Truyện Cổ Đạo Gia | Khả năng tiên tri siêu phàm của ‘Ông Tiên ngủ’ Trần Đoàn

MẠN ĐÀM CỐ SỰ
1.4K người theo dõi
Khả năng tiên tri siêu phàm của ‘Ông Tiên ngủ’ Trần Đoàn
#chuyencodaogia
#chuyencophatgia
#ngamaudio
#laotu
#khongtu
#vanhoa #vanhoatruyenthong #suyngam #giaoduc #baihoccuocsong #loidayconhan #nhansinhcamngo #trietlycuocsong #longtotthattuyet #trietlynhansinh #trungquoc #china #honghongwomen #gjw
Dịch bệnh không phải là do số mệnh, biết được điều này thì có thể tránh được.
Một ngày nọ, trong một đạo quán ở núi Hoa Sơn,
một đạo sĩ đi đến phòng củi để mang củi về nhóm lửa.
Ông nhặt một bó củi lên, lộ ra một vật gì đó to lớn, khác thường.
Giật mình nhìn kỹ lại, thì ra là một người đang nằm ngủ.
Người này không ai khác, chính là đạo sĩ Lão Tổ Trần Đoàn.
Trần Đoàn là người rất lạ thường, ngoài tỉnh yêu với giấc ngủ,
ông còn đưa ra những lý do sâu xa, dẫn đến bệnh dịch trong các tác phẩm của mình,
và truyền lại cho đời sau.
Cuộc đời và những khả năng của Lão Tổ Trần Đoàn.
Vào cuối thời nhà đường, người khiết đan phát binh sang xâm lược,
dân chúng chạy tránh hỗn loạn.
Một hôm, một người phụ nữ chạy nạn, đang cố hết sức,
gánh một chiếc giỏ tre đi trên đường.
Trong chiếc giỏ tre, có hai cậu bé đang ngồi.
Đúng lúc đó, một đạo sĩ lang thang đi qua nhìn thấy.
Đạo sĩ khẽ giật mình, lầm nhầm nói.
Chưa nói hoàng đế nhỏ, hoàng đế gánh trên vai.
Hai đứa trẻ đó, quả không phải là những đứa trẻ bình thường.
Đứa trẻ lớn đó sau này là Tống Thái Tổ, Triệu Khuâng Nhận.
Đứa trẻ nhỏ sau là Tống Thái Tông, Triệu Khuâng Nghĩa.
Còn người phụ nữ gánh giỏ tre, sau này là Đỗ Thái Hậu.
Vị đạo sĩ này là cao nhân phương nào,
mà từ 25,26 năm trước khi nhà Tống thành lập,
đã có thể nhìn ra trân mệnh thiên tử của Triều Tống.
Người này không ai khác, chính là nhất đại tông sư của Đạo gia,
Lão Tổ Trần Đoàn.
Có chuyện kể rằng, ông là ông tiên ngũ.
Lão Tổ Trần Đoàn làm sao có được công phu lớn như vậy.
Trần Đoàn lên bốn, năm tuổi vẫn không biết nói.
Mọi người cho rằng cậu bị câm.
Một ngày nọ, khi cậu đang chơi bên sông Hoa,
thì gặp một cô gái áo xanh và cho Trần Đoàn bú,
còn tặng cậu một bài thơ và một cuốn sách.
Trần Đoàn về nhà, buột miệng thốt lên bốn câu thơ,
mầm thuốc chưa đầy sọt, lại lên đỉnh núi cao,
chỉ đường quay trở về, quan tướng vào khói xanh.
Bố mẹ cậu rất sừng sốt.
Đứa con của họ thực sự có thể nói.
Nhưng lời đầu tiên không phải là gọi mẹ,
mà là đọc một bài thơ.
Chẳng lẽ cậu bé đã gặp tiên nhân?
Khi cha mẹ hỏi thì được biết,
thực sự là cậu đã gặp được tiên nhân.
Cuốn sách mà cô gái áo xanh đó đưa cho là cuốn kinh dịch.
Kể từ đó, Trần Đoàn chăm chỉ học kinh dịch,
ngày càng thông minh.
Khi lớn lên, ông đọc các tác phẩm kinh điện,
xem qua lại nhớ.
Đến năm ông 18 tuổi,
cả cha mẹ đều qua đời.
Ông chia ra tài cho người thân song,
rồi đi lên núi võ đáng ẩn cư.
Trong những giấc mơ của mình,
Trần Đoàn lại gặp cô gái áo xanh kia,
cô dạy ông tu hành.
Từ đó trở đi ông rất thích ngủ,
còn giỏi thuật phục khí tịch cốc,
có thể ngủ rất lâu không tỉnh.
Sau này ông chuyển tới Vân Đải Quán,
núi Hoa Sơn, rồi lại chuyển tới
hàng đá thiếu Hoa Sơn.
Một hôm, có vị tiểu phu lên núi Lế Củi,
thấy ở thung lũng núi
có một thi hải phủ đầy bụi bên trên.
Tiểu phu cảm thấy vô cùng thương cảm,
nghĩ muốn mang thi thể đi trôn.
Nhưng khi nhắc lên,
mới nhận ra đó là Trần Đoàn.
Tiểu phu thở dài nói, ôi Trần Đoàn,
không biết sao lại chết ở nơi này.
Bỗng nhiên thấy Trần Đoàn
dưới lưng, mở hai mắt ra,
nhẹ nhàng nói, đang ngủ ngon,
ai đến đánh thức ta vậy?
Người tiểu phu thích thú,
cười lớn tiếng.
Thời gian trôi qua, người dân địa phương
đều dần biết rằng,
trong vùng có một vị kỳ nhân.
Như người cầu đạo gần xa,
ngưỡng mộ tìm tới không ngớt,
nhưng Trần Đoàn vẫn thường ngủ say không tỉnh.
Một khi ngủ, một trăm ngày sau,
ông vẫn chưa dậy vẫn còn xem lại ít,
vì vậy rất ít người gặp được ông.
Mặc dù ông ngủ rất nhiều,
nhưng một khi tỉnh dậy,
thì ông toàn tâm học kinh dịch.
Hiện tại giới sử học thường cho rằng,
trước thời nhà tống,
về mô tả đối với thái cực và hạ độ,
lạc thư chỉ có văn tự,
không có hình vẽ, hoặc hình vẽ đã thất truyền.
Đến tận khi có Trần Đoàn,
thì ông mới vẽ ra hình hạ độ,
lạc thư.
Ngoài ra, trong tống sử ghi chép rằng,
thái cực độ âm dương,
mà mọi người biết hiện nay,
cũng xuất phát từ Trần Đoàn,
ban đầu gọi là vô cực độ.
Trần Đoàn còn có thể biết người khác nghĩ gì.
Ông có một quả bầu lớn,
treo trên tường chai phòng.
Đạo sĩ Giả Hiêu Phục,
trong tâm muốn có được quả bầu,
Trần Đoàn lập tức biết ngay, nói
Ông tới chỗ ta không có việc gì khác,
chỉ muốn quả bầu này của ta.
Vì thế, Trần Đoàn mang quả bầu
ra tặng cho Đạo sĩ.
Giả Hiêu Phục rất kinh ngạc,
cho rằng Trần Đoàn là vị thần tiên.
Còn có một người tên là Quách Hàng,
thường tá túc tại Vân Đại Quán.
Nửa đêm Trần Đoàn bảo,
anh ta mau quay về nhà.
Quách Hàng do dự chưa đi,
một lúc sau Trần Đoàn nói,
anh có thể không cần quay về nữa.
Ngày hôm sau, Quách Hàng về đến nhà,
phát hiện đêm hôm trước mẹ anh bị bệnh tim,
suýt nữa không qua khỏi,
nhưng sau khoảng thời gian một bữa ăn,
thì lại khỏe trở lại.
Vào cung vua liền ngủ,
danh tiếng thần tiên của Trần Đoàn
chuyển tới Hoàng đế đường Minh Tông nhà Hậu Đường.
Hoàng đế hết lần này đến lần khác,
phái quan viên mang thư tín,
do đích thân Hoàng đế viết đi,
thúc giục Trần Đoàn sớm ngày gặp mặt.
Lúc đầu Trần Đoàn không động tĩnh gì,
nhưng ông thấy hết lần này
tới lần khác, làm trái thánh chị
cũng không thích đáng.
Cuối cùng ông đã cùng xứ già,
tới Kinh Đô Lạc Dương bấy giờ.
Trần Đoàn gặp Minh Tông, chỉ chắp tay thi lễ,
không quỷ lệ.
Văn võ khắp chiều Kinh Hải,
cho rằng Trần Đoàn thật to gan.
Đột nhiên Trần Đoàn rúi người ra
và ngủ luôn trước sự chăm chú
của mọi người trong chiều đình.
Minh Tông thấy vậy cho rằng,
đây thật là kỳ nhân,
chỉ có thể dùng lễ tiết khách quý để đối đãi,
nên đưa ông tới nơi nghỉ,
chuyên dùng để tiếp đãi các bậc thánh hiền.
Vua còn cho chọn lựa ra ba mỹ nữ tuyệt sắc,
đưa tới chỗ Trần Đoàn để phục vụ,
hy vọng có thể giữ ông lại làm quan.
Ai biết Trần Đoàn thấy mỹ nữ
mà như không thấy,
một mình cứ thế ngủ tới sáng.
Sáng sớm, Trần Đoàn bảo ba mỹ nữ
mang phong thư chuyển tới hoàng đế,
trong đó viết
thân thể tuyết băng, má ngọc ngà,
cảm tạ vua đem,
đến cho ta,
tu sĩ đâu hứng, vu hiệp mộng,
mất công thần nữ, xuống dương đài.
Sau đó ông không tử biệt,
nhẹ nhàng tiêu diêu tự tại rời đi.
Câu chuyện, khúc cổ tốt,
vào thời hậu tru,
tru Thế Tông cũng sớm biết
Trần Đoàn là bậc cao nhân,
muốn tìm cách triệu kiến ông.
Năm 956,
tru Thế Tông cuối cùng đã đạt được mong ước
và đã được gặp Trần Đoàn.
Tru Thế Tông hỏi ông về thuật luyện đan,
biến đá thành vàng.
Trần Đoàn không khách khí đáp,
bệ hạ thân là chủ bốn bề,
cần lấy quốc gia an định,
sức khỏe của Bách Tính làm nỗi lo,
sao lại hứng thú với luyện kim thuật.
Tru Thế Tông còn nhờ Trần Đoàn,
giúp dự đoán vận mệnh quốc gia.
Trần Đoàn trả lời,
hảo khối mộc đầu,
mậu thịnh vô tái,
nhược yếu trường cỉu,
thêm trùng bảo cái, tạm dịch.
Một khúc gỗ tốt,
tuy tốt nào bằng,
nếu muốn trường cỉu, thêm tầng lọng tre.
Thế Tông liền nghĩ,
họ của ông là xài, tên là Vinh.
Một khúc gỗ tốt,
tuy tốt nào bằng, vừa khớp với tên họ của mình.
Trong bài thơ còn có hai chữ trường cỉu,
là chỉ giang sơn của ông
có thể phồn Vinh, thịnh vượng,
vạn vạn năm.
Trong lòng ông vô cùng vui mừng,
rất cảm kích với Trần Đoàn,
lập tức ban chức, rán nghị đại phu cho ông.
Trần Đoàn khéo léo từ chối,
hoàng đế rất cảm động.
Trước sự siêu phàm thoát tục của Trần Đoàn,
ban cho ông hiệu Bạch Vân tiên sinh.
Từ đó danh tiếng Bạch Vân tiên sinh,
nổi danh khắp thiên hạ.
Sau này triệu khuôn dận phát động bình biến,
lập nên Đại Tống.
Bí ẩn của bốn câu thờ đó đã hé lộ.
Chữ mộc, khúc gỗ,
thêm lọng tre, bộ miên
chẳng phải chính là chữ Tống đó sao?
Đó là nhà Tống Trường Kiểu,
không phải nhà Chu.
Tự cổ Hoa Sơn không nộp thuế.
Tây nhà Hoa Sơn là một trong
năm đỉnh núi hùng vĩ, tráng lệ.
Vào các chiều, các đời,
đều có rất nhiều đạo sĩ ẩn cư
tại Hoa Sơn, trong đó nổi tiếng nhất
là Trần Đoàn. Cống hiến của ông
đối với đạo sĩ Hoa Sơn rất to lớn.
Ông ẩn cư tại Hoa Sơn
trong thời gian rất lâu.
Khi vẫn là tướng thuộc hạ của
Chu Sải Vinh, một lần Triệu Quân
dận đi qua Hoa Sơn, khi đó
trong tâm Trần Đoàn liền có cảm ứng,
biết rằng thiên tử tương lai sẽ đi qua đây
và muốn nhờ một việc.
Trần Đoàn bẻn hóa trang thành một ông
lão bán đảo, mang giỏ đảo ra ngã
tư. Triệu Quân dận vừa đói
vừa khát, thấy đảo tươi,
ăn uống ngấu nghiến, nhưng ăn no xong
mới phát hiện, không đem theo tiền
để trả người bán, thì xấu hổ đò mặt.
Trần Đoàn nói, không có
tiền, đừng lo, anh chơi cờ
với tôi, nếu anh thắng không cần trả
tiền, nếu thua hãy cho tôi Hoa Sơn.
Triệu Quân dận nghe vậy,
thầm nghĩ ông lão thật buồn cười,
Hoa Sơn cũng không phải của ta,
cho cũng như không, như thế thì
ai cho chẳng được, vậy là đã đồng ý.
Kết quả là, mặc dù
Triệu Quân dận vốn chơi cờ rất giỏi,
nhưng không qua được ông lão,
đã thua ván cờ và phải viết giấy cam kết
bán Hoa Sơn cho ông lão.
Còn có một lần,
tại trường An, Trần Đoàn gặp
ba người, là hai anh em Triệu Quân dận
và Triệu Phổ đang uống rượu.
Trần Đoàn đẩy Triệu Phổ ra khỏi bàn rượu
và nói, người chỉ là ngôi sao nhỏ
trên sao Tử Vi, lại dám ngồi
vị trí trên. Triệu Quân
dận muốn hỏi rõ, tại sao Trần Đoàn
lại nói vậy? Trần Đoàn không
thể tiết lộ mà chỉ nói, ngôi sao của
hai anh em Ngài, to lớn hơn
của anh ta rất nhiều.
Trong tâm Triệu Quân dận trợt kinh ngạc,
từ đó càng ẩn dấu tài năng,
chờ thời cơ thích hợp. Sau này
Triệu Quân dận phát động bình biến
trần kiểu. Khi ông khoác áo
bào vàng lên ngôi vua, đúng lúc
Trần Đoàn cưỡi lửa qua huyện Hoa Âm.
Nghe tin xong, ở trên
lưng lửa, ông vỗ tay cười lớn
không để ý bị ngã khỏi lưng lửa.
Mọi người thấy vậy hỏi, ông sao
mà cao hứng thế? Trần Đoàn nói
từ nay trở đi thiên hạ Thái Bình rồi.
Triệu Quân dận xưng đế,
nghĩ tới việc ông đã hứa ban hoa sơn
cho Trần Đoàn, không thể nợ và cũng
không muốn nợ, đã hạ chỉ rồi.
Đạo sĩ Hoa Sơn sẽ không bao giờ
phải nộp thuế. Sự việc này
mặc dù không được chính xử ghi chép
lại, nhưng các quan văn, tiến sĩ
và quan triệu đình chính thống
sau thời nhà Minh, đều viết bài để
mô tả về câu chuyện này.
Ngày nay ở Hoa Sơn vẫn còn có tròi
rừng chân đánh cờ.
15 năm sau Tống Thái Tổ qua đời
Tống Thái Tông Triệu Quân nghĩa kế ngôi,
ông vô cùng kính trọng Trần Đoàn,
đặt cách cho Trần Đoàn và Triệu không phải
bái lạnh. Vì vậy Trần Đoàn vào
chiều, Thái Tông thỉnh giáo ông kế
sách tế thế an dân. Trần Đoàn
đưa ra bốn chữ sa,
gần, nhẹ, nặng.
Sa là muốn Thái Tông triệu
mời hiền sĩ phương sa, gần
là loại bỏ những nịnh thần ở bên,
nhẹ là giảm bớt thuế cho dân,
trọng là trọng thường quân đội.
Thái Tông nhận thấy bốn
chữ sách lược này, thực sự chỉ
đúng vấn đề, chính là diệu kế
trị quốc trong lòng rất vui, muốn
phong Trần Đoàn làm đế sư.
Trần Đoàn đã khéo léo tử chối,
Tống Thái Tông đã ban tặng cho Trần Đoàn
hiểu, hi gì tiên sinh.
Trong đạo Đức Kinh con nói,
thị chi bất kiến, danh viết di,
thính chi bất văn, danh viết hi,
diễn nghĩa, nhìn không
thấy, gọi là di,
nghe không thấy, gọi là hi.
Đối cấp việc thiết tục, nghe mà
không nghe thấy, nhìn mà không nhìn thấy,
đó chẳng phải bậc cao nhân sao.
Sau này Tống Thái Tông từng
rất do dự việc lập thái tử.
Ông biết Trần Đoàn tinh thông xem tướng,
muốn hỏi ý Trần Đoàn.
Trần Đoàn đáp rằng, một lần,
thần đi qua thọ vương phủ,
có hai người ngồi ở trước phủ,
thần quan sát tướng mạo của họ,
tương lai sẽ làm tới tể tướng,
thần được biết họ là người của thọ vương phủ.
Tống Thái Tông nghe xong mừng rỡ,
lập thọ vương làm thái tử.
Sau này thọ vương kế vị,
chính là Tống Trân Tông.
Sau khi Trần Đoàn thành tiên,
Trân Tông từng tuần du tới Hoa Sơn,
ca ngợi thần tích của Trần Đoàn.
Tướng Do Tâm Sinh
Ngoài việc ngủ nhiều,
Trần Đoàn còn viết không ít tác phẩm,
như Vô Cực Đổ, Tiên Thiên Đổ,
Dị Long Đổ, còn có Chỉ Huyền Thiên,
Tạm Phong Ngụ Nguôn,
và cả hai tập Cao Dương, Điếu Đàn.
Trong đó có quyển sách lưu truyền
nổi tiếng là Tâm Tướng Thiên,
lấy ý là Tướng Do Tâm Sinh.
Người thông thường cho rằng,
xem tướng là thuật dựa vào vẻ bên ngoài
để đoán vận mệnh của một người.
Ví dụ như, đặc điểm nếp nhanh
ở rãnh cười cong vào qué miệng,
cho thấy người đó sẽ bị chết đói.
Hứa phụ từng xem tướng,
cho sùng thần của Hán Văn Đế là Đặng Thông,
đã dựa vào đặc điểm đó mà phán đoán
người này sẽ bị chết vì đói.
Mặc dù Hán Văn Đế để Đặng Thông coi giữ tiền,
rất giàu có,
nhưng sau khi Hán Cảnh Đế lên ngôi,
vì Đặng Thông tham ô,
nên đã bị tịch thu ra sản,
và cuối cùng bị chết vì đói.
Nhưng trong tâm tướng thiên của Trần Đoàn,
đã vượt qua tầng của kỹ thuật
dùng tướng mạo để đoán vận mệnh,
mà trực tiếp nói về việc làm thế nào
đoán vận mệnh của một người,
dựa vào tâm tướng.
Ví dụ, trong đó có một câu
ngạ tử khởi tại văn miêu,
pháo y tát phạm,
ý nghĩa là người bị chết đói.
Chẳng lẽ do tướng mặt có đặc điểm nếp nhanh rãnh cười,
hướng vào miệng sao?
Không phải, mà là những người không biết tích phúc,
láng phí ngũ cốc.
Còn có một hình vẽ chú thích,
khúc ý tru toàn chi hữu hậu,
nhâm tình kích bác tất hung vong.
Ý nghĩa là nếu có thể
làm tổn thương trái tim mình,
thà để bản thân chịu thiệt,
bị bắt nạt, quan tâm đến người khác,
sau này chắc chắn sẽ có phúc báo.
Còn nếu phóng túng cảm xúc,
kích động giận dữ, khư khư cố chấp,
nhất định sẽ chiêu mở tai họa,
không có được cái kết tốt đẹp.
Xuyên suốt cuốn tâm tướng thiên,
liệt kê ra hàng loạt các đặc điểm
tính cách và tâm tính của con người
và chỉ ra số phận tương ứng,
thông qua biểu hiện, chỉ thẳng ra
thực chất vấn đề. Cuốn sách
khiến người đọc phải suy nghĩ và
có tác dụng cảnh tỉnh với con người.
Nhiều người rất thích thú với xem tướng,
toán mệnh, muốn được biết vận mệnh
của bản thân. Nhưng nếu thực sự
biết vận mệnh bản thân ngang trái ra sao
thì làm thế nào để thay đổi?
Nó đã được tiết lộ trong bài viết của Trần Đoàn.
Thực ra, nếu có thể
thay đổi bản thân, nhất tâm hướng
Trong tâm tướng thiên còn có một câu
Trong văn hóa truyền thống
Á Đông, trời và đất là do
thần bàn cổ mở ra, cũng là tên
chung của các vị thần. Khi con người
phóng túng dục vọng, không coi trọng
quy phạm đạo đức của thần đối với
con người, ngạo mạn,
vứt bỏ tín ngưỡng đối với thần,
thậm chí có lúc còn muốn đấu với trời,
đấu với đất. Những điều
không may liên tiếp kéo tới, chính là
trong cái vô tri và cuồng vọng này.
Điều này chính là có liên quan
tới tình hình dịch bệnh lây lan ngày nay.
Từ góc nhìn của
Lão Tổ Trần Đoàn, liệu có thể
bình an vượt qua đại dịch? Thực ra
không liên quan tới vận số, mà
chỉ liên quan tới thái độ của con người
đối với trời đất thần linh. Lời
nói của vị thần tiên này cũng có
đạo lý. Tạ thế hóa
tiên, năm đoàn củng thứ nhất
988, Trần Đoàn
đột nhiên nói với đệ tử Giả Đức Thăng
rằng, người có thể đục một thạch thất
trong thung lũng, ta muốn an nghỉ.
Một ngày mùa thu vào tháng
7, năm đoàn củng thứ hai
989, thạch thất đã
hoàn thành. Đích thân Trần Đoàn
viết một tấu biểu, đại ý là
thần sắp phải rời đi, khó gắn
bó được với Thánh Triều, sau đó
vào ngày 22 tháng này, sẽ
biến hình tại thung lũng dưới đỉnh Liên Hoa.
Sau đó đúng như thời gian
ông đã định, Trần Đoàn tạ thế lúc
118 tuổi. Tới ngày thứ bảy
sau khi ông tạ thế, sắc mặt
ông vẫn như còn sống, cơ thể ấm áp
tỏa ra mùi thơm.
Các đệ tử đặt ông vào hộp đá,
đặt trong thạch thất. Khi các đệ tử
vừa rời đi, tảng đá đột ngột
tự đổ, tạo thành thế dốc đứng
có mây ngũ sắc bao quanh cửa hang
vài tháng cũng chưa tản đi.
Đệ tử nhớ Trần Đoàn,
hậu nhân đã đặt cho nơi này tên là hẻm
núi Hy Ghi.
