Khám Phá Tây Du Ký - 11

Kẻ Học Trò
779 Người theo dõi
420 Lượt xem video·15 thg 5, 2025
Phần 31 Chuyện trả nghiệp ở Phủ Đồng Đài, huyện Địa Linh
Trong Tây Du Ký có đoạn nói về việc Thầy cho Đường Tăng đi đến Phủ Đồng Đài, huyện Địa Linh, gặp khấu viên ngoại ưa Cúng Dường Trai Tăng.
Sau đó Đường Tăng chịu quan, cuối cùng được giải thoát. Đây là một đoạn rất có ý nghĩa trong Tây Du Ký.
Tín Phật, Lễ Phật, Thở Cúng, Cúng Dường Trai Tăng hay Bố Thí Năm.
Năm là những hành vi của người Kính Phật.
Đó là những việc làm tích phúc cho bản thân, tích phúc cho con cháu, tương lai nhất định sẽ được phúc báo.
Vì thế mà nhiều người thắp hương bái Phật với hy vọng sẽ được Thần Phật phù hộ.
Nhưng thực ra, Thần Phật sẽ không tùy ý phù hộ con người, mà thứ thực sự bảo hộ con người chính là bản thân họ.
Phải là chính bản thân con người tự mình tích đức hành thiện, gieo trồng cây phúc đức, kính thần lễ Phật, thì ai cũng sẽ bảo hộ con người.
Ngược lại, nếu một người làm nhiều điều ác thì có bái Phật cũng vô ích.
Việc người xấu phải chịu tội thì cũng là lẽ gieo gió gặt bão.
Đó chính là quy luật của thế gian con người.
Có người vì vậy mà thắc mắc, thế tại sao trong cuộc sống hiện thực này, vẫn còn có những người tốt phải chịu tội?
Ngược lại người xấu lại sống tốt là cớ vì sao?
Thực ra đó hoàn toàn do phúc đức của con người đang khởi tác dụng, bởi vì phúc đức của con người không phải chỉ trong một đời.
Mà phúc đức đó sẽ kéo dài qua đời đời kiếp kiếp, nó sẽ đi theo nguyên thần của con người vào luân hồi.
Hưởng phúc cũng tức là đang tiêu hào phúc phận của mình, chịu khổ cũng chính là đang hoàn trả nợ nghiệp của mình.
Có người nói, hiện nay chỉ có pháp môn tịnh độ cho phép mang theo nghiệp vãng sinh, còn các pháp môn khác đều phải hoàn trả hết nghiệp nợ mới được.
Bởi vì những pháp môn đó cho rằng nghiệp nợ là thứ vần đục dơ bẩn, là thứ không thể mang tới thiên quốc.
Đó cũng là lý do mà các chính giáo đều nhấn mạnh rằng con người cần phải trọng đức, cần phải chịu khổ, nếu không thì không thể hoàn trả nợ nghiệp, không thể đến thế giới thiên quốc.
Pháp của vũ trụ mới là tiêu chuẩn đánh giá người tốt xấu, chứ không phải dùng tiêu chuẩn thế gian để đánh giá.
Để đánh giá người ta là tốt hay xấu chỉ cần xem lượng đức hay nghiệp mà nguyên thần của một người mang theo nhiều hay ít, nếu nhiều đức thì là người tốt, nếu nhiều nghiệp thì là người xấu.
Con người nếu thật sự kính ngưỡng Phật thì nên vâng theo lời Phật dạy là một người tốt thật sự.
Với người tu luyện thì pháp lý này lại càng quan trọng hơn.
Mục tiêu tu luyện của người tu luyện là muốn cuối cùng đắt được chính quả, vì vậy người tu luyện cần phải trả sạch nợ nghiệp.
Tôn ngộ không nhìn thấy được quan hệ nhân quả trong đó nên đã để cho đường tăng chịu qua hết nạn phải ở lao ngục rồi mới nghĩ cách đi cứu ông.
Phải là người đã giác ngộ rồi thì mới có thể nhìn thấy được chân tướng ở đằng sau, đó là chỗ khác biệt so với người thường.
Nếu ở trên bề mặt tôn ngộ không giúp cho đường tăng tránh thoát khỏi nạn phải ở lao ngục này, thì chính là đang can nhiễu đến việc đường tăng tiêu trừ nợ nghiệp và ảnh hưởng đến quá trình tu luyện của đường tăng.
Đó quả thực là đã làm hại đường tăng.
Vì kết tình của người thường, con người chỉ nhìn vào những được mất trên bề mặt mà lại khó biết được quan hệ nhân quả thật sự ở đằng sau.
Người tu luyện khi tu luyện đến một cảnh giới nhất định thì Thượng Sư sẽ an bài một số việc để giúp người tu luyện kết giải các loại duyên thế tục, hoàn trả hết nợ nghiệp.
Về việc này thì cách làm của Phật ra và đạo ra có một số điểm khác nhau, nhưng ý nghĩa lại giống nhau.
Có người hế nghe tình độ tông nói thế giới cực lạc của Phật Azi đã cho phép mang theo nghiệp vãng sinh, thì họ nghĩ việc đó là việc dễ dàng.
Thực ra, lý giải đó của họ không đúng, bởi vì...
1. Việc mang nghiệp đến Thiên Quốc không phải là vẫn mang theo nghiệp đó đi hưởng phúc, mà vẫn cần phải tiêu bỏ nghiệp lực đi.
Việc mang theo nghiệp vãng sinh cũng có tiêu chuẩn, không phải là mang theo bao nhiêu nghiệp cũng được.
Những kẻ thật ác bất xá thì sao có thể được mang tới Thiên Quốc được?
Do vậy, nếu cứ mang tâm thái muốn tìm đường tắt, đầu cơ trục lợi, không muốn giải quyết vấn đề của bản thân mình từ gốc dễ thì không thể làm như vậy được.
2. Trúng sinh ở trong thế giới Thiên Quốc cũng phân thành có quả vị và trúng sinh thông thường.
Được làm một trúng sinh thông thường ở trong Thiên Quốc đương nhiên cũng tốt hơn rất nhiều so với làm người ở thế gian.
Nhưng họ cũng sẽ không đạt được đại tự tại chân chính giống như Bồ Tát và La Hán mà mọi người vẫn mong tưởng.
3. Vũ trụ có quy luật, thành, trụ, hoại, diệt. Tất cả mọi điều trong vũ trụ đều phải trải qua quá trình này.
Vì vậy, đối với con người thì sự vĩnh hằng trong thế giới của Phật cũng không phải là vĩnh hằng thật sự.
Tại sao nói hiện tại đã đến thời kỳ mạt Pháp? Đó là vì Phật Pháp đã không còn đạt tiêu chuẩn nữa rồi.
Người tín Phật nếu có thể lý giải được sự thay đổi của hình thế hiện nay, thì có thể dung nhập vào trong Phật Pháp của vũ trụ mới, sẽ không bị giới hạn trong mạt Pháp. Đó mới là điều vô vàn hạnh phúc.
32. Đường tăng cuối cùng đến bến bờ cực lạc.
Tiếp đến Kim Đính Đại Tiên tại Am Ngọc Trân và tiếp dẫn Phật Tổ tại bến Lăng Vân tiếp dẫn đường tăng.
Đường tăng cuối cùng đã đến bến bờ cực lạc.
Đường tăng tắm gội tại Am Ngọc Trân chuẩn bị vào đất Phật.
Tắm gội này chính là một loại ẩn dụ. Thực ra người ta trong quá trình tu luyện là không ngừng gột tẩy tư tưởng và thân thể của mình.
Đem những tư tưởng bất hảo và các thứ xấu trong cơ thể loại bỏ đi, sau đó mới có thể tiến nhập Phật Quốc.
Điểm này thực ra đã nói ở trước, Thiên Quốc là cực kỳ đẹp đẽ, thánh khiết.
Người nào mang tư tưởng dơ giấy và những thứ xấu sẽ không thể vào Thiên Quốc, do vậy mới phải không ngừng gột tẩy.
Có thể chúng ta đều đã từng nghe qua quán định, thực ra là Thượng Sư giúp người tu luyện tẩy.
Phải chăng lẽ dừa tội ở Tây Phương cũng có nội hàm này?
Giới tu luyện cũng có thuyết pháp như vậy, đó là trong đầu óc bạn có gì thì bạn chính là như thế.
Tịnh hóa tư tưởng là tối quan trọng.
Cho dù đường tăng đã sắp đến bờ bên kia, người tu luyện vẫn phải đối diện với khảo nghiệm.
Đường tăng phải bước lên chiếc thuyền không đáy để qua sông, đây chính là khảo nghiệm xem ông có thể viên mãn hay không.
Chiếc thuyền là có đáy, nhưng nó vô hình trước mắt người thường.
Sau khi lên thuyền, đường tăng nhìn thấy sát chết của chính mình.
Đây là vấn đề rất phức tạp, liên quan đến đặc điểm của nhiều pháp môn tu luyện.
Pháp môn của Phật Thích Cà Mâu Ni dạng Niết Bản, nên luyện xuất một Phật thể tại cùng một chỗ với nhục thân,
nhưng ở không gian vật chất khác, lúc viên mãn Phật thể theo Nguyên Thần đi lên, bỏ nhục thân lại.
Sát chết của đường tăng chính là nhục thân bỏ lại ấy.
Lúc này đường tăng đã tu thành Phật thể.
Nhưng không phải tất cả pháp môn Phật gia đều như vậy.
Có pháp môn Phật thể không phải tự bản thân tu xuất lai mà là do Thượng Sư cấp,
lúc viên mãn Thượng Sư đến tiếp dẫn, đồng thời cấp cho người đó một Phật thể có sẵn.
Trên đây không nói về pháp môn tính mệnh song tu.
Pháp môn tính mệnh song tu tại Phật gia, đạo gia đều có, trong đó đạo gia nhấn mạnh hơn.
Người bình thường có một nhục thân, chính là do vật chất thế giới này cấu thành.
Tuy nhiên, trong pháp môn tính mệnh song tu, người tu luyện thông qua tu luyện có thể cải biến vật chất thân thể này.
Dù ở bề ngoài nhìn vẫn giống như nhục thân nhưng bản chất đã biến đổi,
thân thể do vật chất khác nhau cấu thành, đương nhiên cũng có thể tiến nhập vào không gian vật chất khác.
Như vậy khi đắc đảo, không những cần Phật thể mà cũng cần kỳ biến nhục thân.
Nghe nói Phật thích ca mông ni hoàn toàn có khả năng mang theo nhục thân đã tu luyện xong mà đi lên.
Nhưng vì để giúp con người vứt bỏ chấp chức ở mức độ tối đa,
bao gồm cả chấp chức vào thân thể, Ngài đã lưu lại phương thức tu luyện niết bản này.
Thật ra, phá lợi Phật chính là vật chất đã qua cải biến, xương của người bình thường không có khả năng như vậy.
Nghe nói người tu luyện có mang nhục thân đã tu luyện thành lên thiên quốc hay không còn phụ thuộc vào đặc tính của mối thiên quốc,
đối ứng với các hệ thống vật chất khác nhau.
Phật Như Lai sau khi gặp Đường Tăng đã hỏi xem điệp thông quan của ông.
Nghe nói con đường tu luyện chính là vượt qua hết quan này đến quan khác,
mỗi một quan đều là ma nạn hoặc khảo nghiệm đối với người tu luyện.
Vượt quan rồi mới có thể tiếp tục tiến lên, cuối cùng viên mãn, nhất định phải trải qua quá trình này.
Người ta phải trải qua tu luyện khó khăn như vậy thì mới thể hiện được quy đức,
không ai được phép lên thiên quốc mà không trải qua tu luyện.
Nếu không có quy đức này, người tu luyện sẽ cảm thấy hổ thẹn ngay cả khi được lên thiên quốc và thậm chí còn muốn xuống trở lại.
Do vậy trong tu luyện không có đường tắt, pháp môn nào nói có cao chiêu hay ký xảo nào đó thì đều là tà môn oai đạo,
hoặc là bảng môn tà đạo, không phải đại đạo.
Trong tu luyện điều quan trọng nhất chính là phải bền lòng.
Phần 33. Lấy được chân kinh
Phật Như Lai chỉ chọn lấy một số quyền kinh thư giao cấp cho Đường Tăng, tại sao không thể cấp đủ?
Bởi vì thế gian đã quá xa đoạn, không có được phúc phận ấy, không xứng đáng được có thêm kinh Phật.
Vậy cũng nói, thế gian hiện tại không có Phật Pháp hoàn chỉnh.
Con người nếu thật sự muốn được Phật bảo hộ, thì phải tự mình tích đức mới được.
Một bên không việc ác nào mà không làm, một bên lại bái Phật mong phù hộ, làm sao có thể thế được?
Nghe nói còn có một nguyên nhân quan trọng nữa, đó là cố ý không cấp Phật Pháp hoàn chỉnh cho con người,
để con người không chấp chức vào đó, không tạo ràng buộc cho người đời sau.
Nghe nói trong lịch sử nhân loại khi các vị thần hạ thế truyền Pháp độ nhân,
thì mục đích chân chính chỉ là đặt định văn hóa tu luyện cho nhân loại để chuẩn bị cho đại sự cuối cùng.
Thời kỳ Mặt Pháp chính là ngày nay, là lúc diễn ra đại sự ấy.
Đường Tăng lấy được chân kinh rồi liền trở về.
Nhưng chín lần chín là 81 nạn, vẫn còn thiếu một nạn.
Vậy nên Phật Như Lai mới hạ lệnh cho Kim Cang thiết lập thêm một nạn nữa.
Mọi người đến đây thường cảm thấy rất nghi hoặc.
Đã thành chính quả cả rồi, vì sao lại thêm vào một nạn nữa?
Phải chăng chỉ là lấy cho đủ số thôi không?
Thực ra không phải là sự việc đơn giản bề ngoài như vậy.
Nghe nói độ một cá nhân thành thần thực ra cần thượng sư làm rất nhiều sự việc,
cần cải biến rất nhiều nhân duyên,
cần cải biến đường đời cho người tu luyện,
cần chuẩn bị quả vị cho người tu luyện,
thậm chí có thể ảnh hưởng đến kết cấu vũ trụ.
Tất cả đều được an bài vô cùng chặt chẽ.
Nếu trong quá trình tu luyện phát sinh biến hóa thì cần phải cải biến một lần nữa.
Như vậy rất nhiều điều đã xảy ra trước đây lại phải quay lại an bài lại,
thậm chí cần đảo ngược thời gian.
Điều này là không được phép.
Do vậy nhất định phải phù hợp với yêu cầu quả vị được xác định trước,
lúc này mới có thể được tính là viên mãn.
Đường tăng và các đồ đệ cuối cùng lấy được chân kinh,
trở về đại đường, truyền cho chúng sinh.
Sau đó khi trở về nơi ở của Phật Như Lai,
đoàn thình kinh cuối cùng đã viên mãn, đắc quả.
Danh hiệu đấu chiến thắng Phật cũng có đề cập trong Kinh Phật,
chứng tỏ vị Phật này là thực sự có tồn tại.
Con đường tu luyện Tây Du vậy cũng phải có thật,
nhưng không đơn giản chỉ là trèo đèo lội suối như được mô tả trong các câu chuyện xưa.
Người tu luyện công thành viên mãn, đắc đạo thành tiên,
thành Phật, thành thần là sự kiện trọng đại trong vũ trụ,
hết sức thủ thắng, thân người khó được,
trung thổ khó sinh, chính pháp khó gặp,
được cả ba điều, may mắn lắm thay.
Trong tôn giáo dạng Luân hồi, mỗi đời có thể truyền sinh thành người,
động vật, thực vật, tảng đá, năm, năm,
nhưng chỉ có người là được phép tu luyện,
các loại khác nếu như đắc linh khí, thành tinh,
thì chính là yêu, nhất định phải bị trời diệt.
Trong tôn giáo cũng dạng làm người không phải là mục đích,
mà là phản bổn quy chân.
Do vậy trong Luân hồi đời đời kiếp kiếp đắc được thân người
thì nhất định phải chân quý cơ hội ấy.
Trung thổ chính là chỉ trung nguyên đại địa,
Trung Quốc cũng còn được gọi là thần châu đại địa.
Nghe nói các quốc gia dân tộc trên mặt đất
cũng không phải ngẫu nhiên mà hình thành,
đều là có quan hệ đối ứng với các trùng thần trên thiên quốc.
Trung thổ là một địa phương hết sức đặc thù,
có quan hệ rất lớn với thần.
Truyền sinh thành người, đồng thời sinh ra tại đông thổ,
thật sự là cơ duyên khó được.
Nếu người này còn nhập đạo đắc pháp,
thì đúng là cơ duyên vạn cổ vậy.
Chính pháp và tả pháp là đồng thời tồn tại trên thế gian con người,
mà tả pháp so với chính pháp thì nhiều hơn rất nhiều.
Nếu cá nhân ấy có thể nhận ra chính pháp,
bước vào tu luyện chính pháp môn thì quả thực rất xuất sắc.
Nhưng dưới ảnh hưởng của khoa học,
nhiều người không nhận ra ngay cả khi chính pháp được đặt ngay trước mặt mình,
thật đúng là điều đáng tiếc vậy.
Lại còn có người dám cả gan bức hại người tu luyện chính pháp,
cũng giống như bức hại tín đổ cơ độc giáo trong lịch sử.
Nghe nói những người trước đây từng bức hại cơ độc giáo
hiện vẫn còn đang phải hoàn trà tội ác.
Con người ngày nay mê tín vào khoa học,
còn khoa học gia chân chính thì đã sớm phát hiện ra chỗ thiếu sót của khoa học.
Con người không tin thần,
cũng như không thừa nhận chính cha mẹ đã sinh ra mình vậy.
