NHÀ THƯƠNG, TRIỀU ĐẠI CHÍNH THỨC ĐẦU TIÊN TRONG LỊCH SỬ TRUNG QUỐC

Đình Sự
540 người theo dõi
Comments are disabled for this video.
Nhà Thương hay còn gọi là Nhà Ân hoặc là Ân Thương
là triều đại ở thung lũng của sông Hoàng Hà
và là triều đại đầu tiên được xác nhận rõ ràng về mặt lịch sử của Trung Quốc.
Theo sử sách Trung Quốc thì trước Nhà Thương đã có Nhà Hạ
nhưng hiện chưa tìm được những bằng chứng khảo cổ
đó là văn tự, di tích và lăng mộ của Nhà Hạ
đề đủ xác nhận rõ ràng về sự tồn tại của Nhà Hạ.
Thế nên đôi khi gọi Nhà Thương là triều đại đầu tiên chính thức
của Trung Quốc cũng là chính xác.
Hoặc đôi khi người ta vẫn nói Nhà Hạ là triều đại đầu tiên của Trung Quốc
thì cũng có lý do của nó.
Theo khi chép lịch sử như đã nói
Nhà Thương đã tiếp nối sau triều đại có tính huyền thoại là Nhà Hạ
và trước Nhà Chu.
Nhà Thương trước sau có 30 đời vua trị vỉ
bắt đầu từ vua Thành Thang và kết thúc ở vua Trụ.
Họ đã bắt đầu nổi lên từ phía Tây của châu Thổ Sông Vị.
Bằng vũ lực thì Nhà Thương đã thông nhất vùng đồng bằng phía Bắc của Trung Quốc
xây dựng chế độ theo hình thức phong kiến.
Các trư hầu đều có sự độc lập nhất định trong việc quản lý
và cai trị vương quốc của mình.
Nhà vua sẽ có trách nhiệm trực tiếp đối với các trư hầu lớn
và các trư hầu lớn thì lại có trách nhiệm trực tiếp đối với các trư hầu nhỏ.
Các trư hầu đều phải tuân theo nghĩa vụ đó là đóng thuế, tiên cống
và các nghĩa vụ của bậc quân thần theo quy định.
Có hai nét căn bản của xã hội Nhà Thương cần được nhìn nhận.
Một là mới đầu thì Nhà Thương theo chế độ mẫu hệ
cho nên vua chết thì truyền ngôi cho em
và người em này không phải là em cùng cha sinh ra mà là em cùng mẹ sinh ra.
Giai đoạn sau thì Nhà Thương mới chuyển sang chế độ phụ hệ
có nghĩa là cha truyền ngôi cho con.
Nét cơ bản thứ hai của Nhà Thương đó là tôn giáo đa thần.
Họ thờ thần sông, thần núi, thần mưa, thần sấm, thần gió, thần sinh sản.
Cao hơn hết là thượng đế.
Thượng đế là người đã tạo ra vạn vật.
Vua vừa là người có quyền trị dân,
vừa là người thay mặt cho nhân dân để tế lễ khắc thần.
Vậy thì lãnh thổ Nhà Thương cụ thể như thế nào?
Sử sách Trung Hoa bắt đầu được ghi chép thành văn từ thời Nhà Thương
và những điều chép đó đúng với kết quả của những công trình khai quật.
Đây là khác biệt lớn nhất so với triều đại mang tính huyền thoại trước đó là triều đại Nhà Hạ.
Văn minh nơi Nhà Thương đã đến mức cao nhất của thời đại Đỗ Đồng.
Nhưng Nhà Thương thành lập trong hoàn cảnh nào?
Dân Trung Hoa từ văn minh Nhà Hạ chuyển qua văn minh Nhà Thương ra sao
thì vẫn còn thiếu khá nhiều tài liệu.
Các bộ sử đời sau chỉ biết đại khái rằng
vua đầu tiên của Nhà Thương là vua Thành Thang
sau khi diệt vua Kiệt của Nhà Hạ đã khai sáng ra Nhà Thương,
quy tụ được nhiều bộ lạc và đất đai Nhà Thương
tương ứng với các tỉnh Sơn Tây, Sơn Đông, Hà Bắc và Hà Nam ngày nay.
Kinh đô của Nhà Thương mới đầu ở đất Bạc,
tức là thuộc Hà Nam Trung Quốc bây giờ.
Nhưng do việc trị thủy thời đó còn hạn chế,
lũ lụt thiên tai thường xuyên xảy ra,
vì vậy cũng phải rời thiên đô nhiều lần.
Sau lại bị các bộ tộc du mục tấn công
và Nhà Thương phải rời kinh đô của mình tổng cộng 7 lần.
Cuối cùng đến với vùng đất gọi là Ân Khư,
Khư ở đây có nghĩa là đồi
và từ đây thì Nhà Thương đổi quốc hiệu gọi là Nhà Ân.
Về tổ chức xã hội,
sưu sách thời đó chép rằng Nhà Thương có đến cả ngàn trư hầu,
có lẽ chỉ một số ít ở gần kinh đô
mới trực thuộc Nhà Thương.
Còn xa kinh đô hơn thì những bộ lạc tương đối độc lập.
Đó là nguồn gốc của chế độ phong kiến phân quyền
sẽ phát triển ở đầu Nhà Chu
rồi suy tàn cuối thời kỳ đó.
Thanh thị ở thời Nhà Thương vẫn còn khá nhỏ.
An Dương là kinh thành lớn nhất đời Nhà Thương
và cũng là thủ đô,
có chu vi cung điện chỉ có 800 mét mà thôi.
Cung điện Nhà Vua thì hướng về phía nam,
gồm có 3 điện,
điện nào cũng được xây kết bằng gỗ,
nóc có 2 mái.
Một điện ở giữa là chỗ họp triều đình.
Phía đông điện đó gọi là nhà thái miếu,
tức là nơi để thờ tổ tiên của Nhà Vua.
Phía tây là nơi thờ thần xã Tắc.
Ở phía bắc của cung điện có dựng một cái chợ.
Phía nam thì dành cho các triều thần
và một số thợ thủ công để chế tạo vũ khí,
chiến sa và các đồ bằng đồng.
Lúc này bên cạnh các vua Nhà Thương
có rất nhiều lãnh chúa và quý tộc.
Một trò chơi giải trí thường ngày của họ
đó là tổ chức các cuộc đi săn.
Nhà Vua thì sang hơn
ở trong những ngôi nhà có tường làm bằng đất nện
hoặc là gạch bằng đất nung,
trong khi người dân thì tiếp tục sống trong
những ngôi nhà hầm như hồi xơ khai.
Vị Vua Nhà Thương cũng là vị chủ tế cao nhất
và ông ta có một bộ máy hành chính quan lại
gồm các vị quan, các vị chủ tế cấp thấp hơn
và những người cũng coi việc bói toán nữa.
Cũng giống như những nền văn minh khác
được xây dựng từ chiến tranh.
Nhà Thương cũng bắt nô lệ,
những người nô lệ phải lao động và trồng cấy.
Phụ nữ của nhà Thương thì phụ thuộc vào đàn ông,
đó là giai đoạn sau.
Những người phụ nữ quý tộc thì có nhiều tự do
và bình đẳng hơn so với phụ nữ thường dân.
Để cho đất sản xuất được nhiều,
mùa mang bội thu,
thì triều đại nhà Thương
người ta đã tiến hành tế lễ
và thậm chí là tế cả người,
cũng như súc vật trong các buổi tế như vậy.
Các câu trình khai quật ở An Dương
từ giữa thế kỷ 20
chứng tỏ rằng số người bị tế lễ
là rất lớn, nhất là khi trôn cất nhà Vua.
Ví dụ có một ngôi mộ,
người ta khai quật được xung quanh
có trên 300 bộ xương người,
có bộ được toàn vẹn,
có bộ thì thậm chí đã bị chặt đầu.
Những bộ xương đó có thể là của
hoàng hậu, cung phi,
những người hầu cận vua,
vệ binh, đánh xe,
hay là thậm chí một số quan tường.
Tục này thì duy trì rất lâu,
mãi đến thời nhà Hán hay gần hết,
và người ta thay tuẫn tán người
bằng những hình nộm đan bằng tre
hay những tượng lớn như người thật
bằng đá, gỗ hoặc là đất nung.
Sau cùng thì cũng đốt cả vàng mã theo nữa.
Tục đốt vàng mã từ
thời nhà Thương ngày nay
thì ở các nước Đông Á cũng vẫn còn.
Và thời nhà Thương thì ở vùng Trung Nguyên
khí hậu ấm áp hơn ngày nay.
Thế nên có những con vật bây giờ
không xuất hiện ở lãnh thổ
nhà Thương khi đó, nhưng trước đây
thì đã từng xuất hiện. Ví dụ như là
trâu, voi, tê, báo, linh dương,
lợn loài, v.v.
Nó cho thấy nhà Thương
đã cùng nhau sinh sống với những loài vật này
đã từng săn bắn trúng.
Nhờ có nguồn cung cấp ngà voi dồi dào
nên Trung Quốc thời nhà Thương có nghề trạm khắc
ngà voi rất là phát triển.
Người ta đã khai thuật tại Trung Nguyên
nhiều đồ vật từ thời nhà Thương làm bằng ngà voi.
Cũng trong triều đại nhà Thương
thì nền văn minh dọc sông Hoàng Hà
đã đào những con ngòi
để dẫn nước tưới tiêu mùa màng.
Nhưng cộng đồng cư dân
đã có rãnh thoát nước ra khỏi thành phố.
Thậm chí họ còn biết sản xuất bia
từ kê.
Họ cũng mở rộng thương mại và sử dụng tiền.
Tiền lúc này không phải là tiền đúc
mà là tiền dưới dạng vỏ ốc.
Các thương gia đời Thương thì muôn bán muối,
sắt, đồng, thiết, trì.
Một số thứ trong số chúng đã được nhập khẩu
từ các nước xa xôi.
Tới đầu những năm 1300 trước công nguyên
thì một nền công nghệ đúc đồng đã phát triển.
Công nghệ đúc đồng này thì muộn hơn
so với châu Âu và Tây Á
nhưng lại phát triển bậc nhất trên thế giới
vào thời điểm ấy về độ tinh xảo.
Vậy thời nhà Thương
thì chữ viết như thế nào?
Khoảng năm 1300 trước công nguyên
chữ viết đầu tiên đã được biết đến
và xuất hiện ở thời nhà Thương.
Khi này thì họ đã phát triển
chữ viết có hơn 3.000 ký tự
một phần là tượng hình và một phần
là tượng thanh.
Loại chữ viết này được thể hiện trên những phần
xương phẳng của da súc,
trên vỏ sò, trên mai rùa
và có lẽ là cả trên cỗ nửa.
Chúng là những đoạn ghi chép liên quan đến
việc bói toán.
Bằng cách chọc một cái que nóng
vào một cái xương hay là vỏ sò
thì vật đó sẽ nứt ra.
Những đường nứt biểu tượng cho các chữ cái
sẽ cho biết câu trả lời của rất nhiều câu hỏi.
Ví dụ như là thời tiết sẽ thế nào?
Có xảy ra lũ lụt hay không?
Sẽ được mùa hay là mất mùa?
Khi nào là thời gian thích hợp nhất
để săn bắn và đánh cá chẳng hạn?
Câu câu hỏi về sức khỏe hay thậm chí
là thời điểm thích hợp để xuất hành
cũng xuất hiện. Thuật bói toán cũng bắt đầu từ đây.
Trong thời điểm nhà thương thì
cư dân coi các hiện tượng thiên nhiên
đều do các vị thần sử dụng ma lực và tạo ra.
Và các vị thần được gọi là quý thần
một từ miêu tả ma quỷ hay là linh hồn.
Họ có một vị thần
mà họ cho rằng là mưa
có thần thì tạo ra sấm
thần mặt trời, thần mặt trăng, thần gió.
Và họ cũng tin rằng
có những vị thần tạo ra sự phì nhiêu
màu mỡ khi họ bắt đầu trồng cấy.
Về mặt quân sự
ở thời nhà thương thì những lăng bộ nhà thương
được khai quật cho thấy.
Họ có thể đưa ra trận đến hàng ngàn
binh lĩnh. Các đồ vật trôn theo vua
được tìm thấy là các đồ trang sức cá nhân
cũng có những mũi gió bằng đồng
và phần còn lại có những cây cung
và những mũi tên. Ngựa và xe ngựa
cũng được trôn cùng với vua để trở lính ra trận.
Thời nhà thương thì Trung Quốc
đã thuần hóa ngựa một cách rất thuần thục.
Có ngựa rồi thì có chiến xa.
Chiến thuật đánh trận cũng thay đổi hẳn.
Chiến xa lúc này thì có nhiều liên quan đến
chiến xa của các nước Tây Á.
Nhưng cuối cùng triều đại nào cũng phải
diệt vong.
Vua thứ 30 của nhà thương là Trụ Vương
hoang dâm vô độ, bạo ngược tàn ác,
mất lòng nhân dân và các trừ hầu.
Lúc này thì bộ tục Chu
ở Sông Vị có lãnh chúa là
Tây Bá Cơ Sương tài đức vẹn toàn.
Ngoài ra còn có tiềm lực
về quân sự và kinh tế là
hùng mạnh nhất trong các nước trừ hầu.
Trụ Vương đã nhiều lần phái quân tướng
triều đình Tây Trinh để trừ hậu họa
nhưng không thành. Tây Bá Cơ Sương
dù biết Trụ Vương vô đạo nhưng vẫn
muộn bực giữ sự trung thành của mình.
Cơ Sương mất, truyền ngôi cho con trưởng.
Sau đó ngôi Vương được truyền lại cho
người em đó là Cơ Phát.
Sau nhiều lần giải tan quân xâm lược
Cơ Phát đã tụ hợp các trừ hầu
đi đánh Trụ Vương, cứu buôn dân
khỏi cảnh lậm than. Sau khi
lấy được 5 ải biên thủy của nhà thương
và khoảng 1.122 chức công nguyên
hai bên quyết chiến ở trận Mục Giã
quân của Trụ Vương tuy đông
nhưng binh lính lại không có tinh thần chiến đấu
cho bạo chúa nên đã nhanh chóng tàn dã.
Trụ Vương co cụm về hoàng cung
sau đó một mình lên lộc đái
tự thiêu và nhà thương
chính thức diệt vong. Lịch sử Trung Quốc
bước sang thời đại của Nhật Tru.
