VIỆT NAM ĐÃ ĐÁNH BẠI NHỮNG NƯỚC NÀO?

Xưa và Nay
1.3K người theo dõi
#BLVHảiThanh #History #ViệtNam #ĐạiViệt
#su9 #su9vietnam #chientranhvietnam
VIỆT NAM ĐÃ ĐÁNH BẠI NHỮNG NƯỚC NÀO?
Việt Nam, một dân tộc nhỏ bé nhưng đã khiến những đế quốc hùng mạnh nhất trên thế giới phải ngả đầu thán phục.
Từ những dòng sông cuộn chảy, những cánh rừng sâu thẳm đến những chiến trường khói lửa,
Việt Nam đã viết những trang sử oai hùng mà bất kỳ ai nghe qua cũng phải dùng mình kinh ngạc.
Chúng ta sẽ đi theo thời gian từ thế kỷ thứ 10 đến thế kỷ 20 để khám phá xem Việt Nam đã đánh bại những ai và bằng cách nào cha ông ta đã làm được điều đó.
Câu chuyện của chúng ta bắt đầu vào thế kỷ thứ 10 khi Ngô Quyền đánh bại quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng vào năm 1938.
Nhưng độc lập chưa bao giờ là điều dễ dàng để giữ vững.
Chỉ vài thập kỷ sau, năm 1981, nhà Tống, một chiều đại phong kiến hùng mạnh của Trung Quốc quyết định kéo quân xuống xâm lược nước đại Cổ Việt non trẻ của chúng ta.
Lúc này, người đứng lên lãnh đạo là Lê Hoàn hay còn gọi là Lê Đại Hành, một vị vua vừa mới lên ngôi trong bối cảnh đất nước rối loạn.
Hãy tưởng tượng khung cảnh này.
Quân Tống tràn xuống như một cơn lũ dữ, hàng chục ngàn binh sĩ với giáp trụ sáng loáng, ngựa chiến hí vang và những chiến thuyền khổng lồ lướt trên sông.
Chúng tự tin sẽ dễ dàng đè bẹp một nước nhỏ vừa thoát khỏi ách đỗ hộ.
Nhưng Lê Hoàn không phải là một người dễ đầu hàng.
Bằng chiến thuật tài tình và thông minh, Lê Hoàn đã đánh bại được quân Tống.
Từng Tống là hầu nhân bảo bị chém ngay trên chiến trường, hàng ngàn quân bỏ chạy.
Lê Hoàn nhìn quân Tống tan rã, khẳng định rằng nước ta không phải là mảnh đất kẻ thù muốn đến là đến, muốn đi là đi.
Nhưng đó chưa phải là lần cuối nhà Tống thử sức với Việt Nam.
Gần 100 năm sau, vào năm 1075, chúng quay lại với âm mưu xâm lược một lần nữa.
Lúc này người cầm quân là Lý Thường Kiệt, một danh tướng tài ba.
Nhà Tống lúc ấy đã chuẩn bị kỹ càng, tập trung quân ở biên giới, sẵn sàng tràn xuống.
Nhưng Lý Thường Kiệt không ngồi chờ giặc đến gõ cửa, ông quyết định đánh phủ đầu.
Ông dẫn hàng ngàn quân tinh nhuệ vượt biên giới, tấn công thẳng vào đất Tống.
Trong vòng vài tuần, ông đã chiếm được các thành lớn như Ung Châu, Liêm Châu, đánh tan hàng vạn quân địch.
Khi nhà Tống phản công, Lý Thường Kiệt rút quân về, lập phòng tuyến kiên cố trên sông Như Nguyệt, tức sông cầu ngày nay.
Tại đây, Nam Quốc Sơn Hà nổi tiếng đã vang vọng giữa trời.
Sông núi nước Nam vua Nam ở, rành rành định phận tại sách trời.
Cớ sao lũ giặc sang sâm phạm, chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.
Quân Tống tấn công điên cuồng nhưng không thể vượt qua phòng tuyến.
Cuối cùng, kiệt sức và tổn thất nặng nề, chúng phải rút lui trong nhục nhã.
Hai lần đối đầu nhà Tống, hai lần giành chiến thắng thuyết phục, Việt Nam khẳng định mình là một dân tộc không chịu khuất phục.
Sang thế kỷ 13, Việt Nam phải đối mặt với một kẻ thù còn đáng sợ hơn, đế quốc nguyên mông của Thành Cát Từ Hãn.
Đây không phải là một triều đại phong kiến bình thường, mà là một cỗ máy chiến tranh đã chinh phục cả nửa thế giới.
Từ Trung Quốc, Trung Á, cho đến tận Đông Âu.
Những cánh quân Mông Cổ đi đến đâu, thành trì sụp đổ đến đó, vương triều tan dã đến đấy.
Nhưng khi đặt chân đến Đại Việt, chúng đã gặp phải nhà Trần, một triều đại với những con người thép và không biết sợ hãi.
Lần thứ nhất, năm 1258, quân Mông Cổ do tướng Ngột Lương Hợp II chỉ huy tràn xuống Đại Việt.
Khi thế ngút trời, vua Trần Thái Tông, vị vua đầu tiên của nhà Trần, biết rằng đối thủ lần này không hề đơn giản.
Nhưng ông không chọn cách cầu hòa hay chạy trốn.
Ông triệu tập quân sĩ, họp bàn với các tương lĩnh và quyết định ngânh chiến.
Trận đánh lớn diễn ra ở Đông Bộ Đầu, gần Thăng Long.
Quân Mông Cổ ỉ vào kỵ binh nhanh như chớp, lao thẳng vào đội hình quân Trần.
Nhưng địa hình và sông ngòi trăng trịt của Việt Nam không phải là nơi để ngựa chiến tung hoành.
Quân ta dùng cung nỏ bắn tỉa, dùng giáo dài chặn đứng kỵ binh.
Trong một pha giao chiến ác liệt, tướng Ngột Lương Hợp Thai đã bị giết tại trận.
Quân Mông Cổ hoảng loạn rút chạy.
Lần đầu tiên, đế quốc bất bại, chịu thất bại trước một nước nhỏ bé.
Nhưng quân Mông Cổ không dễ bỏ cuộc.
Chúng đã quay trở lại lần thứ hai, vào năm 1285.
Dưới, chờ đại nhà Nguyên.
Bởi vì lúc này Mông Cổ đã sắp nhập Trung Quốc.
Chúng quay trở lại với lực lượng lớn hơn gấp bội.
Do thoát hoan, con trai hốt tất liệt chỉ huy.
Lần nãy, chúng mang theo hàng trụng vạn quân, quyết san bằng Đại Việt.
Người đứng lên đối đầu là Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn.
Một trong những vị tướng vĩ đại nhất lịch sử Việt Nam.
Và thậm chí là cả lịch sử thế giới.
Trần Hưng Đạo biết rằng, đánh trực diện lúc này là tự sát.
Ông chọn chiến thuật vườn không nhà trống, rút quân khỏi Thang Long.
Để lại thành trống rỗng, cắt đứt nguồn lương thực của giặc.
Quân nguyên vào thành, không có gì ăn, không ai để đánh.
Đúng lúc đó, Trần Hưng Đạo tung quân phản công.
Tại Trương Dương, Hàm Tử, quân ta đánh tan từng cánh quân địch.
Thoát hoan phải bỏ chạy, để lại hàng ngàn sát chết.
Một lần nữa, Việt Nam chiến thắng bằng trí tuệ và sự kiên nhẫn.
Lần thứ ba, đó là năm 1288.
Đây là đỉnh cao của nghệ thuật đánh giặc.
Quân nguyên kéo đến với hàng trăm chiến thuyền khổng lồ,
chở đầy quân sĩ và lương thực, quyết tâm phục thủ.
Trần Hưng Đạo lại chọn sông Bạch Đăng làm chiến trường.
Ông ra lệnh đóng hàng ngàn cọc gỗ nhọn dưới lòng sông.
Đầu bọc sắt, dấu kín dưới nước.
Ông còn tính toán kỹ lưỡng thời gian thủy triệu lên xuống.
Một chi tiết nhỏ, nhưng thay đổi cả cuộc diện.
Khi quân nguyên tiến vào, Trần Hưng Đạo cho quân nhỏ ra khiêu chiến,
rụ rạc vào sâu trong sông.
Đúng lúc thủy triệu rút, hàng trăm chiến thuyền mắc cạn trên cọc gỗ,
vỡ tan thành.
Quân ta từ hai bờ đổ ra, dùng hỏa công thiêu cháy tàu địch.
Tướng Nguyên là Ô Mã Nhi bị bắt sống.
Trận Bạch Đăng năm 1288 không chỉ là chiến thắng của Đại Việt,
mà còn là nỗi nhục lớn của đế quốc Nguyên Mông.
Ba lần đối đầu, ba lần chiến thắng.
Việt Nam khiến cả thế giới phải kinh ngạc.
Đến thế kỷ 15, Việt Nam rơi vào một giai đoạn đen tối.
Sau khi Nhà Hồ thất bại, quân minh của Trung Quốc tràn vào,
chiếm đóng đất nước ta suốt 20 năm.
Chúng bóc lột dân chúng, đốt sách vỡ, cố xóa sạch văn hóa Việt Nam,
nhưng ngọn lửa kháng chiến không bao giờ tắt.
Năm 1418, tại vùng đất Lam Sơn Thanh Hóa,
một người tên là Lê Lợi đã đứng lên khởi nghĩa.
Cuộc chiến này không hề dễ dàng.
Ban đầu quân Lam Sơn yếu thế, thiếu thôn vũ khí, lương thực.
Họ phải rút vào rừng sâu, đánh du kích, chịu đựng đói ghét.
Có lần Lê Lợi suýt bị bắt,
phải trốn trong hang đá, sống nhờ những thức ăn trong rừng.
Nhưng ông không bao giờ bỏ cuộc.
Cùng với quân sư Nguyễn Trãi, một nhà văn hóa lỗi lạc,
Lê Lợi dần xây dựng lực lượng,
Nguyễn Trãi viết thư chiêu hàng, kêu gọi dân chúng đứng lên,
làm lung lay tinh thần quân minh.
Đến năm 1426, Lê Lợi mở chiến dịch lớn.
Trận tốt động, trúc động gần Thăng Long là bước ngoặt.
Quân ta phục kích, tiêu diệt hàng vạn quân minh trong mưa bão.
Những trận quyết định diễn ra vào năm 1427,
tại Chi Lăng, Sương Giang.
Quân minh cử viện binh hùng hậu do Liễu Thăng chỉ huy đến cứu nguy.
Lê Lợi bố trí quân mai phục ở đèo Chi Lăng chờ giặc đến.
Khi quân minh lọt vào thung lũng, quân ta từ trên cao đánh xuống,
tên bắn như mưa, Liễu Thăng bị chém đầu, viện binh tan giã.
Tiếp đó tại Sương Giang, quân minh bị bao vây, đầu hàng hàng loạt.
Cuối cùng quân đô hộ rút khỏi Việt Nam.
Nguyễn Trãi viết Bình Ngô Đại Cáo,
thêm một bản tuyên ngôn độc lập nữa của nước Việt.
Sang thế kỷ thứ 18, Việt Nam lại đối mặt với Nhà Thanh,
chiều đại hung mạnh nhất Trung Quốc thời bấy giờ.
Năm 1788, Lê Triều Thống chạy sang cầu cứu Nhà Thanh
sau khi bị phong trào Tây Sơn đánh bại.
Nhà Thanh thấy cơ hội,
cử 29 vạn quân do Tôn Sĩ Nghị chỉ huy tràn xuống Chiếm Thăng Long.
Nhưng chúng không ngờ rằng,
ở phía nam, một vị anh hùng áo vải đang chuẩn bị ngânh chiến.
Đó là Nguyễn Huệ.
Nguyễn Huệ lúc này là lãnh đạo Tây Sơn,
lập tức lên ngôi lấy hiệu là Quang Trung.
Ông triệu tập quân sĩ ngay trong đêm.
Ông thần tốc kéo quân ra Bắc,
vượt hàng trăm km trong vài ngày.
Đúng dịp Tết Kỷ Dậu 1789,
khi quân Thanh đang mãi mê ăn uống,
quân Tây Sơn đã bất ngờ tấn công.
Trận Ngọc Hồi làm an mở đầu kinh hoàng,
quân ta dùng hỏa công,
khiến cho đội hình giặc tan tác.
Tiếp đó tại Đống Đa,
Quang Trung tung voi chiến.
Tôn Sĩ Nghị hoảng loạn,
bỏ chạy qua sông Hồng,
mặc cho tiếng kêu cứu của đám tàn binh.
Quân Thanh đã đại bại.
Chiến thắng này không chỉ cứu nước,
mà còn khẳng định tai thao lửa của Quang Trung,
một thiên tài quân sự hiếm có.
Chuyển sang thế kỷ 20,
Việt Nam rơi vào tay thường dân Pháp
từ cuối thế kỷ 19.
Sau gần 100 năm đô hộ,
năm 1945,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản tuyên ngôn độc lập.
Nhưng Pháp không chịu buông tha,
quay lại xâm lược một lần nữa,
mở ra chiến tranh Đông Dương.
Cuộc chiến cáo dài khốc liệt,
nhưng đỉnh cao là trận Điện Biên Phủ năm 1954.
Pháp xây dựng Điện Biên Phủ
trở thành một cứ điểm bất khả xâm phạm
ở vùng núi Tây Bắc,
với hàng chục cứ điểm kiên cố,
pháo binh, máy bay, xe tăng.
Chúng tự tin rằng Việt Nam không thể đánh bại được.
Nhưng dưới sự chỉ huy của Đại tướng Võ Nguyên Giáp,
quân đội Việt Nam đã làm điều không tưởng.
Quân và dân không kể ngày đêm
kéo pháo lên núi bằng tay
qua những con đường lầy lội và treo leo.
Chúng ta đã đào hàng trăm km hào
bao vây cứ điểm đỉnh.
Và trận Điện Biên Phủ lịch sử đã bắt đầu.
Qua 56 ngày đêm chiến đấu ác liệt,
từng cứ điểm rơi vào tay quân ta.
Ngày 7 tháng 5 năm 1954,
lá cờ Việt Nam tung bay
trên nóc của tướng Hầm Đức Cát.
Pháp đổ hàng và rút khỏi Việt Nam
sau Hiệp định Geneva.
Chiến thắng này không chỉ kết thúc ách đô hộ của thực dân Pháp,
mà còn trở thành biểu tượng cho phong trào
giải phóng dân tộc trên toàn thế giới.
Sau Pháp, Việt Nam đối đổi với Mỹ,
siêu cường số một thế giới.
Mỹ hậu thuẫn chính quyền Việt Nam Cộng Hòa
miền Nam, đổ hàng triệu quân,
máy bay, bom đạn vào Việt Nam.
Nhưng người Việt Nam không khuất phục.
Giữa sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh,
miền Bắc cùng mặt trận dân tộc giải phóng
miền Nam Việt Nam là chiến đấu kiên cường.
Từ những trận đánh du kích trong rừng sâu,
đến những chiến dịch lớn như
Tết Mậu Thân 1968,
quân ta khiến Mỹ lao đao. Đỉnh điểm là
chiến dịch Hồ Chí Minh mùa xuân năm 1975.
Ngày 30 tháng 4 năm 1975,
xe tăng húc đổ
cổng dịch độc lập, giải phóng Sài Gòn,
Mỹ và chính quyền tay say sụp đổ,
Việt Nam thống nhất, một dân tộc nhỏ bé
đã đánh bại siêu cường hùng mạnh bậc nhất
thế giới.
Cuối cùng,
năm 1978, Khơ Me Đỏ,
chế độ tan bạo ở Campuchia
liên tục tấn công biên giới Việt Nam,
giết hại dân thường. Việt Nam quyết định hành động.
Đầu năm 1979,
quân đội Việt Nam tiến vào Campuchia,
chỉ trong vòng vài tuần đã lật đổ Khơ Me Đỏ,
giải phóng Phnom Penh. Chiến đấu này
không chỉ bảo vệ biên giới mà còn cứu nhân dân
Campuchia khỏi nạn diện chủng.
Vậy, điều gì đã làm nên sức mạnh
của Việt Nam? Đó là tinh thần đoàn kết,
ý chí bất khuất và tài thao liều
của những con người như Lý Thường Kiệt, Trần Hương Đạo,
Lê Lợi, Quang Trung và ông Huyền Giáp.
Từ sông Bạch Đăng đến Điện Biên Phủ,
từ chống quân Nguyên đến đánh bại người Mỹ,
Việt Nam chứng minh không có kẻ thù nào
là không thể vượt qua.
