Vua Thuấn

HUỆ ĐỨC GIÚP CON NÊN NGƯỜI
1K Người theo dõi
636 Lượt xem video·23 thg 4, 2025
Vua Nghiêu truyền ngôi cho Vua Thuấn
Comments are disabled for this video.
Nhị Thập Tứ Hiếu
Bài 1 Hiếu Cảm Động Trời
Thời Thượng Cậu, có ba vị Hoàng đế có đức hạnh nổi tiếng là Nghiêu, Thúng, Vũ.
Trong đó, Vô Thúng vì chí Hiếu đã cảm động trời đất, được Phu Nghiêu lựa chọn làm người thừa kế.
Câu chuyện của Vô Thúng đã được xếp vào hàng đầu trong những tấm gương hiếu hạnh thời xưa.
Chuyện cũ kể rằng, Phu Nghiêu 16 tuổi xuân đế trị vị thiên hạ.
Đến năm 86 tuổi, vua tuổi tác đã cao, hy vọng tìm được một người thích hợp để truyền thừa ngôi vị.
Thế là ngày bèn trân cầu ý kiến quân thần, không ngờ các đại thần đều đồng thanh tiến cử một người nhà quê tên Thúng.
Bởi vì ông là một người con hiếu thảo nổi tiếng.
Từ đó có thể thấy, người xưa rất coi trọng chữ hiếu, coi hiếu hạnh đứng đầu trong các đức hạnh.
Một người hiếu thuận với cha mẹ thì nhất định sẽ biết yêu thương bảo vệ người dân trong thiên hạ.
Sau khi kế vị, Thúng lấy quốc hiệu là Ngu, nghĩa là yên vui.
Do đó, trong lịch sử, thường gọi vua Thúng là Ngu Thúng.
Ngu Thúng hiếu thuận cảm động trời đất.
Ngu Thúng có họ diêu, tên là Trọng Hoa.
Phụ thân là Cổ Tẩu, nghĩa là ông già mù.
Là một người không hiểu lý lẽ sự việc, rất ngoan cố và đối xử khá bất hảo với Thúng.
Mậu thân Thúng là Ác Đăng, là người vô cùng hiền lương, nhưng không may đã qua đời khi Thúng còn rất nhỏ.
Thế là cha Thúng tái hôn, mẹ kế là một người không có đức hạnh.
Sau khi sinh được người em trai tên là Tượng, người cha yêu chiều mẹ kế và người em.
Cả ba người thường xuyên liên kết mù hại Thúng.
Đối với cha mẹ, Thúng vô cùng hiếu thuận.
Mặc dù cha, mẹ kế và em trai đều coi Thúng như cái gai trong mắt, đều muốn trừ khử ông.
Nhưng Thúng vẫn cung kính hiếu thuận cha mẹ, yêu thương em trai.
Ông hy vọng dốc hết tâm sức để gia đình êm ấm hòa thuận, cả nhà cùng chung hưởng hạnh phúc.
Mặc dù Thúng đã trải qua nhiều gian khổ tủi nhục đủ loại,
nhưng ông muốn dành cả đời cho mục tiêu này nên đã không ngừng nỗ lực.
Khi còn nhỏ, mỗi lúc bị cha mẹ rách mắng,
thì ý nghĩ đầu tiên trong lòng của Thúng là
nhất định là mình đã làm không tốt ở chỗ nào rồi mới khiến cha mẹ tức giận.
Thế là ông càng cẩn thận kiểm điểm lời nói, việc làm của bản thân,
nghĩ mọi cách để khiến cha mẹ vui vẻ.
Nếu Thúng bị em trai cố ý gây chuyện, gây khó khăn,
thì ông không những bao dung em mà còn cho rằng
bản thân đã không làm tấm gương tốt thì mới khiến em trai không có đức hạnh.
Ông thường xuyên tự khiển trách mình sâu sắc,
có lúc thậm chí ông còn chạy ra cánh đồng khóc lớn,
tự hỏi tại sao mình không làm được tận thiện tận mỹ để khiến cha mẹ vui lòng.
Mọi người thấy Thúng tuổi còn nhỏ mà đã biết hiếu thuận như thế
thì ai nấy đều cảm động sâu sắc.
Lòng hiếu thuận chân thành của Thúng không những cảm động làng xóm
mà còn cảm động trời đất vạn vật.
Thúng cày ruộng ở núi Lịch Sơn,
chung sống vô cùng hài hòa với núi đá cỏ cây,
hài hòa với chim thú, tôm cá, côn trùng.
Thế nên các loài động vật tất nập đến giúp ông.
Vòi thiện lương thuần phục hiền lành đến giúp Thúng cày ruộng.
Những bầy chim nhỏ nhắn nhanh nhẹn kết thành tầng đàn xa xuống
riêu rích lách tách giúp ông nhặt cỏ.
Mọi người thấy vậy vô cùng kinh ngạc và cảm phục
vì tận mắt trông thấy sức mạnh của đức hạnh lớn như này.
Mặc dù như vậy, Thúng vẫn cung kính, hiếu thuận và khiêm nhường.
Hiếu hạnh của ông đã được rất nhiều người ca ngợi và truyền tụng.
Chẳng bao lâu, khắp mọi người trên toàn quốc đều biết Thúng là người con đại hiếu.
Khi đó, vua Nghiều đang bận tâm lo lắng về việc truyền ngôi vị,
nghe các đại thần từ bốn phương tiến cử.
Vua biết Thúng là người thuần phát, khoan hậu, khiêm tốn và cẩn thận.
Nhưng việc trị vị thiên hạ thì cần phải có vị nhân kiệt xuất
tại đức song toàn thì mới có thể đảm nhiệm được.
Vua Nghiều bèn gã hai người con gái là Nga Hoàng và Nữ Anh cho Thúng,
đồng thời phái chính người con trai đến phò tá Thúng.
Vua Nghiều hy vọng thông qua việc quan sát hai con gái
để khảo nghiệm đức hạnh đối nội của Thúng
và thông qua việc quan sát chính người con trai
để đánh giá khả năng đối ngoại, đối nhân sự thế của ông.
Nga Hoàng và Nữ Anh là người hiền huệ, minh bạch lý, tình.
Họ phùng dưỡng cha mẹ chồng rất mật hiếu hạnh,
coi sóc chăm lo việc nhà và việc đồng án mùa vụ
cũng rất đảm đang trù toàn tháo phát.
Hại cụ không chỉ là trợ thủ đắc lực của Thúng
mà còn thành tựu lòng hiếu thuận mà cả đời ông đã cố gắng không ngừng.
Một lần cổ tổ sai Thúng lên mái nhà sửa mái.
Sau khi Thúng leo lên, không ngờ cổ tổ liền ở dưới phóng lửa đốt.
Khi ngọn lửa lớn rừng rực tiến về chỗ Thúng,
trong lúc nguy hiểm vạn phần đó,
chỉ thấy Thúng hai tay cầm hai cái mũ đăng lớn giống như chim đại bàng
từ mái nhà ung dung nhảy xuống.
Thì ra hai người vợ thông minh đã có chuẩn bị từ trước rồi.
Lại một lần cổ tổ lệnh cho Thúng đào diến.
Thúng đào diến đến vị trí rất sâu rồi.
Cổ tổ và tượng muốn trôn Thúng ở trong diến,
liền dốc sức lấp đất xuống diến,
cho rằng làm như vậy thì Thúng sẽ vĩnh viễn không thể trở về được nữa.
Nào ngờ dưới sự sắp đặt của hai vị phu nhân,
Thúng đã đào trước một đường thông ở lưng chân diến,
qua đó đã ung dung thoát được kiếp nạn.
Khi tượng đang đắc ý cho rằng tài sản của Thúng đều thuộc về mình,
thì bỗng nhiên thấy Thúng bước vào.
Tượng thất kinh, cuốn quýt, những mong che giấu mọi chuyện.
Nhưng Thúng không hề lộ một chút nét mặt giận dữ nào.
Dường như chẳng có chuyện gì xảy ra.
Sau đó Thúng lại ngày càng phụng dưỡng cha mẹ,
đối xử với em trai càng thêm bội phần cung kính, cẩn thận.
Sức mạnh của Hiếu Hạnh
Khi Thúng đến núi Lịch Sơn cây ruộng,
nông phu ở địa phương này thường xuyên vì ruộng đất mà tranh giành chiếm đoạt của nhau.
Trước tiên, Thúng dùng lễ nhường họ, kính già yêu trẻ,
dùng đức hạnh của mình cảm hóa dân chúng.
Quả nhiên một năm sau, những nông phu này đều cảm động,
và không còn tranh đất đoạt ruộng lẫn nhau nữa.
Thuấn đã từng đến đầm lòi trạch để đánh cá.
Ở nơi đó, người tuổi trẻ có sức khỏe đều chiếm những vị trí tốt,
còn người già yếu cô đơn thì không còn chiếm được lợi thế,
không cách nào bắt được cá.
Thuấn thấy tình hình như vậy,
ông bèn trước tiên lấy mình làm gương,
đem chỗ nước sâu cá nhiều, dừng cho những người già,
còn bản thân thì đến bến nước nông cá ít để đánh bắt.
Do Thuấn một lòng đối đại chân thành,
không hề có một chút khôn khéo miễn cưỡng nào,
nên đã khiến cho mọi người cảm thấy hỗ thiện và cảm động.
Vậy là chỉ nội trong thời gian một năm ngắn mũi,
mọi người đều đã biết lễ nghĩa, kính nhường người già.
Thuấn cũng đã từng đến vùng Đào Hà,
nơi này thổ nhượng không tốt,
đồ gốm sản xuất ra chất lượng không đảm bảo.
Điều khiến mọi người kinh ngạc chính là
sau một năm Thuấn trị sữa, quản lý vùng này,
thì chất lượng của đồ gốm sứ do dân Đào Hà làm ra bỗng dừng trở nên hoàn hảo.
Mọi người đều nhất trí cho rằng
đó là kết quả do đức hạnh của Thuấn đã cảm ứng mà ra.
Sau này, những nơi Thuấn sống,
thì người dân cũng quần tụ đến ở ngày một đông.
Một năm là đã thành làng xóm,
hai năm đã trở thành huyện ấp,
ba năm đã trở thành thành thị lớn.
Đó chính là điều mà sự sách gọi là
một năm thành làng, hai năm thành ấp, ba năm thành đô thị.
Nguyên văn là
nhất niên thành tụ, nhị niên thành ấp, tam niên thành đô.
Vua Nghiêu sau khi biết được đức hạnh của Thuấn càng tán thưởng.
Thế là vua thử thách đủ các khả năng của Thuấn.
Thuấn không hề e sợ, đều chấp nhận những thử thách gian nang này.
Một lần vua Nghiêu xài Thuấn vào núi rừng,
sông hồ để khảo nghiệm khả năng ứng biến của ông.
Tuy gặp mưa to gió lớn, sóng xét,
nhưng Thuấn dựa vào trí tuệ và nghị lực của mình vẫn an toàn trở về.
Thuấn dũng cảm, trầm tỉnh khiến vua Nghiêu càng thêm tin tưởng rằng
đức hạnh của Thuấn đã đủ để trị vị thiên hạ.
Sau khi Thuấn trải qua đủ các khảo nghiệm,
vua Nghiêu vẫn chưa vội truyền ngôi cho Thuấn
mà để ông xử lý chính sự hai mươi năm.
Sau đó thầy vừa nhiếp chính tám năm.
Sau hai mươi tám năm, vua Nghiêu mới chính thức truyền ngôi cho Thuấn.
Qua đó có thể thấy,
người xưa đối với việc kế thượng ngôi vị đế vương
đã vô cùng dụng tâm dốc sức,
không hề có mảy may khinh xuất hay quà loà đại khái.
Nếu không thể dùng nhân trị thế, dùng đức trị quốc,
thì quốc gia sẽ khó mà thệnh trị yên ổn lâu dài được.
Khi Thuấn kế thượng ngôi vị,
ông không cảm thấy có chút vui thích nào,
trái lại còn cảm thương nói rằng
Mặc dù ta đã làm đến như ngày nay,
mà cha mẹ vẫn chưa vui thích với ta.
Ta làm thiên tử, làm đế vương, vọng có tác dụng gì?
Hiếu hạnh chí đức, tấm lòng son sắc của ông
khiến ai nấy nghe thấy đều cảm động như chính mình trải nghiệm.
Nước mắt tuôn rơi.
Ông trời không phụ người có lòng khổ tâm.
Lòng hiếu hạnh của vua Thuấn
cuối cùng đã cảm hóa được cha mẹ và người em của ông.
Sách Mạnh Tử có viết rằng
Thuấn là người như thế nào, ta là người như thế nào.
Người làm được như thế cũng trở nên giống như vua Thuấn vậy.
Vua Thuấn có thể làm được hiếu thuận.
Chúng ta cũng có thể làm được.
Bởi vì trong thiên tính của chúng ta
đều có cái tâm trí thiện, trí kính, trí nhân, trí tự.
Nếu chúng ta có thể lấy vua Thuấn làm tấm gương
thực sự làm tròn bổn phận hiếu thuận với cha mẹ
thế thì chắc chắn rằng
chúng ta có thể tạo dựng được gia đình hạnh phúc mỹ mãn.
Sau đó lại đem chữ hiếu này mở rộng đến tất cả mọi người
sự việc và sự vật xung quanh chúng ta
thì bất kỳ sự xung đột đối lập nào
cũng đều được hóa giải như băng tan, tuyết chảy.
Lòng chí hiếu này sẽ tạo ra xã hội hài hòa
trên dưới không án hận, người dân hòa thuận yên vui.
Tưởng nhớ về vua Thuấn hiếu hạnh cảm động trời xanh.
Người xưa có thơ ca ngợi rằng
Đội đội xuân canh tượng, phân phân vân thảo cầm
Tự nhiêu đăng bảo vị, hiếu cảm động thiên tâm.
Tạm dịch là
Đoàn đoàn voi cày ruộng, nhộn nhịp chim nhỗ cỏ
Nối đế nhiều ngôi báu, hiếu cảm động trời cao.
Tạm dịch là
