Văn hoá H'Mông - Những điều chưa kể.mp4

Xưa và Nay
1.3K người theo dõi
Kênh Tin Báo Nhân Dân sẽ cập nhật đến các bạn các thông tin đầy đủ nhất tại đây. Mời bạn đón xem nhé !
#vanhoa #vanhoatruyenthong #vanhoahmong
Quý vị và các bạn đang theo dõi chương trình Sắc Màu Dân Tộc của truyền hình Nhất Dân.
Thưa quý vị, trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam, người Mông là một trong những tộc người vẫn giữ được gần như nguyên vẹn bản sắc văn hóa truyền thống trong cuộc sống hội nhập hiện nay.
Chương trình hôm nay mời quý vị và các bạn cùng chúng tôi tìm hiểu đôi nét về văn hóa dân tộc Mông, góp chung vào bảng màu đa dạng của 54 dân tộc anh em trên mảnh đất Việt Nam.
Trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam, người Mông là một trong những tộc người ít bị mai một hơn về bản sắc văn hóa truyền thống.
Trong dòng chảy của cuộc sống, sự thiết biến văn hóa đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ.
Người Mông vẫn giữ gìn và bảo tồn tốt phong tục tập quán, tôn giáo tiếng ngưỡng, tiếng nói và văn hóa nghệ thuật.
Một trong những nguyên nhân lý giải cho điều này là do ca tính tộc người và sự tự tôn dân tộc rất cao, giúp họ luôn gìn giữ được gần như nguyên bản những nét văn hóa cổ truyền.
Sau đó, thủ lĩnh của họ là Sueville đã đánh tan, nhiều trận đánh tan thủ lĩnh của Mỹ Hán.
Nhưng sau đó, sức ép của dân số, cù hợp với cư dân ru mục của Mỹ Hán, người Mông phải nuôi về phương Nam, nuôi đến phía Tây.
Thế nhưng họ đi nhiều ngành, nhiều nơi. Thế nhưng để cố kết họ là gì?
Cố kết họ thì, ví dụ như nhiều dân tộc khác, người ta cố kết bằng chữ.
Thế nhưng người Mông không có chữ, chứ là họ cố kết bằng phong tục tập quán, bằng tiếng nói.
Dân tộc Mông thuộc nhóm ngôn ngữ Mông, Dào, cư trú ở hầu hết các tỉnh nguyên núi phía Bắc.
Trên những vùng núi có độ cao từ 1.000m trở lên, người Mông phân chia thành 4 nhóm, Mông Hoa, Mông Đen, Mông Xanh, Mông Trắng.
Tuy có 4 nhóm Mông khác nhau, nhưng về ngôn ngữ và văn hóa cơ bản giống nhau.
Sự khác nhau giữa các nhóm chủ yếu là dựa trên trang phục phụ nữ.
Trong các tộc người phía Bắc Việt Nam, người Mông đặc biệt bởi sự thích nghi và sinh tồn.
Đúng như câu dân ca Mông, loài cá sống ở nước, loài chim bay trên trời, người Mông sống ở núi.
Người Mông thích nghi với đời sống trên các dạy núi cao, trong điều kiện khó khăn nhưng cũng hùng vĩ và thơ mộng.
Họ luôn luôn có khát vọng để xây dựng một quý hương, xây dựng một lãnh thổ của người Mông được tự do.
Cho nên họ đề cao điều tiêu tự do. Nếu mà ở vùng đấy bị áp bức, không được bình đẳng, họ sẵn sàng di cư đến những vùng khác.
Thế thì toàn bộ những cái bản lĩnh, bản sắc của người Mông nó tạo lên cái đặc tính, tính cách dân tộc Mông.
Khung gian sống của người Mông luôn là câu hỏi lớn đối với nhiều người.
Họ luôn chọn sống nơi lưng trời, nhờ thích nghi điều kiện tự nhiên cộng thêm bản tính kiêu hãnh, độc lập.
Mà người Mông đời đời vẫn bám chủ trên những đỉnh núi, quyết không rời bỏ quê hương, dòng tộc.
Chính vì vậy người Mông có câu tục ngữ, không có đỉnh núi nào cao hơn đầu gối người Mông.
Từ sự thích nghi với hoàn cảnh sống, người Mông sáng tạo ra những hình thức canh tác mới,
cũng như những điều kiện văn hóa cho phù hợp để có thể sinh tồn trên những đỉnh núi cao của mình.
Gia đình Anh Lầu đã bao đời sinh sống và canh tác trên mảnh đất chỉ thấy đá và đá này.
Dường như những khó khăn của hàng trăm vụ mùa đã qua chẳng thấm vào đâu
so với những mong muốn và thành quả thu hoạch được từ những hốc đất ít ỏi này.
Cứ vào khoảng tháng 3, thời tiết thuận lợi cho việc gieo trồng,
cả gia đình lại bắt tay vào công việc làm đất, chuẩn bị cho một vụ mùa mới.
Tập quán canh tác trong những hốc đá là minh chứng cho khả năng thích nghi tuyệt vời của người Mông
với điều kiện hiện tại để duy trì cuộc sống.
Người Mông chúng tôi quen với cuộc sống ở núi cao, dù điều kiện canh tác khó khăn,
nhưng Tổ Tiên đã ở đây nên chúng tôi cũng sẽ mãi ở đây, trông trọt cũng quen rồi.
Thiếu đất thì chúng tôi gùi đất đổ vào các hốc đá để gieo mùa vào đó.
Cứ làm như vậy chỉ cần chăm chỉ là có cái ăn.
Người Mông không sợ vất vả, chỉ sợ những người lười lao động.
Sự thông minh, tư duy logic và khả năng lao động bền bì trong tập quán canh tác này
khiến các nhà nghiên cứu cũng như du khách thán phục.
Trí thức và kỹ thuật thổ canh hốc đá của các dân tộc thiểu số ở cao nguyên đá Hà Giang
được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch lập hồ sơ đưa vào Danh mục Di sản Văn hóa Phi vật thể Quốc gia năm 2012.
Nếu như các tộc người khác thường sống quần cư và hòa hợp cùng nhiều tộc người trong một bản làng
thì người Mông lại ít khi sống xen kẽ với các tộc người khác mà cư trú tập trung trong dân tộc mình.
Đối với người Mông, thiết chế dòng họ đóng vai trò rất quan trọng.
Mỗi họ lại có quy định, luật lễ khác nhau.
Mọi người trong họ phải tuân theo quy định, luật lễ đó.
Đồng báo Mông cho rằng, những người cùng dòng họ là anh em cùng tổ tiên,
có thể đẻ và chết trong nhà nhau, phải luôn luôn giúp đỡ nhau trong cuộc sống,
cư mang nhau trong nguyên đàn.
Mỗi dòng họ cư trú quy quần thành một cụm, có một trường họ đảm nhiệm công việc chung.
Người Mông là một đơn vị kinh tế.
Mỗi gia đình người Mông sinh hoạt theo một kiểu sinh hoạt của họ,
có quan hệ cụ thể.
Cho nên, trong gia đình người Mông có đặc điểm là gia đình phũ quyền,
không phải là gia đình mẫu quyền.
Cho nên, người ta rất đề cao vai trò của người trưởng gia đình,
và vai trò của con trai.
Thế nhưng, người Mông nói là vậy thôi.
Nhưng họ cũng rất tôn trọng vợ.
Người Mông đi đến đâu thì dòng họ rất quan trọng.
Người ta di cư như thế nào?
Thì trước kia người ta di cư theo dòng họ,
giúp đỡ theo dòng họ và vai trò của dòng họ càng ngày càng phát triển.
Người Mông là dân tộc theo chế độ phụ hệ.
Tính phụ quyền trong gia đình người Mông rất mạnh.
Người đàn ông đóng vai trò quyết định mọi việc trong gia đình
và là người thưa kế tài sản trong gia đình.
Việc kết hôn, sinh con nhằm nâng cao uy tín của dòng họ
và tăng lực lượng lao động cho gia đình.
Nên người Mông sinh rất nhiều con
và quan trọng con trai để nối rõi thờ cúng ông bà tổ tiên.
Một đứa bé được sinh ra,
việc quan trọng đầu tiên là làm lễ đặt tên.
Lễ đặt tên có vị trí rất quan trọng
liên quan đến các nghi lễ vòng đời của dân tộc Mông.
Từ khi sinh ra đến khi nhắm mắt trở thành dân tộc Mông,
Người Mông trải qua rất nhiều nghi lễ
như lễ đặt lại tên đệm đối với người đàn ông,
lễ cưới, lễ ma.
Trong đó đặt tên là nghi lễ đầu tiên của một đời người
và đặc biệt quan trọng đối với bé trai
vì sự kỳ vọng sau này lớn lên
đứa bé sẽ trở thành trụ cột của gia đình và dòng họ.
Những bồ lão người Mông thường tự hào nói rằng
con trai Mông trưởng thành phải biết cày nương,
dền sắt và thổi khèn.
Nếu trong lao động, đàn ông Mông
luôn thể hiện sự mạnh mẽ, chủ động, trụ cột của gia đình
thì nét tài hoa lại được thể hiện qua tài năng múa khèn,
thổi khèn như những nghệ sĩ thực thụ.
Khèn không đơn giản là một phương tiện giải trí
mà chính là đem tài nghệ của mình.
Thông qua tiếng khèn,
những chàng trai Mông sẽ tìm được một nửa của mình.
Cũng nhờ tài múa khèn
và khiến cho cây khèn dường như vô chi kia
gất lên những âm thanh ru rương
mà những chàng trai Mông tìm cho mình
được người phụ nữ phù hợp nhất.
Người Mông nó như một người có ba yếu tố.
Một là như một chiến binh rất rút cạn.
Nhất là người Mông vùng biên giới
phải chống giặc giã, chống giặc cướp rất nhiều.
Thì bao giờ mỗi một làng người Mông
đều có một đội chiến binh để bảo vệ.
Là người Mông là một nghệ sĩ.
Trên tiêu chí của chàng trai Mông
bao giờ cũng phải thổi khèm rõ
và thổi xáo sử dụng các trạng cụ.
Đặc biệt là có phải là người cày rõi không.
Người đàn ông chịu thương, chịu khó
phải cầm được cày.
Cho nên cái vai trò
mà sử dụng nữ cày trong sản xuất
nó cũng đề cao cái vai trò phụ huyền.
Nhắc đến sự mạnh mẽ và độc lập của đàn ông Mông
người ta thường mừng tựa ra những công việc
mang tính chủ động cao trong lao động.
Một trong số đó
là việc tự chế tác nông cụ lao động.
Những nông cụ đặc thù
và gần như duy nhất
có thể canh tác trên những vùng núi đá.
Ngày nào cũng vậy,
từ sớm tinh mơ cho đến khi mặt trời xuống núi
anh Hoàng A Sùng
vẫn cảm cụi bên lò lửa
cái bễ để làm xa các nông cụ.
Lò rèn của người Mông không cầu kỳ.
Chỉ có một ụ đất làm lò
vài cục sắt to làm đe, búa.
Bưm gió và một cái bễ.
Nhưng với bàn tay khéo léo của người đàn ông Mông
cùng với những bí quyết riêng
đã làm ra những sản phẩm chất lượng cao.
Nghe rèn truyền thống của người Mông
đòi hỏi sự khéo léo của đôi bàn tay con người.
Cao hơn nữa là sự kiên trì
và sáng tạo của người thợ rèn
để có thể cho ra lò những sản phẩm
vừa có công dụng cao
vừa thể hiện bản sắc văn hóa truyền thống
độc đáo riêng của dân tộc Mông.
Ngày xưa, người đàn ông Mông nào cũng phải biết rèn
để làm dao cuốc, dao đi lên nương.
Bây giờ không rèn được
nhưng phải biết cẩy nương giỏi, lao động giỏi
thì mới làm trụ cột gia đình được.
Dân tộc Mông thì ở vùng sông xa
thì không thể bỏ qua được.
Bởi vì nếu mà mình không có nghề rèn
thì không biết làm con dao, con cuốc các kiểu.
Cho nên là mình phải bất vục cũng phải giữ
làm phục vụ bà con.
Khi nào bà con cần thì mang đến thì mình cứ sửa.
Mà có nhu cầu thì cho làm mới
thì mình cũng phải làm mới.
Thật không khó để bắt gặp
những hình ảnh bình yên như thế này
khi du khách đặt chân đến bản Mông.
Các không gian núi rừng như tĩnh lặng
và thời gian trôi chậm đi
bởi sự thanh bình đến giản dị đó.
Người con gái Mông nào cũng biết tự trồng lanh,
dệt vải, mây áo cho mình.
Cách làm lanh của con người nơi đây
đã tạo nên đức tính nhẫn nhịn
đến kiên cường của người phụ nữ Mông.
Hay là chính bởi sự nhẫn nại tuyệt vời
trong bản chất của người phụ nữ Mông
mà cây lanh gắn bó được với dân tộc này
cho đến tận ngày nay.
Phụ nữ thì nói chung là cũng rất là khéo léo.
Bà con rất là khéo léo
bởi vì thấy người ta làm cái gì đẹp
mình phải tập làm.
Thế tập làm, khi nào mà đưa cho họ xem
bảo là được rồi, tốt rồi
thì lúc kia mình cứ làm
bởi vì các khoa bản này thì rất là nhiều.
Phụ nữ Mông dù đi đâu, làm gì
cứ về tới nhà là thoăn thoát tay chân.
Không nối sở chỉ thì lại dệt vải.
Công việc này như một niềm vui.
Họ bảo đi nương về mệt,
ngồi nối sợi hay dệt vải,
thiêu thùa, là nghỉ ngơi, là giải lao.
Phụ nữ Mông cái tay không biết mệt,
cái chân không biết mỏi.
Mỗi sản phẩm thổ cầm
đều đậm sâu cả hình ảnh,
phẩm chất cần cù, chịu khó
và khéo léo của người phụ nữ Mông.
Nhắc đến đồng bào Mông
người ta không thể quên được các phiên chợ.
Chợ phiên vừa là nơi trao đổi hàng hóa,
vừa là nơi gặp gỡ các tầng lớp
trong xã hội.
Chợ phiên quy định họp 6 ngày 1 lần,
có nơi 5 ngày 1 phiên.
Những ngôi nhà người Mông
thường cách nơi họp chợ rất xa,
có khi đến phải ngọn núi,
nên ngay từ lúc trời còn chưa dạng,
núi rừng hẳn còn im lìm
trong giấc ngủ say,
thì người Mông đã đèo gùi trên đưng
và đi chợ.
Những cô gái Mông
thường chọn cho mình bộ váy áo đẹp nhất,
trải tóc gọn gàng xinh xắn
để đi chơi chợ.
Chiếc áo đính kim tuyến lóng lánh,
váy xoẻ hoa 10 màu,
đôi giày đỏ thường ngày
không có cơ hội mặc,
chỉ dành cho những dịp quan trọng
và phiên chợ
là một dịp như thế.
Mỗi khi xuống chợ của người Mông
thì điều hấp dẫn nhất
chính là trang phục của các cô gái.
Khách xa tưởng như mình
đang lặng vào một thế giới
của màu sắc,
của những nụ cười trong trèo
và đôi gòi má ẩn hồng
của những thiếu nữ vùng cao.
Chỉ bấy nhiêu thôi
nhưng đã để lại
bao ấn tượng khó quên.
Để rồi khi về,
người lại nhớ đến xa riết
những đường núi quanh co,
những núi non điệp trùng thoát ẩn thoát hiện
sau làn mây trắng.
Nhưng nhớ nhất
có lẽ là sắc màu của thổ cầm
trên những chiếc váy xoẻ hoa rực rỡ.
Những chiếc váy ấy
không chỉ thể hiện
bản sắc văn hóa độc đáo của người Mông
mà còn làm nét xuyên thầm
của người thiếu nữ vùng cao.
Nói về văn hóa Mông,
có lẽ còn rất nhiều thú vị
gần du khách khám phá tìm hiểu.
Trên đây chỉ là một vài nét văn hóa đặc sắc
của dân tộc Mông
tạo nên những chấm phá thú vị
trong bảng màu rực rỡ của văn hóa Việt Nam.
Bởi vậy mỗi du khách
khi đặt chân lên tới thăm bản Mông
sẽ thực sự bị lôi cuốn,
hấp dẫn và say xưa
trước cảnh sắc thiên nhiên tuyệt đẹp
và bức tranh sống động
về con người nơi đây.
Quý vị và các bạn thân mến,
đối với người Mông,
cây khen không những là phương tiện
kết nối giữa con người
và thế giới tâm linh,
là cầu nối tình duyên
của các lứa đôi,
mà nó còn là tâm hồn,
là bản sắc của dân tộc.
Cuộc sống hôm nay
không ít giá trị truyền thống bị mai một,
nhưng đồng bào Mông trên cao nguyên đá Đồng Văn
vẫn giữ gìn được cây khen
với kỹ năng chế tạo công phu chuẩn xác
từ bàn tay tài năng của các nghệ nhân làm khen.
Tả Cô Ván,
xóm xa xô nhất của huyện Đồng Văn,
nơi địa đầu Tổ quốc,
hiện ra trong sương chiều bảng làng.
Dăm ba trục nóc nhà tròn von
ngự trên lưng núi
hay rải rác bên những đường mòn
vắt qua một thung nhỏ
là nơi những chiếc khen truyền thống
của người Mông ra đời.
Khen của người Mông chúng tôi
là loại nhạc cụ phổ biến nhất,
thường được dùng trong các lễ hội và đám ma.
Từ xưa đến nay,
truyền thống ấy vẫn được lưu giữ nguyên vẹn
ở thôn Tả Cô Ván của chúng tôi.
Ngày xưa, người làm khen thì ít,
nhưng người biết thổi khen thì nhiều.
Bây giờ thì ngược lại,
người biết làm khen nhiều hơn,
nhưng người biết thổi lại ít hơn.
Sống giữa cái nơi văn hóa của dân tộc mình,
nên ngay từ lúc là đứa trẻ chăn trâu,
đầu còn đề tròm,
nghệ nhân Lầu Sính Dia đã ham khen.
20 tuổi, ông đã bắt đầu được cha dạy
cho cách làm khen với lời nhắn nhủ.
Muốn làm khen cho đẹp,
thổi cho hay,
thì phải tư tốn, tận lòng.
Đến giờ, gần 60 tuổi đời,
nghệ nhân Lầu Sính Dia
đã có trên 30 năm theo nghiệp làm khen.
Nếu chọn gỗ cho thân khen,
thì phải chọn loại gỗ khô,
lúc bổ đôi nó thẳng,
không bị vỡ và theo đúng thơ gỗ.
Như thế mới ghép được bầu khen
vừa vặn âm thanh mới chuẩn.
Các khâu làm khen phải hết sức tỉ mần,
từ khâu chọn nguyên vật liệu
cho đến các khâu bào, đục, đéo,
rồi đến lúc làm thân khen,
lắp lá lam đồng, lưỡi gà.
Nếu nghe âm thanh chưa chuẩn,
phải làm đi làm lại rất nhiều lần,
đến khi có được âm thanh đạt chuẩn thì thôi.
Để có được một chiếc khen thổi tốt,
nghệ nhân phải trải qua nhiều công đoạn cầu kỳ.
Tất cả các công đoạn
đều được làm thủ công.
Phải say mê và bền bỉ
thì mới theo được nghiệp,
chấp gió, gửi lời thương,
lời nhớ.
Thế nên, khi đám trẻ trong nhà
chưa thấy hứng thú với cuộc chơi khen,
thì ông cũng không ép.
Vậy nên,
có ba người con trai,
ông mới chuyển nghề cho hai người.
Đôi cháu gái nhỏ này của ông
rất thích được người xem ông làm khen.
Thường chỉ người nam
mới làm khen,
nhưng ông ria không phân biệt
nam hay nữ.
Đứa nào yêu thích và say mê
là ông cho theo học.
Tính đến nay, tôi đã làm khen
được hai năm rưỡi.
Thời gian đầu học làm khen,
tôi đã được truyền dạy cho nhiều kỹ thuật
và kinh nghiệm trong quá trình thực hiện.
Bởi vậy, nên chỉ trong bốn ngày
là tôi đã nắm được các bước cơ bản
để chế tác khen mông truyền thống.
Rồi hàng ngày đội tập thêm,
mỗi lần làm một chút, vừa làm vừa rút kinh nghiệm
và sửa chữa.
Hiện tại thì tôi cũng đã biết làm khen,
nhưng vẫn gặp phải một số vấn đề.
Múa khen mông đầy chất ngậu hứng,
rất phù hợp với tính cách mông,
tự do, phóng khoáng và thượng võ.
Học giỏi khen
tùy thuộc vào năng khiếu của từng người học
cộng với sự chăm chỉ hồn luyện.
Mỗi ngày vài hơi,
vài nốt, ông Dia vừa dạy,
vừa biểu diễn.
Cứ thế tiếng khen đắm đuối
với những giai điệu biến hóa ảo diệu,
dần dần ngắm
vào từng thanh niên ở xóm
tà củ ván nghèo này.
Ẩm thực của đồng bào mông
đậm đà hương vị núi rừng miền Bắc,
đặc biệt với người mông ở Hà Giang
thì có thêm nét đặc trưng riêng của vùng cao nguyên đá.
Một trong số những món ăn giản dị
và thể hiện được nét đặc trưng đó
là bánh tam giác mạch.
Du khách lại hào hứng lên đường
ngắm đồi hoa tam giác mạch
rực rỡ, khoai sắc giữa
đất trời Hà Giang.
Nhiều người thường nghĩ tam giác mạch
chỉ là một loài hoa thu hút
khách du lịch tới Hà Giang
để chụp ảnh, ngắm cảnh.
Thế nhưng ít ai biết rằng
tam giác mạch cũng có thể
trở thành một nguyên liệu để làm ra
món bánh đặc sản của vùng đất này.
Hoa tam giác mạch
đã nở rộ đến cuối tháng 12
thì bắt đầu kết hạt
và được người dân thu hoạch về
để làm ra thư bánh mang hương vị
núi rừng cao nguyên.
Hạt tam giác mạch rất nhỏ
chỉ bằng một nửa hạt đỗ đen
nhưng lại chứa nhiều giá trị dinh dưỡng.
Vì vậy, dù để làm bánh
hay nấu rượu cũng đều thơm ngon.
Để làm đều chiếc bánh tam giác mạch
cũng phải tốn khá nhiều công đoạn.
Đầu tiên, hàn tam giác mạch
khi mới hái về phải đem
phơi khô đủ độ rồi mang đi
xay bằng tay.
Khi xay cũng phải thật cẩn thận
tỉ mỉ cho đến khi hạt
tam giác mạch bị đều ra
thì bánh nướng lên mới không bị
lợn cợn. Tiếp đó
là nhào bột với nước rồi đúc thành
những miếng bánh tròn dẹt
có đường kính hơn một găng tay.
Sau khi đem hấp
chín, bánh sẽ được nướng
trên than hồng cho nóng và thơm hơn.
Bánh tam giác mạch
có vị mềm xốp
ngọt thanh thanh,
lan tỏa trong miệng.
Hương vị bùi bùi trộn lẫn
một chút hăng hăng rất lạ.
Những chấm tím sầm
lấm tấm trên nền bánh
như gợi nhớ về một mùa hoa ngọt ngào
vào mỗi độ cuối thu
đầu đông.
Thưa quý vị, những hình ảnh tươi mới
rực rỡ của đồi hoa tam giác mạch
và màu sắc thơm ngon nhưng sản dị
của bánh tam giác mạch
đã khép lại chương trình tuần này.
Mọi ý kiến đồng góp xin quý khán giả gửi về hòng thư
phòng văn hóa a.nh.org.vn
hoặc qua số điện thoại
0243 266 9508.
Xin cảm ơn quý vị khán giả
đã quan tâm theo dõi. Xin kính chào tạm biệt
và hẹn gặp lại.
