SÀI GÒN XƯA 15 - NẮNG MƯA RỒI CŨNG QUA, CHỈ CHUYỆN XƯA LÀ CÒN Ở LẠI

TÔI YÊU BÌNH DƯƠNG
1.4K người theo dõi
Năm 1968, Sài Gòn rối như tơ vò, người ta lo cơm áo gạo tiền, còn mấy đứa nhỏ ở khu mã lạng thì lo, chơi. Ờ, khổ mấy cũng phải có cái vui chớ.
Tụi nó đâu cần siêu nhân, búp bê hay xe điện gì cho cam. Cái thùng phi cũ lăn lông lốc cũng thành chiếc xe tăng, con tàu viễn chinh.
Thằng nhóc cầm miếng gỗ coi bộ oách lắm, chắc đang làm thuyền trưởng hay tướng cướp gì đó. Thằng phía sau thì mặc nghiêm như lính trận, đẩy thùng mà coi bộ như lái xe tăng đi công phá.
Còn mấy đứa kia đứng coi, chờ thời nhập cuộc. Ở đây chỉ có bụi đường, mái nhà siêu vẹo, và những giấc mơ tuổi thơ chẳng cần tiền mới có được.
Khu Mã Lạng, nghe qua ai cũng ớn, tưởng toàn mùa Mã, nhưng thật ra là nơi trú thân của biết bao phận đời.
Ở giữa những ngôi mộ cũ, cuộc sống vẫn chảy, tiếng cười trẻ nhỏ vẫn vang.
Đời nghèo thì nghèo, nhưng ai cấm con nít được quyền vui. Còn hơi sức là còn cười, ông bà mình nói cấm có sai.
Giờ Sài Gòn năm 1973, chuối treo vàng rực, cam huyết đầy rỗ, không khí rộn ràng mùi trái cây, mùi cá khô, mùi mồ hôi trộn với tiếng rao, tiếng mặt cả, tiếng cười đùa.
Ấy thế mà giữa cái náo nhiệt ấy, nàng xuất hiện, một tà áo dài đỏ rực, thước tha như vệt son giữa bức tranh xưa cũ.
Không vội, không vấp, nàng đi chậm rãi như đang dạo trên phố lớn chứ chẳng phải chợ quê.
Đôi mắt đen sắc như lưỡi dao câu, môi trầm mà ánh nhìn thì lạnh hơn nước đá trong ly cà phê đen.
Người ta lít nhìn nàng, kẻ trầm trồ, người tò mò, còn bác bán chuối trên sạp chỉ ngồi cười cười.
Ở chợ này có đủ thứ để bán, nhưng có lẽ thứ quý nhất hôm nay lại là một khoảnh khắc đẹp hiếm hoi giữa đời thường.
Chợ Sài Gòn, xuân canh tốt 1970, nắng rọi trên những mái tôn, trên những tấm bạc căng lượng sóng,
trên mấy cái bản hiệu xanh đỏ chữ Tây chữ Ta.
Dưới lòng đường, người che người, xe cổ cuồn cuộn như nước lũ tràn bờ.
Xích lô, Vespa, Citroener, tất cả cùng hòa vào một bản giao hưởng hỗn loạn nhưng thân quen.
Mấy bà, mấy cô rộn ràng sắm Tết, người lựa miếng bức, kẻ trả giá hộp trà.
Bên sạp hàng, ông chủ tiệm thuốc đánh tiếng rao Quinguina Utonix.
Bổ, mát, ngon, thật thơm, nghe mà thấy Tết đến sát bên lưng.
Trong góc chợ, anh xích lô ngã nón lau tráng, thở hắt ra mà cười, mừng ăn 3 ngày Tết, có khi đủ nuôi vợ con 3 tháng.
Đó là Sài Gòn ngày trước, náo nhiệt mà tình.
Mà đâu chỉ có Tết, chợ này ngày nào chẳng vui như hồi.
Sài Gòn, xuân canh tốt 1970.
Chợ búa tấp nập, ai cũng tranh thủ lo cho 3 ngày Tết.
Nhưng trong đám đông xuôi ngược, có 2 ông cảnh sát đứng cười ha hả, trông rảnh ràng dữ.
Chắc mới bắt được đứa nhỏ nào lạng quạng, hay vừa được cô bán nước mía 10 ly miễn phí, nên hứng chí chuyện trò.
Bên kia, một ông bệ vệ, đeo kính đen, coi bộ đang tính chuyện làm ăn.
Còn trong góc, bác xích lô ngồi bắt chân chữ ngũ, coi bộ cũng thông thả, không cần tranh giành khách.
Thời Tết nó lan ra vậy đó, người ta bổng dưng thấy nhẹ nhõm, vui vẻ hơn.
Ở cái xứ Sài Gòn này, dù có bon chen tới đâu, 3 ngày Tết cũng phải cười.
Công trường Hồng Bàn, ngày trước chợ Ba Chiểu, dạo Tết canh tốt 1970.
Người ta đi lại rần rần, nhưng lạ cái, không thấy vội.
Bà áo dài tay ôn giỏ lùa, chắc đang lưỡng lựa giữa mấy món đồ cho 3 ngày Tết.
Cô bán hàng gánh quang gánh, đầu đội khăn rằn, quen với nhịp chợ, cứ lầm lũy mà đi, chẳng ai kêu réo, mà hàng vẫn chạy đều.
Có ông kia, tay đẩy xe đạp, miệng FIFA điếu thuốc, coi bộ sáng chưa kịp làm ly cà phê.
Nhìn chợ mà thấy thương, nó không chỉ bán đồ ăn thức uống, mà còn bán luôn cái tình, cái nghĩa.
Người ta mua qua bán lại, mà vẫn dành nhau một nụ cười.
Vậy mới nói, cái chợ đâu chỉ có ôn ào, nó còn là chỗ gom góp bao nhiêu cái duyên đời.
Sài Gòn, cỡ 1966-67.
Gây xăng lề đường kiểu này hồi xưa đầy rẫy, dừng Vespa, Honda, Mobilex cứ ghé vô là có đứa bơm liền.
Xăng đựng trong thùng phi, kéo cần tay là chạy xuống ống, không cần điện đóm gì hết, vậy mà ngon lành.
Ông anh bận sơ mi trắng, quần tay, mang đồ dép lịch sự, chắc sáng đi làm, chiều còn kịp đón em nào dạo phố.
Hai đứa nhỏ đứng coi chừng mê cái máy bơm, mà mặc thằng nhóc nhỏ coi bộ.
Không khoái lắm, chắc ngửi xăng nhiều quá.
Nhìn cảnh này mới nhớ, ngày xưa đâu có cần trạm xăng to, cứ một góc lề đường, cái thùng phi, cây bơm là chạy cả thành phố.
Xe đầy bình, người đầy tình, chạy một vòng, chiều chở đào đi chơi, đời vậy là đủ vui.
Sài Gòn, 1970. Đường Nguyễn Văn Thoại, trước 1963 gọi là Plantation Road, khu này xưa là chỗ mấy ông Tây, ông Mỹ hay Lai Vãn.
Coi bảng hiệu kìa, Casino, Pisa Palace, Hồng Kông nghe là biết có mùi viễn xứ.
Nhưng kế bên đó lại có xe lam, gánh hàng rong, áo bà ba, nón lá, cái chất Sài Gòn nó vậy, pha trộn mà không lẫn lộn, xô bồ mà không rối rắm.
Nhìn chiếc taxi Renault màu xanh chạy bon bon giữa phố mà nhớ.
Xưa taxi ở đây có 2 loại, xanh biển là hãng taxi xanh, còn vàng là hãng vàng.
Để ý nè, hồi đó tài xế lái xe không có đồng hồ tính tiền mà chạy theo kiểu thương lượng, thấy khách đây thì hét giá cao, gặp dân Sài Gòn rành đường thì liệu cơ mà báo giá cho đúng.
Đường phố lúc này còn trống trải chứ chưa ken cứng xe như bây giờ.
Mấy sợi dây điện lòng thồng trên đầu, gió mạnh cái là đung đưa như sợi bún.
Quán xá thì sang sát, từ tiệm cắt tóc, quán cà phê đến mấy chỗ ăn chơi của mấy ông lính viễn chinh.
Một góc Sài Gòn ngày đó, tuy nhộn nhạo nhưng vẫn đâu ra đó, người ta đi vội mà sống chậm, bòn chèn mà không quên cười.
Đây là góc hàm nghi võ di nguy, khu chợ cũ, một thổ đông vui như trễ hội.
Cái tên chợ cũ nghe là thấy hồn viết Sài Gòn xưa.
Ở đây không phải chợ to sạp lớn mà toàn quán cóc, gánh hàng rong, bán từ cây kim sợi chỉ tới chén chè, dĩa cơm.
Nhìn vô hình đi, một góc đời thường thiệt sống động, xe xích lô nằm chờ khách, người đạp xe vội vã lách qua dòng người, quán bún riêu, hủ tiếu khói bốc nghi ngút.
Bên kia lề đường, có ông khách đang nhâm nhi ly cà phê vớ, còn cô bán hàng thì bận rộn cân từng lạng thịt, gói từng túi đường.
Chợ cũ nó vậy, không xa hoa lộn lẫy, nhưng bước vô rồi thì thấy cái tình, cái thiệt.
Mấy tấm bản hiệu trên kia cũng kể chuyện đời, quán thanh hoa bán lạp xưởng, thịt khô, an ký chuyên trà, bánh kẹo nghe tên là biết gốc người Hoa.
Mà thiệt, chợ cũ xưa là đất của dân Quảng Đông, Tiều Châu, họ làm ăn giỏi, quán xá truyền đời, chỉ cần bước vô là y như về lại thỏa thiếu thời.
Năm 1968, ở góc đường Tổng Đốc Phương bây giờ là Châu Văn Liêm, có một cảnh đời mà ai từng sống qua thời đó nhìn vô là nhớ liền.
Mấy chú nhỏ đánh giày, quần xà lõn, áo sơ mi sờn cũ, tay cầm hộp xi, đứng tán dốc với mấy ông lính Úc.
Hồi đó, lính Tây Mỹ, Úc, Đại Hàn ra vô Sài Gòn tấp nập, nhưng lính Úc thì có cái vẻ lầm lì, ít nói hơn, khác với lính Mỹ sôi nổi.
Ê vậy mà hể thấy tụi nhỏ đánh giày, họ cũng vẫy tay, cười, có khi móc túi cho mấy các bạc lẻ.
Mấy thằng nhỏ này lanh lắm, đâu chỉ biết đánh giày, tụi nó còn biết chọc cười, bay trò, thậm chí học lõm vài câu tiếng Tây để chào hàng.
Có đứa mở miệng là Mister, Quốc Xu, Quốc Price, có đứa lại rành rẽ Fabi Aster, Normore, Ok, làm mấy ông lính phải bật cười.
Nhìn cảnh này mà nhớ cái không khí Sài Gòn xưa, nơi mà chiến tranh có đó, nhưng đời sống vẫn cứ trôi,
vẫn có những cuộc gặp gỡ tình cờ giữa những con người chẳng cùng ngôn ngữ, chẳng cùng quê hương.
Mà có lẽ trong khoảnh khắc đó, họ cũng chỉ là mấy người xa nhà, tìm một chút ấm áp giữa một nơi xa lạ.
Nhìn hai cô gái này mà thấy lòng vui vui.
Một cô áo đỏ thắm, một cô áo trắng tinh, chân bước nhịp nhàng, không nhanh không chậm, như có người đếm nhịp sẵn.
Cái dáng đi ấy, cái vẻ đẹp ấy, Sài Gòn, hay nói đúng hơn, cả miền Nam, từng có biết bao nhiêu.
Thời đó, con gái ra đường là phải áo dài, tay cầm bóp hoặc giỏ có theo hoa, dép cuốt gõ lóc cóc trên đường.
Đẹp mà không kiểu cách, dịu dàng mà không yếu mềm.
Thời ấy, đàn bà con gái được dạy phải đoan trang, nhưng cũng không thiếu người xác xảo.
Đàn ông mà dám lơ mơ là có khi bị cô gái tưởng như liệu yếu đào tơ chỉnh cho một trận ra trò.
Nhìn lại tấm ảnh này, mới thấy cái đẹp ngày xưa nó không nằm ở chỗ lề lệt hay cầu kỳ,
mà nó từ cái hồn, cái dáng, cái cách đi đứng, nói cười.
Nhịp bước của hai tà áo này, chắc chẳng ai đếm, nhưng lại đều một cách tự nhiên, như chính cái nhịp sống của thời đó vậy.
Sài Gòn năm 1963, coi bộ cũng giống như bao thành phố lớn trên thế giới, nhộn nhịp, thanh lịch và dĩ nhiên, không thể thiếu bóng dáng những giai nhân.
Gái đẹp của phụ nữ thời ấy nó tự nhiên như hơi thở, không cần phô trương mà vẫn đủ làm người ta ngoái nhìn.
Cô gái áo vàng trong hình bước đi thông thả, lưng thẳng, eo nhỏ, dáng thong.
Đàn bà thời đó ăn mặc có ý tứ lắm, chứ không phải khoe khoang.
Chiếc đầm ôn sát nhưng không hở hang, dày gót nhọn lột cột trên nền gạch, mỗi bước đi như có nhạc nền của riêng mình.
Người ta hay nói giai nhân là cái duyên của phố, nhìn cảnh này mới thấy đúng.
Cái thời mà đàn ông ra đường là phải chỉnh tề, quần áo.
