VTV1 | Phim tài liệu: Hàn gắn

Trần Gia Lạc
42 người theo dõi
2 Lượt xem video·4 thg 5, 2025
Tôi bị gọi nhập ngũ và được điều đến Việt Nam vào năm 1968.
Tôi chẳng tìm thấy lý do nào để tin vào cuộc chiến ấy.
Trong tâm trí tôi luôn có một suy nghĩ ẩm ị.
Rằng một ngày nào đó, tôi phải quay trở lại mảnh đất ấy.
Cơ hội đến khi tôi trở thành một giảng viên ngành báo chí.
Nhờ đó tôi đã có dịp trở lại Việt Nam hai lần
và thực hiện hai bộ phim tài liệu về đất nước này.
Tôi sinh năm 1958.
Khi tôi lên 6 hay 7 tuổi,
mọi bản tin trên truyền hình đều tràn ngập hình ảnh
về cuộc chiến tranh tại Việt Nam.
Nhưng tất cả những gì tôi biết đều là từ gốc nhìn của người Mỹ.
Tôi luôn nghĩ rằng vẫn còn có điều gì khác ở đó.
Khi trở thành một nhà làm phim,
tôi đã muốn làm một bộ phim về đất này.
Một câu chuyện để người xem, nhận ra,
điều gì đã thực sự xảy ra.
Mỗi thủ tướng Mỹ đã gửi giúp đỡ
cho người dân của Việt Nam Bắc.
Chúng tôi đã giúp đỡ,
và chúng tôi đã giúp đỡ.
Khi bị gọi nhập ngũ,
thực sự khi ấy tôi không hề biết mình đang dấn thân vào điều gì.
Tôi đã rất giận dữ.
Tôi nghĩ rằng chúng tôi không nên có mặt ở đó
và mang trong mình cảm giác bị phản bội.
Vì vậy sau khi trở về,
tôi đã gia nhập tổ chức Cựu chiến binh Mỹ Phản đối Chiến tranh tại Việt Nam.
Đó là cách tôi đối diện với những cảm xúc hỗn độn của mình.
Chúng tôi giúp đỡ những cựu bình khác,
kêu gọi sự chú ý của công chúng và đã từng tuần hành ở Washington.
Nhưng điều đó không có nghĩa là tôi dễ dàng chia sẻ
với quá thời gian ở Việt Nam.
Phải mất rất lâu, tôi mới có thể bắt đầu nói về điều đó.
Anh ấy đã cố gắng tự mình đối mặt với mọi thứ,
với những gì anh đã trải qua trong chiến tranh
và cả khi trở về nước.
Thời điểm đó, nhiều người Mỹ rất phẫn nộ
với việc đưa quân sang Việt Nam.
Không ít người lính, ngay khi vừa đặt chân xuống máy bay
đã bị chửi ruộng, thậm chí bị ném đồ vào người.
Bởi đến lúc đó, chúng tôi đều bắt đầu nhận ra rằng
chúng tôi không nên có mặt ở đó ngay từ đầu.
Đó là một sai lầm.
Khoảng 10 năm trước, tôi trở thành một giảng viên ngành báo chí
Sinh viên của tôi là những người trẻ đam mê làm phim,
khao khát trở thành những nhà báo trần chính.
Họ muốn học cách kể những câu chuyện về thế giới,
về xung đột, về con người.
Và quan trọng nhất là học cách dùng nói bút
để tạo ra sự thay đổi tích cực.
Để cho họ có một góc nhìn chân thực nhất,
tôi đã một lần nữa nhắc lại câu chuyện của bản thân
về những gì đã xảy ra ở Việt Nam.
Và điều đó đã thổi thúc tôi thực hiện một bộ phim có tên
Trở lại Việt Nam.
Một người bạn của tôi, Dan Alwar,
đã xem được bộ phim đó.
Dan trẻ hơn tôi, chưa từng nhập ngũ
và là một đạo diễn chủ yếu làm các video ca nhạc.
Thế nhưng anh ấy đã rất đam mê với đề tài này
và muốn hợp tác với tôi để cùng làm một bộ phim tài liệu khác
cũng về cuộc chiến tại Việt Nam.
Sự tâm huyết của anh ấy đã thực sự thuyết phục tôi.
Tôi bị thôi thúc phải kể câu chuyện này
bởi tôi luôn cảm thấy đó là một cuộc chiến vô nghĩa.
Ý tưởng về bộ phim
đến khi tôi biết được một dự án tại Việt Nam
có tên Renew do Chuck Stacey,
một cựu chiến binh Mỹ thành lập.
Khi ấy Chuck đang tổ chức những buổi gây quỹ
cho dự án và kể cho mọi người
về những điều kinh hoàng mà người dân Việt Nam
đang phải đối mặt.
Đây là một câu chuyện mà nước Mỹ
cả trong quá khứ lẫn hiện tại
dường như đã quên.
Một câu chuyện chưa bao giờ được kể đầy đủ.
Điều đó khiến tôi giải dứt
và rồi tôi biết mình phải kể lại nó.
Chúng tôi đã dựng một đoạn phim ngắn
sử dụng tư liệu từ dự án Renew
và một số cuộc phỏng vấn với Chuck Stacey.
Sau đó chúng tôi tổ chức một buổi chiếu thử
cho một số khán giả.
Đoạn phim chỉ khoảng 10 phút
thế nhưng điều khiến chúng tôi bất ngờ
đó là sau buổi chiếu
khán giả đã ở lại gần một giờ đồng hồ
để đặt câu hỏi và chia sẻ cảm nhận.
Với một buổi chiếu thử
phản hối như vậy là tín hiệu rất tích cực.
Nó khiến chúng tôi tin rằng
câu chuyện này có sức nặng
và sẽ chạm đến trái tim người xem.
Bộ phim đã để lại một cảm giác
dai dứt trong lòng những người xem
bởi khi bộ phim khép lại
ai cũng mong muốn được tìm hiểu sâu hơn
được lắng nghe nhiều hơn
những câu chuyện mất mát và nghị lực
của các gia đình từng chịu ảnh hưởng bởi chiến tranh.
Tôi tự hỏi là
với những tổn thương lớn như vậy
tại sao nước Mỹ lại không tiếp tục bồi thường
ở một mức độ cao hơn
và thậm chí chúng ta đã từng lãng quên nó
trong quá khứ.
Chúng tôi đặt tên cho bộ phim là
Di sản Hòa Bình
bởi đã có quá nhiều bộ phim
xoáy sâu vào tàn khốc của chiến tranh
và hậu quả của nó.
Tôi muốn kể một câu chuyện khác
tôi nhận ra rằng chiến tranh không thực sự chấm dứt
sau khi ngưng tiếng súng
mà nó vẫn hiện hữu, dài dẳng
và âm ỉ trong cuộc sống thường nhận.
Nhưng chính trong những nỗi đau đó
tôi thấy được sự hợp tác chân thành
giữa người Việt Nam và những cựu binh Mỹ
trong hành trình hàn gắn quá khứ.
Với tôi, đó chính là di sản
thật sự của Hòa Bình.
Để thực hiện bộ phim lần này tại Việt Nam
chúng tôi đã liên hệ với Ban văn hóa giải trí
tại truyền hình Việt Nam.
Trước đó chúng tôi đã từng có cơ hội
hợp tác cùng đơn vị này trong bộ phim
Trở lại Việt Nam, nên quá trình phối hợp
diễn ra khá thuận lợi.
Hai bên đã cùng trao đổi, thống nhất kịch bản
cách nhanh chóng.
Bên cạnh địa điểm quay ban đầu
chúng tôi quyết định lựa chọn thêm Đà Nẵng
nơi có một trung tâm bảo trợ
dành cho trẻ em nhiễm chất độc gia cam.
Đặc biệt,
tại đây còn có sự hiện diện của một cựu chiến binh Mỹ
từng tham chiến tại Việt Nam
đó là Matthew Keenan.
Sau nhiều năm, ông quay trở lại
không phải với tư cách một người lính
mà là một người bạn
để đồng hành, chia sẻ, giúp đỡ
và góp phần xoa dịu những nỗi đau
mà chiến tranh để lại.
Tôi được trần đoán mắc ung thư
do phơi nhiễm chất độc gia cam
và trong hồ sơ y tế có ghi rõ
cựu chiến binh bị phơi nhiễm
chất diệt cỏ tại Việt Nam
và điều đó khiến tôi tự hỏi
còn người Việt thì sao?
Họ đã phải gánh chịu những gì?
Nó chính là lý do
tôi quay trở lại nơi này.
Ban đầu tôi nghĩ
mình sẽ quay trở lại Việt Nam một lần
đến đó để tìm hiểu, trải nghiệm
rồi trở về.
Nhưng không, tôi cứ quay lại
hết lần này đến lần khác
cho đến khi tôi nhận ra
mình đã xem nơi đây
như quê hương thứ hai của mình.
Những người dân nơi đây
khiến tôi cảm thấy như đang ở nhà.
Họ là anh chị em,
bạn bè.
Tôi cũng xem những đứa trẻ
tại trung tâm như con cái của mình
và chúng cũng đối xử với tôi
như gia đình.
Chính tình cảm đó
đã giúp tôi vượt qua bệnh tật
và cả những ám ảnh chiến tranh.
Matthew thật là tuyệt vời
hết lòng cống hiến
luôn sẵn sàng giúp đỡ
dù bản thân đang chịu được bệnh tật
và những khó khăn thể chất.
Anh ấy thật sự muốn bù đắp
cho những con người mà chúng tôi
những người Mỹ đã từng gây tổn thương.
Tôi cũng rất xúc động
khi chứng kiến những đứa trẻ ở đây
trong suốt thời gian
ở trung tâm.
Tôi luôn trong trạng thái
có thể khóc bất cứ lúc nào
nhìn thấy các em tự dạy nhau
giúp đỡ nhau và vui đùa
giống như bất kỳ đứa trẻ nào khác.
Tôi thật sự ngạc nhiên
và cảm động.
Đây là món quà đặc biệt
mà một trong số các em nhỏ ở đó đã tặng cho tôi.
Đó là một bông hoa giấy
được làm thủ công.
Bè gái đã nắm tay tôi
dẫn tôi vào một căn phòng lắm hoa và nói
cháu sẽ làm cái này để tặng cho bà.
Chắc trong quá trình đi hình
bạn đã gặp một người bạn thân của tôi
Phương, người đang điều hành
sưởng làm hương.
Anh bạn có vóc ráng nhỏ bé
nhưng rất nhanh nhẹ.
Từ lần đầu tiên gặp gỡ
chúng tôi đã trở thành đôi bạn thân.
Anh ấy không chỉ thông minh, khéo tay
biết sửa chữa mọi thứ
mà còn rất duyên dáng.
Anh ấy là một con người tuyệt vời
và cần được mọi người biết đến.
Số phạm của tôi nó cũng không được may mắn
là sinh ra trong một cái hoàn cảnh
là bị những cái lục nhà cam.
So với những người bình thường
lẫn dạng khác
là tôi thấy là bất hạnh
nhưng mà cái bất hạnh của tôi
cũng còn may mắn hơn các em ở trung tâm
bởi vì đa phần các em
ở trung tâm đang nuôi dưỡng đây
thì các em bị thiểu năng trí tệ
rất là nhiều.
Cái sự nhận thức, hiểu biết của các em
nó rất là hẳn hề.
Cho nên là đối với các em ở đây
là tôi dành cái tình yêu thương dạ dê nhất
đem tới truyền đạt cho các em.
Tôi nghĩ là các em đến
là tôn hào
và tranh với anh thôi
chứ không phải ngồi vào những cái máy
là gói những cái bói hương như thế này đâu.
Nhưng mà tôi truyền đạt
lâu ngày, nhiều năm, nhiều tháng
thấy các bạn được như thế này
tôi thấy rất là vui.
Hiện nay thì tại trung tâm bảo trợ nạn nhân chất độc gia cam
thì hai cơ sở
thuộc hộ nạn nhân chất độc gia cam
là 90 nạn nhân.
Các em thiệu năng trí tuệ
rất là nặng và rất là thụ động.
Nhưng mà sau khi các em được đến đây
thì được các cô ở đây
chăm sóc, học thọc
cũng như là cục hồ chức năng, lao động trị liệu
từ đó là các em phát triển
về tâm sinh lý cũng như tinh thần các em.
Và đến đây thì một số em
cũng làm được các cái nghề.
Khi đến đây, ấn tượng đầu tiên
thật sự kiến tôi ngẹn lại
là khi thấy những khuyết tật cơ thể
mà các em phải gánh chịu.
Nó như bóp nghẹt trái tim tôi vậy.
Nhưng cũng gần như ngay lập tức
cảm giác ấy nhường chỗ cho một điều kỳ diệu
khi chúng tôi cảm nhận được
sự ấm áp từ các em
và chứng kiến cách các em xây dựng như một cộng đồng
nhỏ đầy tình yêu thương.
Tất cả các em đều bị ảnh hưởng
về chiến tranh theo những cách khác nhau.
Nhưng thay vì bị nhấn chìm chẳng bất hạnh
các em đã tạo nên một thế giới riêng
nơi các em yêu thương
sụp đơ lẫn nhau, sống với nhau
bằng một thứ tình cảm trong trèo
và vô cùng mạnh mẽ.
Điều đó khiến tôi thật sự xúc động.
Nhờ vào các nhân viên giáo viên ở đây
cùng với sự cống hiến
của những người như Matthew
tất cả tạo nên một trải nghiệm
thật sự kỳ diệu.
Đó là một trải nghiệm khiến tôi thật sự thay đổi.
Nơi này hoàn toàn khác
với những hình dung ban đầu của tôi.
Tôi đang nghĩ đến một khung cảnh
giống như bệnh viện, nặng nề và buồn bá.
Nhưng thực tế lại giống như một
mái nhà chung, gần gũi
và đầy lắp yêu thương.
Và khi chứng kiến cách các em chơi đùa
với Matthew, tôi thật sự xúc động.
Ở đó là sự yêu thương chân thành,
là những tương tác đầy tình cảm.
Bạn có thể cảm nhận được
rõ ràng giữa họ là sự gắn kết
rất thật.
Các em quý mến anh ấy
và tôi tin rằng tình cảm đó là sự đáp lại
cho tất cả những gì Matthew đã trao đi.
Sau khi rời Đà Nẵng,
điểm đến tiếp theo của chúng tôi là Quảng Trị.
Tôi chưa từng đến vùng đất này
trước đây. Khi còn trong quân đội
năm 1968, tôi đóng quân
ở vùng Tây Nguyên. Lúc đó tôi
chỉ được nghe về những đợt ném bom
trên tuyến đường Mòn Hồ Chí Minh ở Quảng Trị
và những trận đánh ác liệt
tại khu vực đó, đặc biệt là ở Khe Sanh.
Thế nhưng cho đến khi
trực tiếp đến trung tâm của dự án Renew,
tôi mới thật sự hiểu được mức độ
nghiêm trọng của vấn đề.
Tôi cũng từng nghe qua vài con số thông kê,
nhưng bạn biết đây,
con số thì chỉ là con số.
Phải tận mắt chứng kiến hậu quả và nguyên nhân
mới cảm nhận được sức tàn phá
khủng khiếp của chiến tranh
và thấy rõ sự cần thiết trong công việc
của tổ chức này đang âm thầm thực hiện.
Đó là tìm kiếm, tháo gỡ
và xử lý bom mìn còn sót lại.
Việc tôi có mặt ở đây
và thành lập tổ chức Renew
cùng với nhiều cứu binh Mỹ khác.
Đó là khi chúng tôi bắt đầu nhận thức được
những vấn đề mà chúng tôi đã gây ra.
Kể từ khi chiến tranh kết thúc
vào năm 1975,
đã có hơn 100.000 người Việt Nam thiệt mạng
hoặc bị thương vì bom mìn còn sót lại.
Đó là một hậu quả khốc liệt
của cuộc chiến mà chúng tôi đã từng
là một phần trong đó.
Với nhiều người, chiến tranh vẫn âm ý hiện diễn
trong đời sống, trong ký ức
và cả trong những nỗi đau kéo dài
của nhiều thế hệ.
Quảng Trị là một địa phương bị ảnh hưởng
nặng nề bởi hậu quả chiến tranh
và trong tổng số trên 8.600
nạn nhân bom mìn
sau chiến tranh thì
trẻ em dưới 18 tuổi chiếm đến
1,3.
Vì vậy, bên cạnh
việc duy trì hoạt động ra tháo bom mìn
thì hoạt động
nâng cao nhân thức của cộng đồng
vẫn phải được duy trì.
Cuối tôi ở dưới cửa Việt,
cách thành phố Đồng Ha là khoảng
10-18km và tôi sẵn sàng
bị chạy lên đây. Khi lên đây
là tôi mở cửa trung tâm
sau đó là tôi
chuẩn bị
các công việc để chuẩn bị cho buổi hậu chiến
trên phòng trận bom mìn.
Lúc đó tôi mới 10 tuổi,
tôi đã dành 3 người em đến một
bãi cạt trên da để mà chơi
mà trên bãi cạt đó là có
rất nhiều bóng đạn.
Vì tiện hiệu đồng, tôi đã cầm
một cục đá rối khẽ vào quả bom bì
và quả bom bì nó đã phát nổ.
Tôi là chết tại chỗ luôn.
Lúc đó là
họ chỉ mở cửa trung tâm
một đứa là 10 tuổi và
một đứa là 4 tuổi.
Còn tôi thì bị thương rất là nặng.
Tôi bị thương đến là
86%. Bản thân tôi
là một nạn nhân bom bì.
Các em, các bạn học sinh
sẽ nhìn thấy
cái sự tổn thương
cơ thể
mà quả bom bì đã gây ra
cho tôi. Từ đó
các bạn sẽ
có một ảnh tượng sâu sắc về
hiểm hào của bóng bì đối với
con người. Thứ hai là tôi là
một người khuất thật.
Tôi hy vọng tôi sẽ truyền được động lực
cho rất nhiều người khuất thật khác
để họ sống vui vẻ lên
và làm nhiều việc cõi cho
xã hội hơn nữa.
Với bộ phim này, chúng tôi
đã thực hiện khoảng 15 cuộc phỏng vấn.
Mỗi cuộc trò chuyện đều chứa đựng
những nội dung vô cùng sâu sắc.
Những câu chuyện chân thực và giàu cảm xúc
góp phần khắc họa rõ nét điều
mà chúng tôi muốn truyền tải.
Đó là hành trình của người dân Việt Nam
vượt qua đau thương, vươn lên từ những
mất mát với nghị lực phi thường
và lòng nhân ái.
Thì có khi không đi là
tiệm phải lưu.
Phải lưu cũng bị đưa
lại nào chung với giống đồng sách
bằng nào chung vấn vân.
Thì có khi đó mới bị
kiệp chất độc màu da cam.
Cho nên sau khi
hả chậu bị nhiễm 506
sau cái hả chậu này
là khó khăn nhất.
Thì có chứ tẩm rửa
rồi dạy ọc quên cho cháu
rồi có chứ nói chung đó là cùng
lo anh lo bận cho cháu.
Rồi bỏ ai thương qua gãy như nắng.
Chứ sinh con thì phải lo cho con
như mấy đứa trẻ.
Nói con nhìn ngoài nào
phải giành gợt nè, rồi phải đuôn nè.
Cả công ty, cả ngành, cả cấp
giúp đỡ cái vấn màu chất độc màu da cam đó.
Sinh con thì
cũng muốn cho khỏe cả.
Nhưng trong sự nghiệp
mà truyền thánh
chậu cũng ảnh hưởng về
cái vấn chất độc màu da cam
của chính á.
Cho nên chứ nói coi chứ sinh con
phải lo cho con.
Chứ để mấy đứa trẻ.
I'm Lori.
Hello, I'm Dan.
Nice to meet you.
Rất vui được gặp anh.
Năm 1980
thì trong lúc
đi làm
lúc đó là đi cắt
vài tránh về làm nhà.
Thì bị gặp
gặp mình
thì mất thấy
chính mình.
Lúc tai nạn xong rồi
như bà da này
bây giờ em đâu làm được
việc gì đâu.
Năm 2003
dự đoạn này vô trời
cái nhà này.
Để tìm dùng cửa
để đi tới chỗ nào có
thì có người trẻ
tránh vui heo, cứu giúp gia đình.
Trẻ thì mất chút thôi, tìm lại.
Không được thì thôi, chấp nhận
rồi thôi.
Nói chuyện đến
tình trạng qua này thì cứ là
gặp mấy đứa thôi. Nếu người mấy
thì không bị mấy đứa.
Thì anh có thù ghét những người
đã gây ra chung tận cho mình không?
Không, không có gì ghét.
Biết thì chuyện xảy ra rồi.
Rồi đã qua rồi thôi, chấp nhận rồi.
Quảng trị cũng là điểm cuối cùng
trong hành trình làm phim của chúng tôi.
Chúng tôi trở lại Hà Nội
để chuẩn bị cho công việc hậu kỳ
cùng ekip của Đài truyền hình Việt Nam
hoàn thiện những mảnh ghép cuối cùng của bộ phim.
Tại đây chúng tôi không có gì
tham gia một chương trình
nơi mọi người cùng nhau hồi tưởng và chia sẻ
những kỷ niệm sâu sắc trong suốt chuyến đi.
Chúng tôi xin giới thiệu với các bạn
ngày hôm nay chúng ta có nhà làm phim
Dan Aguirre
và Chuck Cersei.
Theo ông, điều gì
của bộ phim này
đã gây ấn tượng với khán giả Mỹ?
Ban đầu tôi nghĩ
đây sẽ là một câu chuyện buồn
nhưng rồi nó lại mở ra
một hành trình đầy hy vọng
và quan trọng hơn
là một câu chuyện
mà cả thế giới cần phải biết.
Sự kiên cường của con người
khả năng đứng dậy từ mất mắt
từ tan dư của chiến tranh
tất cả thật phi thường
có thể có nỗi buồn, có nước mắt
nhưng họ vẫn tiếp tục sống
tiếp tục công hiến, vẫn làm việc
và sẽ chia với sự tận tâm
và nghị lực.
Điều đó khiến tôi xúc động
thật sự. Tôi không muốn bật khóc
trước ống kính, nhưng đây là một câu chuyện
đầy sức mạnh, chạm đến trái tim
của bất kỳ ai.
Và điều gì đã làm cho ông thấy xúc động nhất?
Chỉ đơn giản là tôi thấy những con người ấy
đã chịu được quá nhiều khó khăn
vậy mà họ vẫn có thể vượt lên tất cả.
Tôi xin lỗi, tôi không ngờ
mà nó lại ảnh hưởng đến tôi sâu sắc như vậy.
Tôi đã nghĩ rằng
Chuck sẽ là nhân vật chính,
là người anh hùng trong bộ phim.
Nhưng sau đó tôi nhận ra
những con người Việt Nam mới thực sự là
những người anh hùng.
Ban đầu, Dan
chỉ đơn giản mang theo mong muốn làm một bộ phim.
Thế nhưng, anh ấy
không thể ngờ rằng những câu chuyện và con người
ở Việt Nam đã để lại trong anh
dấu ấn sâu đậm đến vậy.
Dù chưa từng trải qua chiến tranh,
nhưng qua từng lời kể, từng ánh mắt
và nỗi niềm của họ, Dan như thế
đã sống trong đó, cảm nhận được
nỗi đau, mất mát, và cả sự
kiên cường, nghị lực và niềm hy vọng
không bao giờ tắt.
Tôi luôn chú ý đến nội dung
của bộ phim, nên tôi thường
giữ cho mình một chút tách biệt với nhân vật
để có thể tập trung vào mọi thứ
đang diễn ra xung quanh. Còn Dan,
với vai trò đạo diễn, anh ấy
luôn phải kết nối sâu sắc và thực sự
cảm nhận được họ ở từng sâu cảm xúc.
Và tôi nghĩ chính nhờ sự kết nối ấy,
Dan đã mang theo mình một trải nghiệm
vô giá, và có lẽ sẽ mang theo
nó suốt đời. Nếu tôi
ở vị trí của anh ấy, chắc chắn tôi
cũng sẽ không thể giữ được bình tĩnh
và sẽ tràn ngập những xúc cảm giống như vậy,
một cảm giác thán phục và ngưỡng mộ.
Tôi tin rằng bộ phim này
sẽ tạo được nhiều sự chú ý,
không chỉ bởi cách nó lay động về xem,
mà còn bởi sự kết nối nhân văn mà nó tạo ra,
cách nó khắc họa
một Việt Nam rất chân thật và cảm động.
Nó sẽ khơi dậy thêm nhiều
sự thấu hiểu, cảm thông và ủng hộ
từ nước Mỹ.
Tôi nghĩ các đối tác khác của chúng tôi
ở Quảng Trị cũng nhận thấy
cần phải mở rộng nguồn lực,
không chỉ phụ thuộc vào chính phủ Mỹ.
Trong vài tháng tới,
tuy chưa có lịch cụ thể,
chúng tôi hy vọng có thể quay trở lại Mỹ
để kêu gọi sự hỗ trợ từ cộng đồng,
từ các thựu binh,
và từ tất cả những ai hiểu rõ
mối quan hệ đặc biệt giữa hai nước.
Đó không chỉ là trách nhiệm lịch sử,
xuất phát từ chiến tranh,
mà còn là một tình hữu nghị
đã được nuôi dưỡng và phát triển mạnh mẽ
suốt 30 năm qua.
Tôi đã hoàn toàn bị bất ngờ
với Việt Nam.
Người dân nơi đây là những con người
cởi mở và đầy lòng nhân ái.
Lúc đầu tôi có chút lo lắng,
không biết liệu họ
có ghét chúng tôi không,
bởi vì chính bản thân tôi
cũng thực sự cầm ghét những gì
mà chúng tôi đã từng gây ra ở mảnh đất này.
Nhưng trái lại,
họ đã đón tiếp chúng tôi
bằng tất cả sự nồng hậu và chân thành.
Tôi biết rằng
những nỗi đau và tàn dư chiến tranh
vẫn chưa kết thúc.
Nó vẫn còn hiện diện và sẽ còn kéo dài.
Nhưng chính vì lực sống phi thường,
lòng nhân ái và tinh thần không đầu hàng
của người dân Việt Nam
đã khiến tôi xúc động mạnh liệt.
Với bản thân tôi,
đây là một trải nghiệm không thể nào quên.
Chúng tôi rời Việt Nam mang theo
những thước phim quý giá cho bộ phim
Di Sản Hòa Bình.
Nhưng không chỉ là hình ảnh,
chúng tôi còn mang theo những tình bản sâu sắc,
sự ngưỡng mộ dành cho những con người nơi đây.
Tôi tin rằng bộ phim không chỉ khiến
tất cả mọi người đều cảm thấy tự hào,
mà còn khơi ra ý thức cộng đồng,
thúc đẩy tinh thần sẻ chia
để tiếp tục đồng hành cùng Việt Nam
trên hành trình hạ gắn và phát triển.
