Hội làng Hữu Thanh Oai, xã Hữu Hoà, Thanh Trì, HN

Quê hương là chùm khế ngọt
18 Người theo dõi
93 Lượt xem video·5 thg 4, 2025
Làng Hữ Thanh Oai còn có tên là Hữ Châu, tên nôm là làng Tó Hữ, nằm bên bờ phải sông Nhuệ.
Bên kia là làng Tà Thanh Oai hay Tó Tả, cuối thời Lê, đầu thời Nguyễn.
Hữ Thanh Oai là một xã thuộc tổng Tà Thanh Oai, huyện Thanh Oai, Phủ Ứng Thiên, Trấn Sơn Nam Thượng.
Từ năm 1831 thuộc tỉnh Hà Nội, năm 1902 thuộc tỉnh Cầu Đơ, năm 1904 đổi làm tỉnh Hà Đông.
Sau cách mạng tháng Tám, làng Tó Hữ thành lập chính quyền lâm thời riêng.
Năm 1949 làng nhập với các làng Hữu Lê, Hữu Trung và Hữu Từ thành xã Hữu Hòa thuộc huyện Thanh Oai.
Hòa bình lập lại xã Hữu Hòa thuộc huyện Thanh Oai tỉnh Hà Đông đến năm 1961 cắt với huyện Thanh Trì.
Hữu Thanh Oai nằm bên sông Nhuệ, là hợp lưu của sông Nhuệ và sông Tô Lịch.
Xưa kia hai dòng sông này là đường giao thông thủy quan trọng của khu vực.
Cầu Tó bắc qua sông Nhuệ được xây từ thời Nguyễn, nối làng với đường 70 từ Văn Điển đi Hà Đông.
Làng Tó Hữu có ngôi đình thờ Lê Hoàn.
Theo thần phả vào năm 1981, Lê Hoàn bị hoàng đế sáng lập nhà tiền Lê.
Trên đường từ kinh đô Hoa Lư đi đánh quân xâm lược nhà Tống, ông theo đường sông Nhuệ đến các làng Tó.
Tại Tó Hữu, Lê Hoàn đã dừng chân trên gò đất có hình con rùa ở xứ Đồng Gạch, tục gọi là rừng mơ.
Tại đây, ông cho binh lính nghỉ ngơi, tổ chức săn bắn và tuyển mộ thêm binh sĩ.
Khi tiễn đoàn quân đi chinh chiến, dân làng chỉ có món quà đơn sơ là cơm nấm mỗi vùng dâng lên Lê Hoàn và đoàn quân.
Bà con làng Tó Hữu rất tôn quý Lê Hoàn, cảm kích trước tấm lòng của người dân nơi đây.
Lê Hoàn cho hiệu rệ và cắm hướng đình để dân thờ phụ.
Khi ngài đi, dân làng lập miếu thờ, suy tôn là thành hoàng làng.
Hiện nay tại đình làng hiện còn có thần phá sắc phong của đại hành hoàng đế Lê Hoàn.
Đình làng trước kia là che nứa lá, sau này mới được xây dựng kiên cố.
Thời gian được tu sửa nhiều là vào chiều Nguyễn.
Đình đã được xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa vào năm 1992.
Hội làng Hữu Thanh Oai trước đây được tổ chức vào ngày 13 đến 16 tháng riêng âm lịch hàng năm.
Nhưng sau khi Lê Hoàn mất, người dân nơi đây lấy ngày hủy kỵ 8 tháng 3 âm lịch làm ngày hội.
Hội làng tổ chức trong 3 ngày, từ ngày 7 đến ngày 9 tháng 3 âm lịch.
Ngày 8 tháng 3 là chính hội.
Đêm chính hội thường rúc đuốc, có già trẻ, trai gái tham gia.
Đây là hình ảnh tượng trưng đoàn quân, hành quân.
Trong hội có ca hát, đấu vật.
Ngày hội làng, tễ vật dâng lên thành hoàng gồm quán, bánh chè kho, hương hoa quả
và một thứ không thể thiếu chính là cơm nắm hối vừng.
Tục lệ làng quy định không dâng tiến xôi thịt trong ngày hội.
Hiện nay, chính bảng sắc phong mà vua Lê Đại Hành trao cho làng
vẫn được những thế hệ người cao tuổi trong làng lưu giữ và bảo tồn.
Từ 7 giờ sáng, các cụ bô lão trong làng tiến hành dân hương tại đình làng.
8 giờ các đội nghi lễ mặc trang phục chỉnh tề theo nhiệm vụ đã được phân công.
Chiêng, trống, cờ, quạt, kiệu được chuẩn bị nghiêm trang đầy đủ.
Người dân mặc trang phục truyền thống, nữ áo dài truyền thống,
nam áo dài khăn xếp.
Đội tiên phong gồm đội cờ ngũ hành, cờ thần, đội nhạc lễ,
trống, chiêng, kèn, bát âm, đi đầu để thông báo dẹp đường.
Tiếp theo là đội khí cụ, đội rồng búa lân,
người cầm khí tế bát bửu, gậy, cờ, lọng tre.
Kiệu chính bao gồm kiệu lông ngai, bài vị, bát hương
do các thanh niên trai tráng khỏe mạnh mặc đồng phục chỉnh tề khiêng.
Tiếp theo là đội tế lễ, đó là các vị chủ tế, bồi tế
mặc áo thụ xanh, áo đỏ, đi sâu kiệu thể hiện sự thành kính.
Tiếp theo là bách gia chăm họ, bao gồm dân làng
và quan khách đi sau tạo thành dòng người đông đúc trang nghiêm.
Tiếp theo là đội tế lễ, đó là các vị chủ tế, bồi tế
mặc áo thụ xanh, áo đỏ, đi sâu kiệu thể hiện sự thành kính.
