Ngày 1/1/2100, vào thời khắc quan trọng cả thế giới cùng bước sang thế kỷ XXII, “bức thư thế kỷ” sẽ được trịnh trọng công bố.

MIỀN TỊNH THỔ
2K Người theo dõi
2.1K Lượt xem video·22 thg 3, 2025
Trong bức thư có đoạn: “Hôm nay, trước núi Tản sông Đà, chúng tôi - những Sơn Tinh của thời đại mới - những người xây dựng thủy điện Hòa Bình trên sông Đà Việt Nam và Liên Xô xin gửi đến các thế hệ mai sau những dòng tâm huyết...”.
Lá thư này là một công trình tập thể bởi đã được chọn lựa từ ý hay, lời đẹp của nhiều lá thư với 2 lá thư một bản tiếng Việt và một bản tiếng Nga. Những dòng thư được viết ra là những cảm xúc, tình cảm chân thật nhất, cảm động nhất của những người đã kiến tạo nên đập thủy điện Hòa Bình. Mai sau, khi thế hệ trẻ đọc lá thư sẽ biết rằng ngày xưa, lớp cha ông đã lao động như thế nào.
Câu chuyện bí ẩn về lá thư ở đầm Thủy Điện Hòa Bình chưa bao giờ hết thu hút.
Cho đến hôm nay, xung quanh chuyện lá thư này có rất nhiều huyền thoại được kể.
Tuy nhiên, đâu mới là sự thật về bức thư có 1 không 2 này?
Tất cả thông tin về bức thư bí ẩn này chỉ có vèn vẹn mấy dòng chữ.
Đến năm 2100, nhà máy hết hạn sử dụng phải phá đi thì lúc đó mới được mở lá thư ra xem.
Kể từ đó, liên tiếp các câu hỏi được đặt ra.
Với nhiều giả thiết khác nhau, tại sao lại có lá thư này?
Ai viết? Nhưng ai tham gia chuyển lá thư vào khối bê tông?
Tại sao đến năm 2100 mới được mở? Và lá thư đó viết điều gì?
Bức thư được xem là kỳ vật thiêng liêng của những người xây dựng Thủy Điện Hòa Bình gửi thế hệ mai sau.
Thư được chép thành 2 bản, mỗi bản để trong 1 ống đồng được hút chân không.
Mỗi ống để trong 1 hộp mica, mỗi hộp lại được để trong 1 khối bê tông nặng 12 tấn.
Khối thứ nhất đã gửi xuống lòng sông Đà, với hàng nghìn khối bê tông khác vào ngày ngăn sông Đà đợt 1,
ngày 12 tháng 1 năm 1983 như để khẳng định hùng hồn cho một quyết tâm thép.
Bàn tay và khối ốc kỳ diệu của con người nhất định sẽ biến sông đen trở thành dòng sông ánh sáng.
Cùng ngày hôm đó, khối bê tông thứ 2 có hình dáng như khối kim tự tháp,
được đặt trên cao trình 86 mét bên mở trái sông Đà.
Người được ủy quyền đặt bức thư vào khối bê tông là ông Vũ Mão,
bí thư thứ nhất Trung Ưng Đoàn và nữ anh hùng ở vũ trụ Liên Xô Valentina Grecova.
Được biết, vào ngày 1 tháng 1 năm 2100,
tức là vào thời khắc quan trọng cả thế giới cùng bước sang thế kỷ 22,
bức thư Thế Kỷ sẽ được trịnh trọng tuyên bố,
đó sẽ là thời khắc vô cùng thiên liêng để chúng ta từng nhớ công lao to lớn của một thế hệ anh hùng
đã gắn tên tuổi của mình với sự trường tồn của một công trình thế kỷ, công trình thủy điện hòa bình.
Câu chuyện về bức thư Thế Kỷ gửi thế hệ mai sau ở nhà máy thủy điện hòa bình
được đưa vào lưu giữ trong một khối bê tông lớn.
Đến nay, nội dung trong bức thư vẫn còn là một bí ẩn.
Qua câu chuyện của ông Đỗ Xuân Duy, 70 tuổi,
người được giao nhiệm vụ dịch bức thư ra tiếng Nga đã chia sẻ,
chúng ta sẽ biết thêm một số thông tin xoay quanh lá thư bí mật này.
Khoảng đầu những năm 70 của thế kỷ trước,
nước ta chuẩn bị xây dựng một nhà máy thủy điện lớn trên dòng sông Đà.
Ngày 6.11.1979, công trình thủy điện hòa bình chính thức khởi công xây dựng.
Sở dĩ chọn ngày này là vì hôm sau, tức là ngày 7.11.1979,
là ngày kỷ niệm 62 năm hết mạng tháng 10 Nga,
nhân dịp ấy đoàn đại biểu cấp cao của Liên Xô sang thăm Việt Nam
và tham dự lễ khởi công công trình.
Trong những năm 1981-1982, công trình thủy điện hòa bình bước vào giai đoạn khẩn trương,
đảm bảo tiến độ ngăn sông Đà đợt 1 vào đầu năm 1983.
Ông Boga Tchenko, tổng chuyên viên Liên Xô trên công trình nhà máy thủy điện hòa bình đề xuất,
theo thông lệ ở Liên Xô và nhiều nước trên thế giới,
trước khi ngăn sông, những người xây dựng thường viết một bức thư
và bỏ vào một chiếc chai hoặc lọ thủy tinh,
đậy kín rồi trôn vào thân đập và thường gọi đó là bức thư gửi hậu thế.
Họ hy vọng, hàng trăm năm sau khi con đập không còn hoặc người ta phá đi
do không còn hiệu quả phát hiện nữa,
chai đựng thư đó sẽ trôi giặt,
ai đó bắt được mở ra xem sẽ biết rằng
người ta đã xây dựng công trình này như thế nào,
khó khăn bất vả ra sao để có được nguồn điện cho đất nước.
Ngay sau khi ý tưởng của ông Boga Tchenko về viết bức thư gửi hậu thế được chấp thuận,
tổng công ty đã nhận được rất nhiều ý kiến ủng hộ của đông đảo cán bộ,
chuyên gia, công nhân trực tiếp làm việc trên công trường,
của các nhà văn, nhà báo, nhân sĩ, trí thức trên mọi miền tổ quốc.
Nhà báo Thép Mới khi đó đang công tác ở báo Sài Gòn Giải Phóng.
Điều đặc biệt là nhà báo Thép Mới chưa từng đến công trường,
chỉ mới đọc qua báo chí và nghe kể lại trong bức thư có đoạn viết.
Hôm nay, trước núi tản sông Đà, chúng tôi, những sơn tinh của thời đại mới,
những người xây dựng thủy điện hòa bình trên sông Đà, Việt Nam và Liên Xô,
xin gửi đến các thế hệ mai sau những dòng tâm huyết.
Nội dung của các bức thư gửi về công trường đều đề cập đến quyết tâm, nỗ lực,
cũng như sự hy sinh to lớn của những người xây dựng thủy điện,
đồng thời cũng nhắc đến hậu phương vững chắc của cả nước đã đóng góp từ cây kim,
sợi chỉ đến lương thực cho cán bộ, công nhân trên công trường.
Ban tổ chức đã tập hợp lựa chọn những nội dung hay nhất,
độc đáo nhất tạo thành một bức thư chung.
Nhiều người cho rằng bức thư đó là sự dự đoán được tình hình đất nước.
Có người lại nói nó mang yếu tố tâm linh kỳ bí, làm bùa chấn yểm.
Nói chung, có rất nhiều lời đồn thổi huyền bí về nội dung bức thư
làm cho câu chuyện thêm phần đi kỳ.
Nhưng đó chỉ là lời đồn thổi vô căn cứ,
thư được viết trên một chất liệu đặc biệt gửi từ Liên Xô Sang,
thư dài một cái năm trang đánh máy, khoảng 700 chữ.
Vậy tại sao lại phải đến năm 2100 mới được mở?
Vì là lá thư gửi thế hệ mai sau nên cần phải lựa chọn những người không sinh ra lớn lên
ở thời điểm gắn lá thư ấy, năm 1983.
Nếu chọn đúng 100 năm sau thì rất có thể nhiều người sinh năm này vẫn còn sống,
nên phải chọn hẳn sang năm 2100 bởi khó ai có thể sống đến 117 tuổi được.
Nghi lễ đặt lá thư cũng được tiến hành rất trang trọng,
đặc biệt việc lựa chọn 4 người để bắt 4 vít gắn tấm biển với khối bê tông.
4 người được chọn phải đáp ứng được 8 tiêu chí,
phải có già, có trẻ, phải có nam, có nữ, phải có Việt Nam và Liên Xô,
và phải có người ở trên trời, người ở dưới đất.
Sau khi họp bàn, ban tổ chức quyết định chọn ông Borga Trenko,
người Liên Xô đại diện cho người già, lúc đó ông đã ngoài 60 tuổi.
Ông Vũ Mão, bí thư thứ nhất Trung ương đoàn, lúc đó 44 tuổi, đại diện cho người trẻ.
Ông Ngô Xuân Lộc là tổng chỉ huy công trường, người Việt Nam, đại diện cho người dưới đất,
nhưng còn đại diện phái nữ và là người trên trời thì chưa biết chọn ai.
Lúc đầu, ban tổ chức dự tính chọn 1 trong 2 người là chị Lê Thị Ngừng,
nữ thợ lái máy xúc đầu tiên ở Việt Nam, lãnh hùng lao động,
hoặc nữ kỳ thủ vô địch cờ vô quốc tế người Georgia,
thành viên đoàn đại biểu thanh niên của Liên Xô sang thăm Việt Nam.
Tuy nhiên cả 2 người này mới chỉ đáp ứng được tiêu chí là phụ nữ mà thiếu tiêu chí trên trời.
Cuối cùng, ban tổ chức chọn nữ phi hành gia vũ trụ thứ 2 của thế giới là David Skia, 30 tuổi,
cũng là thành viên của đoàn Liên Xô sang thăm Việt Nam.
Chiều ngày 30 tháng 1 năm 1983, tại Sân Nhà Điều Độ Trung Tâm,
một buổi lễ trang trọng được tổ chức với sự tham gia của 250 đại biểu thanh niên Liên Xô,
350 đại biểu thanh niên Việt Nam và hàng ngàn công nhân lao động trên công trường.
Ông Ngô Xuân Lộc đọc bức thư bằng tiếng Việt.
Ông Giá Xép Linh đọc bằng tiếng Nga.
Sau đó, 2 thư được quận lại, cho vào thói đồng được khoan rỗng và có nắp đậy,
rồi bỏ vào lòng ống bê tông.
Tiếp đó, 4 người được lựa chọn dùng tuô viết, bắt ốc, cố định tấm biển.
Nơi đây, cất giữ lá thư gửi các thế hệ mai sau.
Thư được mở ngày 1 tháng 1 năm 2100.
Lá thư này là một công trình tập thể,
bởi đã được chọn lựa từ ý hay lời đẹp của nhiều lá thư.
Với 2 lá thư, 1 bản tiếng Việt và 1 bản tiếng Nga,
những dòng thư được viết ra là những cảm xúc, tình cảm chân thật nhất,
cảm động nhất của những người đã kiến tạo nên đập Thủy Điện Hòa Bình.
Mai sau, khi thế hệ trẻ đọc lá thư này,
sẽ biết rằng ngày xưa lớp cha ông đã lao động như thế nào.
Thủy Điện Hòa Bình, tên gọi công trình của tình hữu nghị Việt Nam Liên Xô
là biểu tượng tốt đẹp nhất, là nguyện vọng tha thiết nhất.
Hãy giữ cho bầu trời trên nước nước Việt Nam và Liên Xô
và trên tất cả các lục địa đại dương của trái đất này
mãi mãi được hòa bình.
