Đại Chiến Thế Giới Thứ Nhất Đã GIẾT CHẾT Kỵ Binh Như Thế Nào

Kiến Thức Quân Sự
204 người theo dõi
"Đại Chiến Thế Giới Thứ Nhất Đã GIẾT CHẾT Kỵ Binh Như Thế Nào?
Liệu rằng kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, các kỵ binh còn có chỗ đứng trong chiến tranh hiện đại hay không và nếu có thì vai trò của họ sẽ là gì?
----------------------------
#KiếnThứcQuânSự #quânsự #vũkhí #kỵbinh"
Cưới trên lưng những chú chiến mắc kêu hùng tựa như con Bucephalus của Alexander Đại Đế Nam Xưa.
Cầm trên tay những thanh gâm sáng loáng.
Họ cầm lên những tiếng hô vang như sấm rền và lao vào chiến trường như những tia chớp giật trên bầu trời.
Đó chính xác là những từ ngữ mà người ta thường dùng để mô tả về những lực lượng kỵ binh oai dũng trong lịch sử.
Thế nhưng, liệu quý vị và các bạn có từng thắc mắc rằng
các chiến binh ấy sẽ chiến đấu như thế nào trên một chiến trường đầy dãy đạn bom?
Vâng, thưa quý vị và các bạn,
đó cũng là nội dung chính trong video ngày hôm nay của kiến thức quân sự.
Lực lượng kỵ binh trong buổi hoàng hôn của họ mang tên
Đại chiến thế giới lần thứ nhất
Trong lịch sử, những chiến binh trên lưng ngựa luôn là một phần không thể thiếu
đối với mọi đội quân tinh nhuệ từ Đông sang Thây.
Thậm chí có không ít lực lượng kỵ binh đã trở thành huyền thoại
vì đã lập nên những chiến công huy hoàng lưu danh sự sách.
Một số ví dụ tiêu biểu có thể kể đến
như đội chiến hữu kỵ binh Heratoi của Macedonia,
kỵ binh Mông Cổ
hay kỵ binh co cánh Hussar
của khối thịnh vượng trung Bà Lan, Litva.
Tuy nhiên, đến giai đoạn cuối thế kỷ thứ 19
thì mọi thứ đã hoàn toàn thay đổi.
Với những tiến bộ vượt bậc về công nghệ hỏa khí
và kéo theo đó là sự phát triển của các khẩu thuyết chiến tranh,
kỵ binh từ thời kỳ này trên thực tế đã không còn là những vị vua trên chiến trường.
Thậm chí một số chuyên gia quân sự đã nhìn thấy trước
được vai trò mờ nhạt của kỵ binh trong chiến tranh hiện đại.
Một trong những người đầu tiên là Bộ trưởng Bộ Chiến tranh Đế quốc Nga
Alexei Kouropatin.
Sau khi chứng kiến thiết ải nặng nề của các kỵ binh
trước hỏa lực tập trung của đối phương
trong các cuộc chiến tranh Crimea năm 1853-1856
và chiến tranh Pháp-Phổ năm 1870-1871.
Ông này đã phải thừa nhận
kỵ binh không còn là mối đe dọa nguy hiểm như đã từng trong quá khứ.
Tuy nhiên ông cũng cho rằng
họ vẫn giữ một vị trí hết sức quan trọng
trong các đội quân hiện đại.
Bởi lẽ trên tất cả những đơn vị khác
thì kỵ binh là những người cận vệ tiên phong
là tai và mắt của quân đội.
Ý kiến này của vị Bộ trưởng Nga
đã phải hứng chịu một lan sóng phản đối kịch liệt
nhất là từ các kỵ sĩ có xuất thân quý tộc.
Tẳng lớp tinh hoa trong xã hội
và thường có khuyên hướng bảo thủ.
Theo họ, kỵ binh phải là những người
dẫn đầu cuộc xung kích quả cảm
nhắm thẳng vào kẻ thù
chứ không phải đi làm các nhiệm vụ của lính trinh sát.
Và gian kết cục của trận chiến sẽ được định đoạt
bởi những thanh kiếm mà không có súng đạn.
Thậm chí một số nhà lý luận quân sự
như Friedrich von Brahde của quân đội Phổ
còn không thể tưởng tượng nổi
một cuộc chiến mà không có kỵ binh.
Ở phía bên kia Biển Bắc
nhiều chiến lực gia người Anh
từ trước khi Thế trình Thứ nhất bùng nổ
cũng nhận định rằng kỵ nguyên của kỵ binh
đã gần đến hồi kết thúc.
Tuy nhiên cũng giống như trường hợp
của Bộ trưởng Chiến tranh Đế quốc Nga Kurobatkin
ý kiến này đã bị phản bác
bởi nhiều sĩ quan kỵ binh cấp cao.
Học thuyết chiến tranh của họ tuyên bố rằng
súng trường, dù hiệu quả như thế nào
cũng không thể thay thế hiệu quả chiến đấu
được tạo ra bằng tốc độ của ngựa.
Sức mạnh của cuộc xung kích
và nỗi khiếp đảm được gây ra
bởi những thanh kiếm sắc lạnh.
Do vậy bất chấp tính hiệu dụng hạn chế của mình
các trung đoàn kỵ binh Anh quốc
vẫn được duy trì ở trạng thái sẵn sàng chiến đấu.
Đồng thời nội dung quân giáo
trình huấn luyện kỵ binh năm 1912
của quân đội Anh hầu như vẫn được
giữ nguyên không thay đổi.
Tương tự như người Anh, người Đức cũng cho rằng
một cuộc tấn công mạnh mẽ
của kỵ binh là con đường chắc chắn
dẫn đến chiến thắng.
Từ đó có thể thấy rằng
bất kể đã được chứng kiến
những tác động của công nghệ vũ khí ở đại
đối với lực lượng kỵ binh.
Nhưng niềm tin mà các chỉ huy thủ cựu
dành cho sức mạnh cũng như vai trò
trong văn hóa quân sự của kỵ sĩ
vẫn không thể bị lung lanh.
Mặc dù vậy, một số quốc gia châu Âu
đặc biệt là Anh sau kinh nghiệm của họ
trong hai cuộc chiến tranh Pearl
đã nhận ra rằng
hỏa lực của các đơn vị kỵ binh
có thể cần thiết hơn so với chiến thuật
xung kích phủ đấu trước đây.
Do đó, người Anh đã bắt đầu trang bị
cho một số đơn vị súng trường
đồng thời nhấn mạnh chiến thuật mở
cho phép kỵ binh xuống ngựa
và sử dụng hỏa khí để chiến đấu như bộ binh.
Lúc này, các kỵ sĩ
sẽ trở thành Dragoon.
Có thể bạn chưa biết, Dragoon
hay còn gọi là Long kỵ binh
là một loại bộ binh xuất hiện từ đầu thế kỷ thứ 17
chuyên dùng ngựa để di chuyển
và xuống ngựa khi chiến đấu.
Tên gọi của họ xuất phát
từ những khẩu súng mà họ được trang bị
được ví như những con rồng
đang khạc lửa về phía kẻ thù.
Long kỵ binh được đánh giá là cơ đồng hơn bộ binh
nhưng lại tốn ít chi phí huấn luyện
và duy trì hơn so với kỵ binh.
Bên cạnh đó,
một số đơn vị kỵ binh vẫn giữ lại
và tiếp tục sử dụng các loại vũ khí truyền thống
bao gồm kiếm và thường.
Từ đây, một số sĩ quan đã thấy được
tiềm năng mới của kỵ binh trong việc triển khai hỏa lực
để gây sốc cho đội hình bộ binh đối phương
tạo ra khoảng trống
Vì vậy, hầu hết các chuyên gia quân sự
vẫn tin vào vai trò chiến thuật của kỵ binh
và lực lượng này vẫn được duy trì trong quân đội
của nhiều quốc gia.
Với tất cả những lý do đó,
khiến cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất nổ ra
vào năm 1914,
các lực lượng kỵ binh trên khắp châu Âu
đã tiến ra trận với áo giáp sáng người,
mũ gắn tua rua, gàng tay trắng
và thanh kiếm được đeo bằng tất cả
lòng tự hào ở bên hồng.
Tuy nhiên, trong những ngày đầu tiên
của cuộc chiến, kỵ binh chủ yếu
chỉ đóng vai trò là lính trinh sát,
thứ mà họ thường coi là những nhiệm vụ
không có chút vinh quang nào.
Phải đến ngày 12 tháng 8 năm 1914,
tức khoảng hơn 2 tuần
sau khi chiến tranh bùng nổ,
thì một trận chiến đầu tiên có kỵ binh tham gia
với đúng vai trò của họ mới được diễn ra
tại mặt trận phía Tây.
Một tuần sau khi tuyên chiến và phát động xâm lực nước Bỉ,
kỵ binh quân Đức đã hành quân
về phía hai thành phố Herschel và Diez,
trực tiếp đe dọa xương trái của quân đối nước này.
Trước tình hình đó,
bộ chỉ huy các lực lượng vũ trang Bỉ
đã quyết định chọn Holland
làm nơi đánh chặn quân địch
nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị khác
tổ chức triệt thoái về phía Tây.
Do đó, sư đoàn kỵ binh của Bỉ
dưới sự chỉ huy của nam tước Leon de Witte
đã được điều động từ St. Trudens
đến Holland để tham gia chiến đấu.
Tổng cộng 5 trung đoàn kỵ sĩ Bỉ
với 2.400 thương thủ cưỡi gựa
và 450 sạo thủ cưỡi xe đạp
sẽ phải đối đầu với khoảng 6.000 quân Đức
trong đó có 4.000 kỵ binh
đang hưng hực khi thấy tiến công về hướng Brussels.
Vào đêm trước khi trại đánh diện ra,
tướng de Witte
và các sĩ quan trẻ tuổi dưới quyền của ông
những người mang tư duy sáng tạo
như Tasnier và Van Overschotten
đã quyết định rằng
chức lực lượng kẻ thù quá đông và nguy hiểm như vậy
thì họ sẽ không thực hiện một cuộc sung kích
của kỵ binh theo truyền thống.
Thay vào đó, quân Bỉ sẽ tiến hành phòng thủ trên mặt đất
ở những vị trí thuận lợi
và giữ cho những con chiến mác của mình được an toàn
khỏi những khẩu súng máy uy lực của người Đức.
Tướng de Witte
đã ra lệnh cho phần lớn binh sĩ chiếm cư
các vị trí xung quanh một trang trại địa phương
đồng thời đặt các khẩu pháo trên đồi Meitenberg
phía bắc trang trại.
Trong khi đó, các sạo thủ mang súng carbine
được bố trí phòng ngự ở cây cầu dẫn vào Holland
bắt qua sông Goethe.
Khoảng 8 giờ sáng ngày 12 tháng 8,
trận chiến chính thức bùng nổ.
Quân số áp đảo của người Đức
được pháo binh nghiệm trợ đã liên tục đẩy
lưu quân bị khỏi các địa phòng thủ.
Các kỵ sư của bị sau đó đã cố gắng cho nổ tung cây cầu
nhưng bất thành.
Và thế là một nghìn kỵ binh Đức dễ dàng tiến
vào trung tâm thành phố Holland.
Chiến thắng bước đầu quá dễ dàng này dường như đã khiến
người Đức trở nên kiều ngạo.
Họ cho rằng có thể dễ dàng nghiền nát quân lực còn lại của bị
một cách không mấy khó khăn
chỉ với kiếm và thương của kỵ binh.
Thế nhưng người Đức đã lầm
lào vào phòng tiên đối phương
với sự tự tin thái quá.
Các kỵ sư của họ đã phải hứng chịu thông vong nặng nề
chỉ bởi một hỏa lực mạnh mẽ từ súng trường
và súng máy Hawkins.
Thiệt hại mà kỵ binh Đức phải gánh chịu
là vô cùng lớn, nhưng đó chưa phải là tất cả.
Những con chiếc mác của họ
trên đường xúc kích còn vấp phải mạng lưới dây
đặc những dây thép gai vào hố đất
do đạn pháo gây ra, khiến chúng liên tục
bị vấp ngã và phải chạy chậm lại.
Điều này cũng đã biến các kỵ binh Đức
thành miếng mùi ngon cho đạn của quân Bỉ.
Cùng với đó cuộc tấn công vào pháo binh
của Bỉ cũng không có kết quả khá hơn
và thế là quân Đức buộc phải tạm luôn.
Sau khi rút luôn và ổn định lại lực lượng,
một lực lượng lớn bộ binh Đức
được pháo binh nhiệm trợ đã ồ hạt xung phong
và thành công áp đảo quân Bỉ
dù cho phải chịu thế lại đáng kể.
Tại thời điểm này, tình hình dường như
đã trở nên vô vọng đối với quân Bỉ
và sơn đông của họ bị chọc thủng
Kịch bản ấy đẹp với các binh sĩ
của địa nhị đế chế Đức.
Nhưng tiếc là nó không xảy ra
bởi vào 2 giờ chiều ngày hôm đó,
lứa đoàn hỗn hợp số 4 của Bỉ
bao gồm bộ binh và pháo binh
đã đến tăng viện cho những người anh em của mình.
Sau khi vào vị trí, những cầu súng máy của họ
đã ngay lập tức khai hỏa về phía quân Đức.
3 tiếng sau, một đợt viện binh nữa xuất hiện.
Lần này là các kỵ sĩ
của trung đoàn kỵ binh hạng nhẹ số 4 của Bỉ
tham chiến.
Và chỉ với một số lượng nhỏ
nhưng vô cùng cơ động,
họ đã làm tịt ngòi tất cả hạng pháo nặng nề
và chậm chạp của quân Đức
nằm dọc tuyến đường từ Điết đến Ha Lẹt.
Các kỵ sĩ của sư đoàn kỵ binh Bỉ
cũng thừa cơ đổ ra giao chiến với kỵ binh Đức
trên một cánh đồng hồ gần đó.
Kiếm chạm kiếm,
thường đầu thương vô cùng khốc liệt,
không khác gì thời Trung Cổ.
Đến lúc trạng vạn, quân Đức đã chấp nhận thất bại và rút lùi.
Trong trận này,
người Đức đã phải chịu toàn thất không nhỏ
với 848 con ngựa,
150 binh sĩ vòng mạng,
600 người bị thương
và 300 bị bắt sống.
Đánh giá về trận Ha Lẹt,
nhiều nhà phân tích chiến thuật cho rằng
đây là một trường hợp điển hình
mà kỵ binh đã bộc lộ rõ ràng nhất
những hạn chế của họ trước khoả khí hiện đại.
Một cuộc xung kích cho dù nhanh và mạnh mẽ tới đâu
nhưng thân phàm sát trần cũng phải trao thua trước súng đạn.
Đồng thời,
cần có một chiến thuật hợp lý và linh hoạt
nếu như muốn phát huy được tối đa ưu thế
về tốc độ, sự cơ động
và sức can lướt của kỵ binh.
Đến cuối năm 1915,
các kỵ binh Anh Quốc đã phần nào
lấy lại được mặt mũi cho lực lượng kỵ binh
trong Thế giới thứ nhất.
Vào ngày 26 tháng 2 năm 1916,
trận Agagia giữa quân Anh
và quân Ả Rập Senussi
được Đức và Ottoman hậu thuẫn
nổ ra ở khu vực Bắc Phi.
Trong đó, trung đoàn kỵ binh Dorres
Giamandri của Anh nhận nhiệm vụ
tập hậu trong khi các đơn vị còn lại
giao tranh chính diện với kẻ thù.
Họ cơ động di chuyển về phía Tây của quân Senussi,
ẩn mình sau những ngọn đồi
và hỗ trợ hòa lực cho bộ binh
từ tiểu đoàn 1 và tiểu đoàn 3 Nam Phi.
Tuy nhiên, quân Senussi
cũng không phải là những tay vừa
khi đáp trả bằng pháo binh,
súng máy và súng trường
từ các vị trí được che chắn mà quân Anh bị khuất tầm nhìn.
Bất chấp tổn thất gia tăng,
quân Anh tổng tấn công
và ép được kẻ địch rút chạy về phía Nam.
Các chiến binh Dorset,
Yamanri, lính ngựa đuổi theo
và phát hiện quân đàn Senussi đang di chuyển
với súng máy và súng trường bảo vệ
sau lưng và 2 bên sườn.
Thế vậy, kỳ bình Anh không vội tấn công
mà để ngựa nghỉ ngơi đồng thời
nghiên cứu kỹ lưỡng địa hình.
Sau khi đã hồi sức, quân Yamanri
phát động tấn công với 2 hàng người ngựa
có tốc độ phi nước đại ổn định.
Họ lao qua cơn mưa đạn của lính Senussi
và khi gần đến hậu quân của kẻ địch,
những tành gươm đục vung lên
và hàng ngũ quân Ả Rập hoàn toàn tàn vỡ.
Bình sĩ bò chạy tán loạn,
thủ lính bị bắt sống.
Cuộc truy sát tiếp tục sâu trong sa mạc Châu Phi.
Tại đó, một số lượng đáng kể Senussi
đã ngã xuống dưới những lưỡi kiếm
của kỳ binh Dorset, Yamanri.
Đến năm 1918,
vai trò của kỹ binh đã thực sự được công nhận
qua trận chiến tại rừng Moraine.
Vào ngày 30 tháng 3 năm 1918,
lứa đoàn kỳ binh Canada đã mở cuộc
tấn công với mục tiêu đẩy lùi 300 quân Đức
đang cố thủ trong khu rừng Moraine
nằm bên bờ sông Abre
tại nước Pháp.
Theo kế hoạch, lực lượng long kỳ binh
Hoàng gia Canada nhận lệnh đánh
từ hướng đông bắc của khu rừng
và trung đoàn mang tên Chiến mã
của lãnh chúa Stracona
sẽ tiến công hướng đông nam.
Trong khi đó, các đơn vị kỳ binh còn lại sẽ đảm nhiệm hướng Tây Bắc.
Những người còn sống từ trận chiến kể lại rằng
do tranh diễn ra vô cùng phức tạp,
do rừng cây rậm rạp,
địa hình không phù hợp với chiến đấu trên ngựa
buộc nhiều kỳ sĩ phải xuống đất chiến đấu như bộ bình.
Nhiệm độ trận đánh do vậy
cũng bị giảm đi đáng kể.
Vào thời điểm này, các đơn vị thuộc trung đoàn
Chiến mã của lãnh chúa Stracona
đã thành lập đội trinh sát
và cử đi để thu tập thông tin chi tiết
về lực lượng và vị trí của kẻ thù.
Sau khi đánh giá tình hình,
các chỉ huy trung đoàn đã hạ lệnh cho Trung Ý
Gordon Flowerdale và đội 150 kỳ binh
dưới quyển của anh ta
mở cuộc tấn công nhằm ngăn chặn
lực lượng quân Đức đang rút lui về phía Đông
để hội quân với các đơn vị khác.
Họ di chuyển về hướng Đông Bắc
và bất ngờ chạm trán với 300 lính Đức
thuộc Tiểu đoàn Lính Ném Lựu 101
có trang bị lựu pháo và một số súng máy hạng nặng.
Chỉ trong tích tắc,
Flowerdale đã đưa ra mệnh lệnh sung kích
và đội kỳ binh Canada
lao vào quân địch với thanh kiếm dơ cao.
Ở hầu hết mọi trường hợp,
kiếm đầu với súng đạn thường không dẫn đến
kết cục tốt đẹp.
Và lần này cũng không phải là ngoại lệ.
Thương vong là vô cùng lớn.
Trong số 150 kỳ sĩ,
chỉ có 51 người sống sót
và phần lớn cũng phải chịu những vết thương khủng khiếp
với da thịt bị luột khỏi xương.
Tuy nhiên, sự hy sinh này không phải là vỗ ích.
Những nỗ lực của tổ đội kỳ binh
do trung ý Flowerdale chỉ huy
đã góp phần không nhỏ để lưu toàn bộ quân Đức
ra khỏi rừng Morion.
Nếu như các lực lượng tỏ ra vô cùng chật vật
ở mặt trận phía Tây,
thì ở mặt trận phía Đông
mọi chuyện có vẻ như dễ dàng hơn một chút.
Những chiến trường băng phẳng
và rộng lớn ở đây đã tạo điều kiện thuận lợi
để các chiến thuật già có thể khai thác
tối đa sức mạnh của kỳ binh.
Vào tháng mở đầu của cuộc chiến,
quân Nga và Áo Hùng
đang giao tranh với nhau tại trận Raroslavik
vào ngày 21 tháng 8 năm 1914.
Trong đó, mỗi bên đã triển khai hẳn
một sư đoàn kỵ sĩ để tỉ thí với đối phương.
Biên đây trở thành trận chiến
quy tụ số lượng kỵ sĩ đông đảo nhất
trong toàn bộ chiến tranh thế giới thứ nhất.
Gần một năm sau,
kỵ binh Nga và Áo Hùng đã một lần nữa
so tài với nhau trong trận Gorodenko
tháng 4 năm 1915.
Tuy nhiên, càng về giai đoạn sau của cuộc chiến,
kỵ binh càng tỏ ra thất thế chất súng đạn,
buộc cả Nga và Áo Hùng
đều phải chuyển đổi nhiều đơn vị kỵ binh của mình
thành các đơn vị bộ binh.
Tương tự như các quốc gia tham chiến khác,
sự kết hợp giữa các yếu tố
như sự thiếu hiệu quả của kỵ binh,
nhu cầu về lính bộ binh tăng cao,
nhu cầu dùng ngựa để vận chuyển pháo binh,
đạn dược và các nguồn cung cấp khác
đã dẫn đến sự hoán cải này.
Như vậy,
từ thông tin về những trận đánh tiêu biểu
có sự tham gia của kỵ binh trong thế chiến thứ nhất,
có thể nói rằng
cuộc chiến này thực sự đã đánh dấu sự kết thúc
cho thời kỳ bá chủ trên chiến trường
của các kỵ sĩ.
Tuy nhiên, trong một số trường hợp cụ thể,
các kỵ binh vẫn tỏ ra khá hữu dụng.
Đơn cử như lực lượng kỵ binh cảnh sát
với chức năng đảm bảo an ninh,
chè nắp bảo động,
hoặc thực hiện các nhiệm vụ
ở các khu vực có địa hình đặc biệt như đồi núi, rừng rậm.
Theo quý vị khán giả,
liệu rằng kể từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất,
các kỵ binh có còn chỗ đứng
trong chiến tranh hiện đại hay không?
Và nếu có,
thì vai trò của họ sẽ là gì?
Đừng ngân ngại để lại ý kiến dưới phần bình luận.
Còn bây giờ, vinh cường thân mạng ekip.
Xin chào, hẹn gặp lại
và chúc mọi người có một ngày tốt lành.
