Sập Bẫy Trung Quốc, Campuchia Vô Cùng Khốn Đốn: Lịch Sử Vẫn Đang Lặp Lại? | CLB Tỷ Phú
CLB Tỷ Phú
1.4K Người theo dõi
"Giữa cơn bão nợ công càn quét khắp Đông Nam Á, Việt Nam không chỉ ""đứng vững"" mà còn giảm nợ trong những năm gần đây. Tại sao Việt Nam làm được điều này khi nhiều nước còn chìm trong nợ nần? Bí quyết kiểm soát nợ của Việt Nam là gì? Hãy cùng CLB Tỷ Phú “giải mã” trong video ngày hôm nay!
Sập Bẫy Trung Quốc, Campuchia Vô Cùng Khốn Đốn: Lịch Sử Vẫn Đang Lặp Lại? | CLB Tỷ Phú
0:00 Mở đầu
0:47 Campuchia ngập trong nợ nần, dự kiến sẽ còn vay tiếp
4:20 Trái ngược với người bạn hàng xóm, Việt Nam kiểm soát nợ giỏi ra sao?
12:10 Kinh tế Việt Nam năm 2025: Vươn mình, bứt phá?
17:40 Kết thúc
#campuchia #hunsen #phamminhchinh"
Campuchia với nền kinh tế nhỏ bé chỉ 31 tỷ đô la Mỹ đang chặt vật với nợ công chạm móc 38% GDP.
Trong khi đó, Việt Nam với quy mô GDP khổng lồ gần 430 tỷ đô la Mỹ,
gấp 14 lần Campuchia vẫn giữ được tỷ lệ nợ ổn định ở mức 36% GDP.
Đáng nói hơn, giữa cơn bão nợ công càng quét khắp Đông Nam Á sau đại dịch Covid-19,
Việt Nam không chỉ đứng vững mà còn giảm nợ trong những năm gần đây.
Tại sao Việt Nam làm được điều này khi nhiều nước còn chìm trong nợ nần?
Bí quyết kiểm soát nợ của Việt Nam là gì? Hãy cùng câu lộc bộ tỷ phú giải mã trong video ngày hôm nay!
Campuchia ngập trong nợ nần, dự kiến sẽ còn vay tiếp
Campuchia đang có tham vọng chuyển đổi từ quốc gia kém phát triển thành quốc gia có thu nhập trung bình vào năm 2030
và trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2050.
Để làm được điều đó, họ đã vay nợ rất nhiều.
Báo cáo từ Bộ Kinh tế và Tài chính Campuchia cho biết, tính đến cuối cuối ba năm 2024,
Campuchia có tổng nợ công là 11,78 tỷ đô la mỹ.
Seuul Sam, chuyên gia phân tích chính sách tại Học viện Hoàng gia Campuchia, nói với tờ Khmer Tham rằng
năng lực kinh tế của Campuchia vẫn đủ để trả các nghĩa vụ cho các đối tác phát triển và các nước cho vay.
Campuchia là một quốc gia đang phát triển và chúng tôi cần nguồn tài trợ từ nhiều nguồn khác nhau,
chẳng hạn như các nhà tài trợ và các đối tác phát triển khác, để phát triển đất nước, ông Seul Sam nói.
Và cho biết thêm, nợ công 11,78 tỷ đô la mỹ là con số nợ lớn, nhưng xét về khả năng tạo ra danh thu của Campuchia
thì vẫn ở mức có thể quản lý được.
Tháng 8 năm 2024, chính phủ Campuchia đã công bố chiến lược quản lý nợ công toàn diện trong năm.
Từ năm 2024 đến năm 2028, phát thảo kế hoạch của chính phủ nhằm sử dụng nợ công cho nhiều dự án cơ sở hạ tầng khác nhau.
Theo chiến lược này, chính phủ Campuchia sẽ vay từ 2,3 tỷ đô la mỹ đến 2,7 tỷ đô la mỹ,
tương đương từ 1,7 tỷ đô la mỹ đến 2,5 tỷ quyền rút vốn đặc biệt hàng năm từ các tổ chức tài chính nước ngoài và các đối tác phát triển.
Trong khi các chuyên gia tài chính của Campuchia vẫn lạc quan thì Trung Quốc lại đang thắt chặt các khoản vay.
Trong những năm gần đây, Trung Quốc luôn là chủ nợ hàng đầu của Campuchia.
Dữ liệu của Bộ Tài chính Campuchia cho thấy nợ Trung Quốc chiếm hơn một phần ba trong tổng nợ của vân quốc này,
tuy nhiên không có bất kỳ khoản vay mới nào được giải ngân từ tháng 1 đến tháng 9 năm nay,
giảm so với mức gần 212 triệu đô la mỹ vào cùng kỳ năm ngoái.
Điều này đã khiến cho nhiều người rất sửn sốt bởi việc chủ nợ lớn nhất Trung Quốc đóng băng các khoản vay cho một nước
mà họ xem là đối tác chiến lược Campuchia đã làm dấy lên những câu hỏi về hiệu quả của những khoản vay đã giải ngân,
cũng như khả năng trả nợ của Phnom Penh.
Đầu tư của Trung Quốc vào Campuchia đang giảm mạnh, để lại nhiều dấu hỏi lớn.
Trung Quốc, chủ nợ lớn nhất của Campuchia, chỉ cho vay hơn 300 triệu đô la mỹ trong năm 2023,
trong khi ngân hàng thế giới dẫn đầu với 500 triệu đô la mỹ,
công sứ này dự kiến sẽ lao dất từ 420 triệu đô la mỹ năm 2021 xuống còn võng vẹn 35 triệu đô la mỹ vào năm 2026.
Dù từng hứa hẹn nhiều dự án hoành tráng, Trung Quốc đã âm thầm rút khỏi kế hoạch xây sân bay mới ở Phnom Penh, trị giá 1,1 tỷ đô la mỹ.
Đường cao tốc nối thủ đô Phnom Penh với Sihanouk Viller từng được kỳ vọng là mạch món giao thông.
Này bắn tanh vì tài xế chọn con đường cũ miễn phí, tương tự, sân bay tại Simrip dành cho du khách đến Angkor Wat
cũng rơi vào cảnh điều hiệu khiến nhà đầu tư đối diện nguy cơ thua lỗ nặng.
Đáng buồn hơn, nguồn khách du lịch Trung Quốc vào cứu sinh kinh tế Campuchia vẫn chưa trở lại sau đại dịch.
Cảnh báo của Bắc Kinh về tình trạng lừa đảo tại Campuchia càng khiến tình hình thêm ám đàm.
Gần đây, dự án kênh đạo Phunam Tech Co. trị giá 1,7 tỷ đô la mỹ cũng rơi vào tình trạng mập mờ
khi các nhà đầu tư Trung Quốc bắt đầu tỏ ra trần trực.
Những dấu hiệu này cho thấy giấc mơ về dòng vốn đầu tư khổng lồ từ Trung Quốc
đang dần phai nhạt để lại Campuchia đối diện với nhiều thách thức và bất an hơn bao giờ hết.
Trái ngược với người bạn hàng xóm, Việt Nam kiểm soát nội giỏi ra sao?
Việt Nam hiện là một trong những nền kinh tế lớn và đa dạng nhất khu vực
vượt xa nhiều nước láng giềng, đặc biệt là Campuchia.
GDP của Campuchia năm 2024 chỉ khoảng 31 tỷ đô la mỹ,
trong khi Việt Nam gần 430 tỷ đô la mỹ, tức là gấp gần 14 lần.
Dù quy mô nền kinh tế lớn hơn rất nhiều, nợ công của Việt Nam vẫn chỉ chiếm 36% GDP,
một con số khá kiềm tống so với nhiều nước khác trong khu vực và trên thế giới.
Vậy tại sao Việt Nam lại có thể kiểm soát nợ tốt như vậy, trong khi nhiều nước phải gần mình gánh nợ?
Trước hết, Việt Nam cũng như bất kỳ quốc gia nào khác phải đi vầy để chi tiêu khi ngân sách có thâm hụt.
Năm 2024 dự toán cho thấy tổng thu ngân sách của Việt Nam khoảng 1,7 triệu tỷ đồng,
tương đương 70 tỷ đô la mỹ, trong đó 83% đến từ thuế và phí.
Nhưng tổng chi đã ước tính lên tới 2,3 triệu tỷ đồng, khoảng 95 tỷ đô la mỹ,
tức là chi nhiều hơn thu khoảng 17 tỷ đô la mỹ.
Tiền chi này được dùng cho rất nhiều việc từ quốc phòng 8,5 tỷ đô la mỹ chiếm 16,9% ngân sách trung ương,
trả lãi phay và nợ gốc 4,5 tỷ đô la mỹ cho đến các dự án đầu tư phát triển.
Để bù vào khoản dân lịch này, chính phủ phải phay thêm.
Nhưng điều đặc biệt ở đây là Việt Nam vẫn đều đặn trả nợ đúng hạn, cả gốc lẫn lãi.
Ví dụ trung bình mỗi năm, từ 2020 đến năm 2023, chính phủ trả hơn 300 nghìn tỷ đồng tiền nợ,
nhờ đó nợ công không tăng quá nhanh và tỷ lệ nợ trên GDP vẫn được kiểm soát ổn định.
Thêm một điểm đáng chú ý nữa, thâm hụt ngân sách của Việt Nam luôn ở mức thấp so với khu vực,
chỉ khoảng 3-4% GDP mỗi năm.
Năm 2020, khi đại dịch bụng nổ, các nước vải vây rất nhiều để kích thích nền kinh tế.
Indonesia có mức thâm hụt 6,07% GDP, còn Philippines lên tới 7% GDP.
Trong khi đó, Việt Nam chỉ thâm hụt có 2,86% GDP.
Đến năm 2022, Việt Nam thậm chí còn thẳng dư ngân sách 0,68% GDP,
trong khi Philippines lại ghi nhận con số âm 5,48% GDP.
Điều này chứng tỏ chính phủ Việt Nam quản lý trị tiều rất giặt chẽ,
không chi quá tay và không vây nợ tràn lan như nhiều quốc gia khác.
Bên cạnh đó, kinh tế Việt Nam luôn duy trì tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ.
Còn nhớ năm 2020, khi cả thế giới chìm trong si thoái,
nhiều nước như Thái Lan và Malaysia có tăng trưởng âm lận lượt là âm 6,1% và âm 5,6%,
thì Việt Nam vẫn tăng trưởng dương 2,9%.
Năm 2022, GDP Việt Nam bức phá mạnh mẽ, tăng tới 8,02%, mức cao nhất trong hơn một thời kỷ.
Tăng trưởng kinh tế nhanh giúp mở rộng quy mô nền kinh tế,
làm cho tỷ lệ nợ công trên GDP giảm xuống, ngay cả khi tổng nợ có tăng nhẹ.
Hiểu đơn giản là khi chiếc bánh kinh tế to ra,
vần nợ trở nên nhỏ hơn và chính phủ cũng có thêm nguồn lực để trả nợ một cách dễ dàng.
Không thể không kể đến yếu tố xuất khẩu, động lực quan trọng giúp Việt Nam duy trì được cân bằng tài chính.
Hiện nay, xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam chiếm tới 93% GDP năm 2022,
cao hơn rất nhiều so với Thái Lan 66% hay Indonesia 22%.
Đặc biệt, năm 2023, Việt Nam kia nhận thẳng dư thương mại 12 tỷ USD.
Xuất khẩu mạnh giúp Việt Nam thu về nguồn ngoại tệ lớn,
đảm bảo dự trữ ngoại hối ở mức ổn định khoảng 100 tỷ USD, từ đó giảm áp lực vay nợ nước ngoài.
Khi có tiền ngoại tệ dù giàu, Việt Nam có thể tự tin chi tiêu và trả nợ mà không lo bị lệ thuộc vào bên ngoài.
NỢ CÔNG AN TOÀN – VIỆT NAM ĐANG VAY NỢ Ở ĐÂU?
Vì thế, nợ được cải thiện, giảm sự phụ thuộc vào các nguồn huy động bên ngoài và tỉ trọng nợ công
bằng ngoại tệ giảm dần, giúp giảm rủi ro tỉ giá.
Theo báo cáo Chính phủ Cử quốc hội về tình hình nợ công năm 2024 và dự kiến năm 2025,
các chỉ tiêu nợ đều nằm trong giới hạn an toàn.
Cụ thể, nợ công GDP ước tính 36-37% nợ chính phủ trên GDP, khoảng 33-34% và dư nợ nước ngoài
của quốc gia trên GDP, chỉ khoảng 32-33%, thấp hơn nhiều so với mức trần 50% GDP do quốc hội quy định.
Đáng chú ý, nghĩa vụ trả nợ nước ngoài của quốc gia so với kiêm ngạch xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ,
trừ nợ gốc ngân hàng, dự kiến ở mức khoảng 8-9%, an toàn so với ngưỡng 25%,
do quốc hội cho phép.
Việt Nam vay chủ yếu từ nguồn trong nước, tỷ lệ nắm giữ trái phiếu chính phủ của các tổ chức
như công ty bảo hiểm, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Quỹ đầu tư đạt 62,5% tổng dư nợ,
phần còn lại thuộc về ngân hàng thương mại, công ty chính khoản và nhà đầu tư khác.
Các chủ nợ nước ngoài của Việt Nam chủ yếu là các đối tác phát triển song phương và đa phương như Nhật Bản,
Hàn Quốc, Ngân hàng Thế giới VKP và Ngân hàng Phát triển Châu Á ADP.
Nợ bằng đồng nội tệ chiếm phần lớn danh một nợ chính phủ khoảng 71,3% đến cuối năm 2023,
trong khi nợ ngoại tệ chủ yếu là đô la Mỹ 12,5%, Yên Nhật 8,2%, Euro 4,4%.
Chiến lược quản lý nợ chủ động đã giúp giảm rủi ro thanh khoản và cải thiện vị thế nợ của chính phủ.
Nợ được cơ cấu theo hướng tích cực giảm sự phụ thuộc vào các nguồn bay nước ngoài năm 2024,
vài trong nước ước tính đạt 639.399 tỷ đồng.
95% kế hoạch chủ yếu thông qua phát hành trái phiếu chính phủ kỳ hàng 11 năm,
với lãi suất bình quân 3% một năm, giảm nhẹ so với năm 2023.
Vài ODA và các khoản bay ưu đãi từ nước ngoài ước đạt 31.280 tỷ đồng,
với chi phí lãi suất thấp bình quân 1,9% một năm từ các đối tác như VKP, ADP,
chính phủ Nhật Bản và Hàn Quốc.
Bên cạnh đó, chỉ tiêu nghĩa vụ nợ trực tiếp của chính phủ so với thu ngân sách
cũng duy trì ổn định ở mức 21-22%.
Quản lý nợ công đã đáp ứng nhu cầu huy động vốn đầu tư phát triển,
mà vẫn giữ vẫn an ninh tài chính quốc gia.
Tỷ lệ nợ chính phủ có bảo lãnh tiếp tục giảm từ 3,8% GDP năm 2021 xuống còn 2-3% GDP năm 2024.
Về xếp hạng kính nhiệm, các tổ chức như SNP, BRICS và Booty tiếp tục giữ xếp hạng
kính nhiệm quốc gia của Việt Nam ở mức BB+, BA2 với triển vọng ổn định, đáng nói.
Nợ chính phủ của Việt Nam chỉ ở mức 34% thấp hơn nhiều so với trung bình của các quốc gia cùng xếp hạng 53%.
Nhìn chung, trong bối cảnh nợ công toàn cậu đang tăng cao, Việt Nam nổi bật như một ngoại lệ
khi tỷ lệ nợ công chỉ khoảng 37% GDP vào cuối năm 2023,
thấp hơn rất nhiều so với trần 60% GDP do Quốc hội đặt ra.
Nợ chính phủ cũng chỉ chiếm 34% GDP, trong khi mức trần là 50% GDP.
Không chỉ vậy, cơ cấu nợ của Việt Nam còn chuyển dịch theo hướng tích cực,
khi nợ trong nước chiếm tới 71% tổng dưa nợ, giúp giảm sự phụ thuộc vào vai nợ nước ngoài.
Nhờ quản lý chi tiêu hợp lý, trả nợ đều đặn, duy trì tăng trưởng kinh tế mạnh và xuất khẩu vượt trội.
Việt Nam đã được các tổ chức quốc tế đánh giá rất cao.
Từ năm 2021, các tổ chức xếp hàng tính nhiệm như Moody, S&P, Fitch liên tục nâng hạng Việt Nam.
Hiện tại, chúng ta chỉ còn cách 1-2 bậc để đạt ngưỡng đầu tư an toàn,
một cục mốc quan trọng giúp Việt Nam tiếp cận nguồn vốn rẻ và ưu đại hơn.
Kinh tế Việt Nam năm 2025 vương mình bất phá
Trong bốt cảnh kinh tế toàn cầu đối mặt với nhiều thách thức,
những tín hiệu tích cực từ trong và ngoài nước đã mở ra triển vọng cho một năm tăng trưởng ấn tượng của Việt Nam.
Phó giáo sư tiến sĩ Đinh Trọng Thịnh, Học viện Tài chính cho hay,
gần đây nền kinh tế Việt Nam đã ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực,
việc kiểm soát, làm phát hiệu quả, duy trì ổn định tỷ giá và tăng tốc giải ngân vốn đầu tư công,
đã tạo động lực quan trọng thúc đẩy phát triển.
Nền kinh tế nội địa với sức tiêu dùng ngày càng tăng và tầng lớp trung lưu mở rộng
là cơ sở vẫn chắc do tăng trưởng bền vẫn.
Các ngành công nghiệp chế biến, xuất khẩu nông sản và du lịch cũng được kỳ vọng duy trì đà phát triển mạnh mẽ.
Trong năm 2025, ông Thịnh nhận định, vẫn theo chuyên gia, mặc dù kinh tế toàn cầu tiềm ẩn nhiều bất ổn,
Việt Nam vẫn có cơ hội lớn từ sự phục hồi thương mại quốc tế,
chính sách nối lỏng tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ Phép và xu hướng chuyển dịch chuỗi cung ứng
đang tạo được kiện thuận lợi cho hàng hóa Việt Nam, đặc biệt tại các thị trường lớn như Mỹ và châu Âu, EU,
đồng thời các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như EVFTA và CBTPP tiếp tục mang lại lợi thế cạnh tranh về thuế quan,
mở ra cơ hội xuất khẩu đáng kể cho doanh nghiệp.
Đáng chú ý, ông Thịnh nhận định, việc ông Donald Trump có thể trở lại Nhà Trắng
sẽ vừa là thách thức vừa là cơ hội trong nhiệm kỳ trước.
Các chính sách bảo hộ thương mại của ông Trump đã có tác động lớn đến kinh tế toàn cầu, bao gồm Việt Nam.
Nếu ông Trump tiếp tục áp thuế cao lên hàng hóa từ Trung Quốc và Mexico,
Việt Nam có thể hưởng lợi nhờ lợi thế cạnh tranh về giá cả.
Các mặt hàng xuất khẩu như cá cha, cá bà xa, với giá thành thấp hơn cá Mỹ và Trung Quốc
sẽ có cơ hội mở rộng thị phần tại Mỹ, ông Thịnh đặc quan.
Thống kê cho thấy, Mỹ hiện là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam.
Với kiêm ngạch xuất khẩu, đạt 98,4 tỷ đô la Mỹ trong 10 tháng đầu năm 2024,
chiếm trên 29% tổng kiêm ngạch xuất khẩu.
Việc phép giảm lãi xuất khiến đồng đô la Mỹ suy yếu, khuyến khích tiêu dùng tại Mỹ
và tạo lực đẩy cho xuất khẩu Việt Nam.
Đây là cơ hội để các doanh nghiệp Việt Nam tận dụng tiềm năng từ thị trường Mỹ,
đặc biệt trong các lĩnh vực có lợi thế cạnh tranh, ông Thịnh nói thêm.
Đồng quan điểm, Phó giáo sư tiến sĩ Ngô Trí Long, Nguyên viện trưởng Viện nghiên cứu thị trường giá cả
Bộ Tài chính nhận định chuyển vọng tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2025 được đánh giá tích cực,
nhờ vào các yếu tố nội tại mạnh mẽ và sự cải thiện trong nhiều lĩnh vực quan trọng.
Ngân hàng United Overseas Bank UOB dự báo GDP của Việt Nam sẽ tăng 6,6%,
trong khi ngân hàng phát triển dâu Á ADB kỳ vọng mức tăng trưởng đạt 6,2%,
cao nhất khu vực Đồng Nam Á.
Nghị quyết của Quốc hội cũng đạt mục tiêu tăng trưởng GDP từ 6,5-7%,
với kỳ vọng đạt 7-7,5% nếu điều kiện thuận lợi.
Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu này, ông Long cho rằng các giải pháp đột phá như cải cách thể chế,
tạo môi trường kinh doanh thuận lợi và hỗ trợ tài khoá cho doanh nghiệp và người dân
cần được triển khai quyết liệt hơn nữa.
Trong bối cảnh Quỹ tiền tệ quốc tế IMF-2 dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cậu năm 2025
xuống còn 3,2% do căng thẳng địa chính trị và chủ nghĩa bảo hồ thương mại.
Việt Nam sẽ phải đối mặt với những thách thức liên quan đến xuất khẩu và đầu tư.
Nguyên viện trưởng Viện nghiên cứu thị trường giá cả Bộ Tài chính nhận định,
một trong những động lực quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế chính là việc cải cách bộ máy nhà nước.
Những chính sách chống lãng phí và tinh gọn bộ máy đang mang lại nhiều thay đổi tích cực
trong cải thiện môi trường đầu tư, thu hút vốn nước ngoài và thúc đẩy sự phát triển bình vẩn.
Theo ông Long, tinh gọn bộ máy không chỉ giúp giảm thiểu tình trạng trồng chéo chức năng,
mà còn nâng cao hiệu quả quản lý và điều hành. Điều này vừa tiết kiệm ngân sách,
vừa tăng tính minh bạch và hiệu quả, tạo dần niềm tin cho các nhà đầu tư.
Một bộ máy vận hành gọn nhẹ nhưng hiệu quả sẽ giảm bớt gánh nặng hành chính,
từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động kinh doanh và đầu tư.
Đồng thời, các chính sách tăng cưỡng minh bạch và chống tham nhũng cũng đang góp phần
loại bỏ những trở ngại lớn đối với môi trường kinh doanh,
như chi phí không chính thức hay sự bất bình đẳng trong tiếp cận nguồn lực.
Chính những cải cách này đã và đang thu hút các tập đoàn lớn,
đặc biệt là các nhà đầu tư ưu tiên tiêu chí minh bạch.
Một hệ thống minh bạch hơn còn giúp củng cố lòng tin giữa chính phủ,
người dân và cộng đồng doanh nghiệp.
Việc sử dụng hiệu quả nguồn lực công cũng là một yếu tố quan trọng
trong việc nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Nhờ giảm áp lực lên ngân sách, nguồn lực được tập trung đầu tư
vào các lĩnh vực ưu tiên như hạ tầng, giáo dục và công nghệ.
Một môi trường kinh doanh ít rào cản hành chính và chi phí lãng phí
sẽ giúp Việt Nam trở nên hấp dẫn hơn trong việc thu hút dòng quốn FDI
so với các quốc gia trong khu vực.
Cùng với đó, các chính sách tinh gọn và chống lãng phí không chỉ mang lại
hiệu quả kinh tế mà còn hỗ trợ các mục tiêu phát triển bình phẩn.
Việc sử dụng ngân sách hiệu quả hơn sẽ tạo điều kiện để đầu tư
vào các dự án xanh thân thiện với môi trường,
đảm bảo tăng trưởng gắn liền với bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.
Một bộ máy vận hành hiệu quả cũng giúp chính phủ tập trung vào các mục tiêu dài hạn
như phát triển năng lượng tái tạo, xây dựng hạ tầng hiện đại và thúc đẩy chuyển đổi số.
Từ những điều đã nêu trên, dù đối mặt với những thách thức từ môi trường kinh tế toàn cầu,
trưởng vọng tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2025 vẫn khả quan nhờ vào các yếu tố nội
tại mạnh mẽ và chính sách điều hành linh hoạt của chính phủ, chuyên gia kinh tế Ngô Trí Lòng nói.
Nhờ biết liệu cơm gắp mắm, không chi tiêu quá tay, giữ thâm hụt ngân sách thấp,
trả nợ đều đặn và duy trì tăng trưởng kinh tế ổn định, Việt Nam đã xây dựng được một nền tảng
tài chính vẫn chắc. Đây là cơ sở để chính phủ tiếp tục đầu tư vào các dự án quan trọng,
tạo động lực phát triển bình tĩnh và lâu dài cho nền kinh tế.
Hy vọng sang năm mới, Việt Nam sẽ còn nhiều đột phá hơn nữa. Quý vị có ủng hộ điều này?
Hãy để lại bình luận cho Câu lạc Bộ Tỷ Phú biết nhé! Xin chào và hẹn gặp lại!
