Bước ngoặt kinh tế thế giới? Cuộc chiến 'thuế quan với tất cả' của Tổng thống Trump

Đại Kỷ Nguyên - Bình luận
4K người theo dõi
705 Lượt xem video·26 thg 3, 2025
Bước ngoặt kinh tế thế giới? Cuộc chiến 'thuế quan với tất cả' của Tổng thống Trump
Kính thưa quý vị, cuộc cách mạng thuế quan quốc tế của Trump và cái nhìn về quá khứ và hiệp tạng của thuế quan
theo nhà bình luận thời sự Phương Vĩ nói
Chính quyền tổng thống Trump đang khai triển một loạt các biện pháp thuế quan quy mô lớn tác động đến nhiều đối tác quan trọng
Nhà bình luận thời sự người Mỹ gốc hòa Phương Vĩ nhận định đây là một động thái vãn quốc quan thuế
chưa từng có đánh dấu sự thay đổi căn bản trong chính sách thương mại của Hoa Kỳ
nơi hàng xào thuế quan biến thành 500 thu hút đầu tư và giúp nước Mỹ hùng cường trỗi dậy
Hoa Kỳ đã và đang triển khai 5 vòng thuế quan nhắm trực tiếp vào các đối tác thương mại lớn như Trung Quốc, Canada, Mexico và Liên minh châu Âu
Đáng chú ý, chính sách thuế quan đối đẳng dựng kiến khởi động từ ngày 2 tháng 4 sẽ mở rộng phạm vi ảnh hưởng tới gần như tất cả các quốc gia và các mặt hàng
một động thái chưa từng có tiền lệ. Ngày càng có nhiều dấu hiệu cho thấy thuế quan không còn là công cụ đàm phán
của chính quyền Tổng thống Trump mà đã trở thành một mục tiêu chính sách. Phản ứng tất yếu từ thuế quan là sự trả đũa,
nguyên tắc ăn miếng trả miếng trong thương mại quốc tế là điều dễ hiểu. Việc Hoa Kỳ leo thang thuế quan làm dấy lên lâu ngại
về một cuộc chiến tranh thương mại toàn cầu đe dọa trật tựu kinh tế quốc tế hiện hành. Câu hỏi đặt ra là liệu trật tựu kinh tế
thế giới đang vận hành có nguy cơ bị đảo lộn hoàn toàn không? Và liệu thế giới có bước vào một kỷ nguyên
cạnh tranh khốc liệt như thời xuân thu chiến quốc? Các nước láng giềng của Hoa Kỳ như Canada, Mexico và các đồng
minh châu Âu và nhiều quốc gia khác đang tỏ ra sửng sốt, thậm chí trận mắt há hốc mồm trước tình hình này.
Nhà đầu tư huyền thoại Warren Buffett đã tẳng thắn bí von thuế quan là hành vi chiến tranh, cảnh báo về
nguy cơ lọng phát và những hệ lụy tiêu cực cho tương lai kinh tế. Vậy logic đằng sau chính sách thuế
quan của Tổng thống Trump là gì? Liệu đây có phải là nước đi đúng đắn, và nó sẽ mang lại điều gì cho
Hoa Kỳ và thế giới? Đây là những vấn đề trọng tâm mà chúng ta sẽ phân tích trong chương trình hôm nay.
Để bắt đầu, chúng ta cần hiểu rõ khái niệm cơ bản về thuế quan. Thuế quan trong tiếng Anh là tariff,
là loại thuế mà chính phủ áp đặt lên hàng hóa, xuất nhập khẩu. Nói một cách đơn giản,
khi hàng hóa từ một quốc gia muốn nhập khẩu vào quốc gia khác, chính phủ nước nhập khẩu sẽ thu
một khoản phí phụ trội. Khoản phí này có thể do nhà nhập khẩu hoặc nhà xuất khẩu chi trả.
Tuy nhiên, quy luật thị trường bảo đảm rằng, gánh nặng thuế cuối cùng sẽ chuyển một phần hoặc toàn
bộ lên giá thành sản phẩm, và người tiêu dùng sẽ là người chịu chi phí này. Thuế quan có thể được
áp dụng theo mức cố định, ví dụ 100 USD trên một tấn hàng, hoặc theo tỷ lệ phần trăm giá trị hàng
hóa. Ví dụ như 10% giá trị lâu hàng. Vậy mục đích của việc áp thuế quan là gì?
Về cơ bản, có ba mục tiêu chính. Thứ nhất, bảo hộ ngành sản xuất nội địa.
Ví dụ như thép Trung Quốc có giá thành cạnh tranh hơn thép Hoa Kỳ. Nếu thép Trung Quốc tràn vào
các thị trường Hoa Kỳ, các nhà máy thép Hoa Kỳ có thể bị phá sản. Do đó, Hoa Kỳ có thể áp thuế
quan lên thép nhập khẩu từ Trung Quốc, nâng giá thép nhập khẩu lên cao hơn, tạo lợi thế cạnh
tranh cho thép sản xuất trong nước. Mục tiêu thứ hai là tăng nguồn thu ngân sách.
Trong giai đoạn đầu lập quốc, thuế quan từng là nguồn thu chủ yếu của chính phủ Hoa Kỳ,
khi thuế thu nhập cá nhân chưa được áp dụng. Thứ ba, thuế quan có thể được sử dụng như một công
cụ trả đũa hoặc để đạt được các mục tiêu chính trị đặc biệt. Ví dụ Tổng thống Trump từng tăng
thuế 10% lên hàng hóa Trung Quốc để gây áp lực, buộc Bắc Kinh phải ngăn chặn dòng chảy
phê-tanin vào Hoa Kỳ. Thuế quan thường được phân loại thành hai hình thức chính. Thuế nhập khẩu đánh
vào hàng hóa nhập khẩu và thuế xuất khẩu đánh vào hàng hóa xuất khẩu. Tuy nhiên, thuế xuất khẩu ít
phổ biến hơn, bởi hầu hết các quốc gia đều khuyến khích xuất khẩu. Chương trình hôm nay sẽ tập trung
vào thuế nhập khẩu. Về tác động tâu cực, thuế quan làm tăng giá hàng hóa nhập khẩu,
khiến người tiêu dùng phải chi trả nhiều hơn. Để hình như Canada, với 77% hàng xuất khẩu hướng
đến thị trường Hoa Kỳ. Thuế quan từ Hoa Kỳ sẽ khiến hàng hóa Canada trở nên đắt đỏ hơn,
có thể làm giảm sức cạnh tranh và doanh số xuất khẩu, ảnh hưởng đến nguồn thu của Canada.
Nếu các quốc gia đồng loạt áp thuế quan, thương mại toàn cầu sẽ bị kìm hãm, tạo ra rào cạn
và làm giảm tổng kim ngạch thương mại. Hậu quả là hàng hóa cần nhập khẩu trở nên đắt đỏ,
người tiêu dùng gánh chịu chi phí cao hơn, hàng hóa xuất khẩu gặp khó khăn trong việc tiếp cận
thị trường, doanh nghiệp xuất khẩu giảm lợi nhuận. Thêm vào đó, thương mại suy giảm,
nguồn thu thuế quan của chính phủ cũng giảm suất. Tóm lại, thuế quan là con dao hai lưỡi. Nó có thể
giúp một quốc gia giải quyết một số vấn đề, nhưng nếu sử dụng không khéo, sẽ gây tổn hại ngược lại.
Thuế quan đã tồn tại song hành cùng lịch sử các quốc gia, tuy nhiên trong kỷ nguyên hiện đại,
đặc biệt là trước khi Tổng thống Trump lên nắm quyền, chúng ta ít nghe đến chiến tranh thuế quan.
Lý do là trong khoảng hai ba thập niên qua, thuế quan đã giảm xuống mức rất thấp.
Dữ liệu từ Tổ chức Thương mại Thế giới WTO cho thấy thuế quan tối hệ quốc trung bình trên toàn
cầu năm 2011 chỉ còn 3,7%, một con số gần như không đáng kể.
Tuy nhiên, nếu nhìn lại lịch sử, vào năm 1931, thuế suất thuế quan trung bình của Hoa Kỳ là 47%
và toàn cầu là 40%. Điều này cho thấy thuế quan từng là một vấn đề lớn,
vậy điều gì đã thay đổi trong hai ba thập niên gần đây?
Câu trả lời nằm ở hệ thống Bretton Woods năm 1945, hiếp định, GATT và WTO.
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, thế giới chỉnh trong đổ nát và cần được tái thiết,
trật tự kinh tế thế giới mới cần được xây dựng lại. Vào thời điểm đó, Hoa Kỳ vươn lên vị
thế siêu cường, chiếm 5% GDP toàn cầu và không chịu tiệt hạ đáng kể nào từ chiến tranh.
Với sức mạnh vật trội, Hoa Kỳ đóng vai trò dẫn dắt trong việc kiến tạo trật tự kinh tế mới.
Hai vấn đề cấp bách cần giải quyết khi đó là sự hỗn loạn tiền tệ và giao cản thương mại.
Trước chiến tranh và trong chiến tranh, tình trạng tiền tệ hỗn loạn diễn ra khi các quốc gia cạnh
tranh phá giá đồng tiền để thúc đẩy xuất khẩu. Điều này gây khó khăn cho hoạt động thương mại quốc tế.
Vấn đề thứ hai là giao cản thương mại. Sau cuộc đại khủng hoảng vào năm 1929,
các quốc gia tăng cường bảo vộ mẫu dịch, dựng lên hàng rào thuế quan để bảo vệ doanh nghiệp và công
nhân trong nước. Đạo luật Smoot-Hawley của Hoa Kỳ đẩy thuế nhập khẩu lên gần 50% là một ví dụ
điển hình dẫn đến các quốc gia khác trả đũa, thương mại toàn cầu suy giặt nghiêm trọng.
Để giải quyết vấn đề tiền tệ, Hội nghị Tiền tệ và Tài chính Liên Hợp Quốc,
hay còn gọi là Hội nghị Bretton Woods, được tổ chức tại Hoa Kỳ vào tháng 7 năm 1944,
khi chiến tranh thế giới thứ hai chưa kết thúc. Đại diện bốn quốc gia đã nhóm họp tại thị trấn
Bretton Woods, New Hampshire, để bàn về hệ thống tiền tệ quốc tế mới. Kết quả của hội nghị là hệ
thống Bretton Woods ra đời, với những nội dung chính như sau.
Thứ nhất, neo giá đô la Mỹ vào vàng, với tỷ giá cố định 35 đô la Mỹ đổi một ao vàng.
Hoa Kỳ cam kết bảo đảm khả năng chuyển đổi đô la Mỹ sang vàng. Điều này giúp đô la Mỹ
trở thành đồng tiền dư trữ quốc tế, được các quốc gia tin tưởng và sử dụng trong thương mại và đầu tư.
Thứ hai, các quốc gia thành viên neo giá đồng tiền của mình vào đô la Mỹ tại tỷ giá cố định. Điều này
tạo ra sức ổn định, tỷ giá hối đoái, giảm thiểu, rủi ro và thúc đẩy thương mại quốc tế.
Hội nghị cũng thành lập quỹ tiền tệ quốc tế IMF, đã giám sát hệ thống quản lý, tỷ giá và hỗ trợ các
quốc gia gặp khó khăn tài chính và Ngân hàng Thế giới VKP để cung cấp vốn cho các nước tái thiết và phát triển.
Hệ thống Bretton Woods chính thức có hiệu lực từ năm 1947 và nhanh chóng thúc đẩy phục hồi
kinh tế và thương mại toàn cầu. Trong hai thập niên từ 1950-1970, GDP toàn cầu tăng trưởng
trung bình 5% một năm. Tuy nhiên, hệ thống Bretton Woods cũng bộc lộ những hạn chế.
Việc neo giá đô la Mỹ vào vàng tạo áp lực lớn lên giữ chữ vàng của Hoa Kỳ.
Khi lượng đô la Mỹ lưu hành trên thế giới ngày càng tăng, đến năm 1971 Hoa Kỳ buộc phải tuyên bố
phá giá đô la Mỹ và chấm dứt chế độ bàn vị vàng, đánh dấu sự kết thúc của hệ thống
Bretton Woods. Từ đó, thế giới chuyển sang chế độ tỷ giá, tha nổi. IMF và VKP cũng chuyển
đổi vai trò, tập trung vào cứu trợ khủng hoảng và hỗ trợ phát triển.
Mặc dù tuổi thọ không lâu dài, hệ thống Bretton Woods đã đặt nền móng cho trật tựng
kinh tế thế giới hiện đại và còn đóng góp to lớn vào sự phổn vinh kinh tế sau chiến tranh.
Tiếp theo, để giải quyết vấn đề giàu cản thương mại, Hiệp định Trung về Thuế quan và Thương
mại GATT ra đời. GATT là một tổ chức quốc tế tạo diễn đàn cho các quốc gia đàm phán về giảm
thuế quan và các giàu cản thương mại khác. Vòng đàm phán đầu tiên của GATT diễn ra tại
Geneva, Thụy Sĩ vào năm 1947 với sự tham gia của 23 quốc gia. Kết quả Hiệp định GATT được ký
kết bao gồm các cam kết giảm thuế đối với 45.000 mặt hàng, chiếm 20% thương mại toàn cầu.
Thời điểm đó, từ 1948 đến 1994, GATT đã tổ chức 8 vòng đàm phán đa phương liên tục các giảm
thuế quan trên toàn cầu. Thuế quan trung bình toàn cầu giảm từ 40% trong tập niên 1940 xuống chỉ
còn 5% vào tập niên năm 1995. Sau xong với việc giảm thuế quan, thương mại thế giới tăng trưởng
mạnh mẽ, trung bình 8% mỗi năm, vượt sang tốc độ tăng trưởng của GDP thúc đẩy sự phồn
vinh kinh tế toàn cầu. Năm 1995, GATT được nâng cấp thành Tổ chức Thương mại Thế giới VKTÔ với
phạm vi rộng hơn, bao gồm cả thương mại dịch vụ và cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại.
VKTÔ tiếp tục thúc đẩy tự do hóa thương mại và hội nhập kinh tế toàn cầu.
Hệ thống Bretton Woods và GATT và VKTÔ phản ánh tư tưởng kinh tế tự do của Adam Smith,
được Hoa Kỳ áp dụng từ khi lập quốc vào năm 1790 và nay được mở rộng ra phạm vi toàn cầu.
Nguyên tắc cốt lõi là chính phủ giảm thiểu can thiệp vào kinh tế, loại bỏ giao cằn thương mại,
không trợ cấp xuất khẩu, không thao túng tỷ giá, để doanh nhập tư nhân tự do cạnh tranh.
Trận tượng kinh tế thế giới do Hoa Kỳ khởi xướng đã mang lại 80 năm hòa bình và thịnh vượng.
Ngoài trừ một số điểm nóng khu vực, châu Âu phụ hồi mạnh mẽ,
nhiều quốc gia châu Á vươn lên trở thành cường quốc kinh tế.
Tuy nhiên, sự phôn vinh này cũng đi kèm với cái giá mà Hoa Kỳ phải trả.
Với vai trò là cường quốc kinh tế số một, Hoa Kỳ mở cửa thị trường,
tạo điều kiện cho hàng hóa từ khắp nơi trên thế giới tràn vào.
Điều này về lý thuyết thúc đẩy cạnh tranh và mang lại tính lợi ích cho người tiêu dùng Hoa Kỳ.
Tuy nhiên, trên thực tế nó cũng dẫn đến những hệ quả không mong muốn.
Từ nhất, Hoa Kỳ liên tục thâm mù thương mại, dăm vốn chảy ra nước ngoài.
Thứ hai, hàng hóa giá sẻ nhập khẩu cạnh tranh trực tiếp với hàng hóa sản xuất trong nước,
gây khó khăn cho các ngành công nhập Hoa Kỳ.
Thứ ba, các doanh nghiệp Hoa Kỳ có xu hướng chuyển dịch sản xuất ra nước ngoài để tận dụng
chi phí nhân công bằng nguồn liệu rẻ hơn, làm suy yếu nền tảng sản xuất trong nước.
Trong khi Hoa Kỳ theo đuổi chính sách thương mại tự do, nhiều quốc gia khác lại áp dụng các biện pháp
bảo hộ, dựng hàng rào thuyết quan và phi thuyết quan để bảo vệ ngành công nghiệp non trẻ của mình.
Đặc biệt, sau khi gia nhập với WTO vào năm 2001, Trung Quốc đã tận dụng chất để các kẽ hở trong luật
thương mại quốc tế, thực hiện các hành vi như thao túng tỷ giá, trợ cấp xuất khẩu, ép buộc chuyển
giao công nghệ và đánh cấp sử dụng trí tuệ. Những hành vi này đã gây ra sự bất bình đẳng nghiêm trọng
trong thương mại quốc tế, khiến Hoa Kỳ chịu nhiều thật hại.
Vậy tại sao Hoa Kỳ không có hành động để thay đổi tình hình? Có một số lý do. Thứ nhất,
tự do thương mại đã trở thành một giá trị chính trị, được ủng hộ rộng rãi sau Truyền tranh thế giới lần thứ
hai. Thứ hai, việc điều chỉnh chính sách thương mại quốc tế là một quá trình phức tạp đòi hỏi sự
đồng thuận của nhiều quốc gia. Thứ ba, giới chính trị ra Hoa Kỳ có thể do không thực sự cảm nhận
được sự khó khăn của các doanh nghiệp trong nước, hoặc do ảnh hưởng từ các nhóm lợi ích đã không
quyết liệt trong việc bảo vệ lợi ích kinh tế của Hoa Kỳ. Hậu quả là từ 1976, Hoa Kỳ liên
tục thâm hụt thương mại, từ mức 6 tỷ đô la Mỹ lên tới 1.200 tỷ đô la như hiện nay.
Lành chế tạo Hoa Kỳ suy giảm nghiêm trọng, tỉ trọng việc làm trong ngành từ 38% năm 1945 xuống
cốc 10% hiện nay. Vậy vấn đề nằm ở đâu trong mô hình thị trường tự do của Adam Smith? Có hai
nguyên nhân chính. Thứ nhất, thị trường tự do lý tưởng, không tuyết quan, không giàu cản,
sẽ dẫn đến xu hướng dịch chuyển sản xuất về những nơi có chi phí thấp và thị trường tiêu
thụ tập trung ở những nơi có sức mua lớn nhất. Trong tiến trình này, Hoa Kỳ với chi phí sản
xuất cao và thị trường tiêu thụ lớn sẽ chịu thiệt hạng, mất dần lợi thế cạnh tranh.
Thứ hai, các quy tắc thương mại tự do của GATT và WTO chỉ định Hoa Kỳ tuân thủ nghiêm
túc, trong khi nhiều quốc gia khác, đặc biệt là Trung Quốc, không tuân thủ đầy đủ hoặc lợi
dụng các kẻ hở để trục lợi. Điều này đã tạo ra một sân chơi không bình đẳng, khiến Hoa Kỳ
chịu thiệt thòi. Trong bức cảnh đó, Tổng thống Trump đã nhận ra vấn đề và quyết tâm thay đổi.
Suốt thân là một doanh nhân, ông Trump nhìn thấy rõ sự suy thoái của ngành công nhập Hoa Kỳ và sự
trỗ dậy của các nền kinh tế mới nổi. Ông cho rằng Hoa Kỳ cần phải thay đổi chính sách thương mại
để bảo vệ lợi ích quốc gia. Chính sách của Tổng thống Trump bao gồm nhiều biến pháp.
Trước hết, cắt giảm chi tiêu chính phủ, giảm viện trợ nước ngoài, yêu cầu các đồng minh châu Á tăng
chi tiêu quốc phòng để Hoa Kỳ giảm gánh nặng. Hoa Kỳ cũng đã rút khỏi phía KFTO và tổ chức IT
thế giới và có thể tiếp tục rút khỏi các tổ chức quốc tế khác.
Thứ hai, và quan trọng nhất, là chính sách thuế quan. Tổng thống Trump áp đặt thuế quan cao lên
hàng ngói nhập cậu, với mục tiêu bảo vệ ngành công nhập trong nước, tạo việc làm và tăng nguồn thu
ngân sách, mặc dù chính sách này vấp phải nhiều chỉ trích với lo ngại về nguy cơ chế tranh lạnh và lạp phát.
Tổng thống Trump tin rằng đây là cách duy nhất để tái thiết nền kinh tế Hoa Kỳ.
Lý luận của Tổng thống Trump dựa trên sức mạnh thị trường nội địa của Hoa Kỳ.
Ông cho rằng với thị trường tiêu dùng khổng lồ và sức mạnh mẽ, Hoa Kỳ cũng thể sử dụng thuế
quan như một công cụ để thu hút các doanh nghiệp nước ngoài, chuyển dịch sản xuất về phía Hoa Kỳ.
Thuế quan cao sẽ tạo ra rào cạn, nhưng đồng thời cũng là động lực để các doanh nghiệp đầu tư vào Hoa Kỳ
để tranh thuế và tiếp cận thị trường tiêu dùng lớn nhất thế giới.
Ví dụ, các tập đoàn công nghệ lớn như TSMC, Apple, Shock Bank đã và đang đầu tư xây dựng nhà máy
tại Hoa Kỳ để đáp ứng yêu cầu của chính quyền Tổng thống Trump.
Nhiều người lo ngại rằng chí trích thuế quan của Hoa Kỳ sẽ vấp phải sự trả đũa từ các quốc gia khác
dẫn đến chiến tranh thương mại và suy thoái kinh tế toàn cầu. Tuy nhiên, Tổng thống Trump tin rằng
Hoa Kỳ có đủ sức mạnh để đối phó với những rủi ro này.
Ông lập lận rằng Hoa Kỳ không phải quá phung thuộc vào thị trường nước ngoài,
xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ chỉ chiếm khoảng 11% GDP của Hoa Kỳ,
tấp hơn nhiều so với các quốc gia khác như Đức 40%, Trung Quốc 20%, Nhật Bản 18%.
Chính sách thuế quan và tái công nghiệp hóa của Tổng thống Trump có thể dẫn đến giá cả hàng hóa tăng lên,
do chi phí sản xuất trong nước cao hơn so với ở nước ngoài.
Tuy nhiên, ông Trump tin rằng việc làm tăng lên và tiền lương của người lao động Hoa Kỳ được cải thiện
sẽ bù đắp cho sự gia tăng chi phí sinh hoạt. Sức mua của người tiêu dùng Hoa Kỳ được bảo đảm,
và điều này sẽ tiếp tục thu hút giới đầu tư và tạo ra một vòng toàn hoàn kinh tế tích cực.
Tóm lại, chính sách thuế quan của Tổng thống Trump là một sự thay đổi lớn trong chính sách thương
mại của Hoa Kỳ, đánh dấu sự trở lại của chủ nghĩa bảo vộ bẫu dịch sau nhiều thập niên theo đuổi tự do thương
mại. Mục tiêu của chính sách này là make America great again, khôi phục vị thế cường quốc
kinh tế của Hoa Kỳ. Trong bối cảnh trận tư kinh tế thế giới đang có nhiều viên động,
chính sách của Tổng thống Trump có thể là một bước ngoặt, buộc các quốc gia phải xem sát lại chiến
lược phát triển kinh tế của mình. Thay vì phục thuộc vào một hệ thống thương mại toàn cầu không
công bằng, các quốc gia có thể dần dần tập trung vào và phát triển nỗ lực xây dựng kinh tế
tự chủ và bền vững. Tương lai của chính sách tuyết quan của Tổng thống Trump và tác động của nó đối với
kinh tế Hoa Kỳ và thế giới vẫn còn là một ẩn số. Tuy nhiên có thể thấy rằng đây là một hành động táo
bạo và đầy sáng tạo, thể hiện quyết tâm của Tổng thống Trump trong việc thay đổi hiện trạng và đưa
Hoa Kỳ trở lại thời kỳ hoàng kim. Liệu chính sách này có thành công hay không? Chúng ta hãy cùng chờ xem.
Chương trình hôm nay đến đây xin tạm dừng. Hy vọng những phân tích vừa rồi sẽ giúp quý vị hiểu
rõ hơn về chính sách tuyết quan của Tổng thống Trump. Mong nhận được phản hồi và góp ý từ quý
vị để chương trình ngày càng hoàn thiện hơn. Xin chân thành cảm ơn quý vị đã theo dõi.
