là cả hai vị Cát Mã Bà đều là thật không?
Thực sự đã từng xảy ra câu chuyện như vậy.
Hai người cũng có chung ký ước đời trước.
Việc này được chứng thực trong một nghiên cứu của một trường đại học của Mỹ.
Đại học Virginia có một trung tâm nghiên cứu thần học.
Người sáng lập là Ian Stevenson.
Cả cuộc đời ông đã nghiên cứu về luân hồi truyền thế.
Địch thần chứng thực khoảng hơn một nghìn trường hợp luân hồi truyền thế.
Sau khi Stevenson nghỉ hữu,
học trò của ông là Jim B. Tucker đã tiếp nhận công việc của ông.
Vì trung tâm nghiên cứu đã có danh tiếng trên thế giới,
nên ngày nào cũng nhận được thư từ từ các người trên thế giới.
Nói rằng con của họ có ký ức luân hồi truyền thế.
Hàng ngày, Tucker đều đọc kỹ từng bức thư,
chọn ra những trường hợp đáng tin cậy nhất, sau đó đích thần đi xác mình.
Tuy nhiên mỗi năm, số người trường hợp được ông xác thực rất ít,
chỉ khoảng một phần vạn được chứng thực thành công.
Một ngày năm 1988, Tucker theo thường lệ mở một bức thư từ London, Anh ra.
Một bà mẹ biết rằng con gái cô là Sophia, mới bốn tuổi,
nhưng lại luôn nói với cô rằng bé đã từng có dâu quay nón, lái xe tăng đánh quân địch.
Trong thư còn kèm theo một bức ảnh chiếc xe tăng,
là loại model xe tăng mà con gái cô đã trì ra là đã từng lái.
Tucker chẳng chú xem, đây là chiếc xe tăng T-72 của liên xô cũ chế tạo,
nổi tiếng trong cuộc chiến tranh Iran-Iraq.
Tucker rất kinh ngạc, bởi vì hai năm trước,
ông đã chứng thực một cậu bé người Mỹ 5 tuổi, tên là Wayne,
nói rằng đời trước của cậu cũng ở chiến tranh Iran-Iraq,
cũng lái chiếc xe tăng như thế.
Chiến tranh Iran-Iraq nổ ra năm 1980,
đời trước của Wayne đã chết trong năm đầu tiên của cuộc chiến.
Lẽ nào, Wayne và Sophia đã từng là một đối thủ trong chiến tranh Iran-Iraq?
Việc này khiến Tucker hưởng thú,
ông lập tức bay đến London thăm nhà Sophia.
Đến đây, Tucker đã vô cùng sừng sốt,
khi những ký ức tiên kiếp mà Sophia nhớ lại hoàn toàn giống hẹt với Wayne,
cậu bé người Mỹ kia.
Cả hai đều là lính Iraq,
đều có một người vợ tên là Dixen,
đều có ba con, một trai, hai gái.
Hơn nửa phương thức mà cả hai tử vong đều giống hẹt nhau,
đều là lái xe tăng T-72 tấn công,
bị trúng đạn pháo của Iran,
bị chết cháy trong xe tăng.
Hơn nữa, trong xe tăng, khi đó, còn có hai đồng đội khác.
Điều khiến Tucker càng kinh ngạc hơn là,
trên đuôi phải của cả Sophia và Wayne đều có vết bớt đen rất rõ ràng.
Cả hai đều nói, khi đó, bị một viết đạn bắn trúng đuôi phải.
Câu chuyện này cực kỳ hiếm gặp trong sự nghiệp nghiên cứu luân hồi truyền thế của Tucker.
Sau này, Tucker đưa tư liệu của Sophia và Wayne vào cùng nhau,
trên trang bìa có viết, hai người có chung ký ức tiền kiếp.
Vậy hai vị cát mã ba đời thứ 17 này,
liệu có phải giống như Sophia và Wayne là hai người có chung ký ức kiếp trước không?
Hoặc là nói, đó là các phân thân của cuộc một người truyền thế trăng.
Đó cũng là khả năng không thể loại trừ.
Nhưng trong truyền thống truyền thế của Phật giáo tạng truyền thì chưa từng xảy ra.
Do đó, sự nghi ngờ trong tâm các tín đồ Phật giáo tạng truyền vẫn không thể gỡ bỏ đi được.
Đến nay, vẫn là một công án chưa có lời giải.
