MỸ SƠN CÁNH CỬA ĐI VÀO QUÁ KHỨ - P1 | MEKONG DAILY

TÔI YÊU BÌNH DƯƠNG
1.4K Người theo dõi
Văn hóa phương Đông luôn là tâm điểm lôi cuốn bước chân khám phá của các nhà thám hiểm, nhà dân tộc học và các nhà sự học mọi thời đại.
Song hành với những bước chân khám phá ấy là bao câu chuyện huyền diệu bước ra từ ngàn xưa,
mà cho đến nay nhân loại vẫn chưa hết bàng hoàng bởi mức độ hoành tráng và vĩ đại của những công trình mà tiền nhân đã dựng lên cách đây hàng chủng thế kỷ.
Đó là tuyệt tác đèn tháp Borobudur của vương chiều Sailendra vào thế kỷ thứ 8 ở Indonesia,
một di sản đã bị lãng quên trong suốt 10 thế kỷ sau khi vương chiều Phật giáo này sụp đổ.
Đó là quần thể Angkor Hùng Vĩ, kinh đô một thời của đế quốc Khmer Hùng Mạch,
một vương chiều đã cai trị vương quốc Campuchia từ thế kỷ thứ 9 đến thế kỷ thứ 15.
Cũng giống như số phận của ngôi đèn tháp Borobudur sau khi đế quốc Khmer sụp đổ,
quần thể rộng trên một ngàn dặm vuông với hàng ngàn đèn tháp đã trở thành phế tích và bị hóng đen lịch sử che giấu hàng trăm năm.
Hay như cố cung Bagan của vương quốc Bagan, một tiểu vương đã tồn tại từ thế kỷ thứ 9 đến thế kỷ thứ 13 ở miền Trung Myanmar.
Như số phận của đèn tháp Borobudur huyền Bí và quần thể Angkor Hùng Vĩ,
khu cố cung rộng 25 dặm vuông với hàng trăm đèn đài này đã chìm trong hoang phế,
ẩn mình giữa rừng sâu suốt hàng thế kỷ trước khi được những nhà thám hiểm phát hiện ra.
Và không ngoại lệ với sắc màu huyền Bí phương Đông, thánh địa Mỹ Sơn của Việt Nam cũng là một trong số ấy.
Lần giờ những bí ẩn của thánh địa Mỹ Sơn, vùng đất một thời được xem là trái tim của vương quốc Champa,
chính là cách để chúng ta mở ra một cánh cửa để đi vào quá khứ.
Amaravati, tên gọi xưa của thánh địa Mỹ Sơn, một vùng đất thuộc tỉnh Quảng Nam ngày nay,
được các văn bia cổ nhắc đến như là trái tim của vương quốc Champa trong nhiều thế kỷ.
Ra đời vào khoảng cuối thế kỷ thứ tư sau Công Nguyên,
và người có công sáng lập nên vương quốc này là một vua chăm có tên là Brandravarman.
Ngoài Mỹ Sơn, tên của vị quốc vương này còn được các nhà nghiên cứu tìm thấy trong văn bia
tại nhiều khu vực khác trong khu vực Đông Nam Á, rộng lớn như tại ngôi đèn Wat Phu ở miền Hạ Lào.
Trên các văn bia được khắc ở sườn núi phía đông, chân tháp nhạc tại Tuy Hòa,
nơi có ngọn núi thiêng Lingapavata tức núi đá bia ở đèo Cả thuộc tỉnh Phú Yên ngày nay.
Điều này cho thấy quy lực của đại vương Brandravarman không chỉ giới hạn ở khu vực Amaravati,
mà nó bao trùm cả một vùng rộng lớn kéo dài từ khu vực đồng bằng ven biển cho đến khu vực miền núi.
Và đại vương Brandravarman đã chọn thung lũng Mỹ Sơn nơi có ngọn núi thiêng Mahapavata
mà ngày nay được biết dưới cây tên ngọn núi hoàn đèn Mỹ Sơn làm đất thánh để thờ phụng đấng vương
thần Devaraja Brandresivara đứng bảo hộ vương quyền và xứ sở.
Tuy nhiên, sau khi vương quốc Champa tàn lụi, thánh địa Mỹ Sơn đã chìm trong lãng quên hàng thế kỷ giữa rừng sâu.
Mãi đến những năm cuối thế kỷ thứ 19 đầu thế kỷ 20, nó mới được các nhà thám hiểm người Pháp phát hiện.
Và người đặt nền móng đầu tiên cho một hành trình mở toan cánh cửa để tìm về quá khứ của thánh địa Mỹ Sơn
là một công chức của chính quyền thuộc địa Pháp có tên Paris.
Đó là vào năm 1895, trong một lần thám hiểm vùng rừng núi Mỹ Sơn,
viên công chức cần mẫn đam mê mạo hiểm Paris đã vô tình lạc vào khu vực thung lũng thâm u
thuộc khu vực phía Tây tỉnh Quảng Nam ngày nay.
Khi những mảng rừng già trước mắt được bén ra, Paris gần như bị tróa ngập bởi trước mắt ông là những ngôi đền phủ bóng riêu phong.
Ngay sau khi bức mảng bí ẩn về khu đền này được bén lên,
nhiều nhà nghiên cứu phương Tây đã bắt tay vào tìm hiểu những huyền bí của khu đền này.
Tiếp bước Paris, vào những năm đầu thế kỷ 20,
một nhóm nhà thám hiểm nghiên cứu khảo cổ người Pháp mà đứng đầu là một kỹ sư viễn thông Phino đã vượt rừng tìm đến Mỹ Sơn.
Trong lần thám hiểm này, nhóm của Phino tập trung nghiên cứu dịch thuật các văn biên cổ
và tìm hiểu nghệ thuật kiến trúc điêu khắc của người trong.
Trong hai năm từ năm 1903 đến 1904,
những tài liệu cơ bản nhất về bia ký và nghệ thuật kiến trúc Mỹ Sơn mà nhóm của Phino thu nhập được chính thức công bố.
Đây được xem là lần đầu tiên bí ẩn về Thánh điện Mỹ Sơn được thế giới viết đến.
Từ những ký tự được văn bia để lại, các nhà khoa học đã vẽ lên những phát hoạ đầu tiên về Mỹ Sơn.
Bức màn lịch sử đã được các nhà khoa học bén dần lên thông qua những bia ký
và lịch sử nhiều triều đại xưa đã làm hậu thế bàng hoàng về bề dày lịch sử của nó.
Mỹ Sơn chính là khu Thánh địa quan trọng nhất của Vương quốc Trăm Pà
suốt từ thế kỷ thứ 4 đến thế kỷ thứ 15.
Các nghiên cứu chỉ ra rằng hệ thống tháp trung tại Mỹ Sơn hội tụ rất nhiều phong cách khác nhau
và mang tính liên tục từ phong cách cổ thế kỷ thứ 7 đến thế kỷ thứ 8
cho đến phong cách hòa lai, đồng dương Mỹ Sơn, chuyển tiếp giữa Mỹ Sơn và Bình Định.
Điều này cho thấy hệ thống đèn tháp ở Mỹ Sơn được các triều đại liên tục xây mới và tu bộ trong nhiều thế kỷ.
Bia ký của vua Parameswara Vaman viết vào khoảng năm 1234
được phát hiện gần tháp B1 cho thấy ông là vị vua cuối cùng đứng ra tu sửa và dân cúng lễ vật vào ngôi đèn này.
Sau khoảng thời gian này người ta không còn tìm thấy văn bia nào khác ở khu đèn này
và Phải Trăng vào cuối thế kỷ thứ 13 Mỹ Sơn đã bị bỏ phế.
Giải thuyết đặt ra là Phải Trăng khi ấy các vương triều ở miền Amaravati đã suy yếu
và sự ảnh hưởng của nó đã không còn bù mạnh để duy trì vai trò trung tâm của mình.
Và Phải Trăng lúc bấy giờ tiểu quốc Viyaya ở vùng Bình Định đã vươn lên giữ vai trò trung tâm mới của vương quốc.
Biến cố nào đã làm vương quốc Amaravati đi vào quên lãng giữa rừng sâu?
Với tôi thì Mỹ Sơn không bị bỏ lãng quay trong một thời gian nào
và nó vẫn tồn tại hiển nhiên trong một tâm thức của người dân ở địa phương.
Chúng ta biết rằng việc xây dựng ở Mỹ Sơn công trình mũn nhất của Mỹ Sơn là công trình B-1.
Nhưng có lẽ việc thờ tử Mỹ Sơn chấm dứt đến thế kỷ thứ 15 mới chấm dứt.
Nhưng sau đó thì Mỹ Sơn không còn là một trung tâm tôn giáo phòng thịnh như trước.
Nhưng người dân địa phương vẫn biết đó là thánh địa của Trầm Ba.
Và người ta từng gọi là Tháp Trăn, Đền Trăn.
Và người ta với người Việt đã kiên để những y tết này.
Và rất tiếc là người Việt của chúng ta không công bố thông tin để chúng.
Đến năm 1895, từng người Pháp họ phát hiện những y tết này.
Và sau đó người ta đưa lên thông tin để chúng.
Thì mới gọi là người Pháp phát hiện.
Chứ thật ra là Mỹ Sơn hào như không bị lắng quay.
Chỉ có bị thiên nhiên, cây rừng nó bao phủ là một thời gian khá dài.
Kết quả nghiên cứu từ các văn bia cổ cho thấy
những ngôi đền đầu tiên được xây dựng ở thánh địa Mỹ Sơn
là vào khoảng cuối thế kỷ thứ 4 sau Cùng Nguyên.
Trong nhiều thế kỷ, thánh địa này liên tục được các triều đại bổ sung thêm các ngọn tháp lớn nhỏ.
Dựa trên các văn bia còn tồn tại,
các nhà khoa học đã từng bước phát thảo ra bước chân rung đầy bí ẩn của khu đền này.
Theo đó, lúc khởi thủy, thánh địa Mỹ Sơn chỉ có một ngôi đền nhỏ
được làm bằng gỗ để thở thần Deva Pradreswara
vì thần được kết hợp giữa tên của các nhà vua và tên của thần Shiva,
thần của các thần trong Ấn Độ Giáo.
Hơn 2 thế kỷ sau đó, một trận hỏa hoạn bí ẩn đã thiêu dụi ngôi đền này.
Và đầu thế kỷ thứ 7, vua Sambhruvaman,
bị vua trị vì từ năm 577 đến năm 629 đã cho xây dựng lại ngôi đền.
Nối tiếp vua Sambhruvaman, các triều vua sau đó tiếp tục tu sửa lại các đền tháp cũ
và xây dựng các đền tháp mới để thở tử các vị thần trong tiếng ngưỡng tôn giáo của mình.
Và cũng giống như toàn bộ các tháp trăm dọc dài đất miền Trung.
Chất liệu, cách thức xây dựng nên những ngôi tháp ở Mỹ Sơn trong giai đoạn này
đến nay vẫn còn là một bí ẩn của lịch sử.
Mỹ về mặt mật liệu mà xây dựng tháp trăm thấy tôi rất là đa dạng
và nó có thêm một tiến trình nhất định phát tiến từ tháp đến cao.
Cái giai đoạn đào, những công trình từ thứ tư đến thứ sáu
là người Tram thường làm những công trình kiến trúc bằng gỗ
và những công trình này đã bị thiêu hủy vào một cơn hổ hòn lớn.
Đến giờ chúng ta chưa hiểu được lý do.
Sau đó từ thế kỷ thứ bảy đến thế kỷ thứ tám
thì người ta vừa gái hợp công trình vừa xây bằng gạch
nhưng vừa sử dụng gỗ bên trong.
Gạch được xây quanh tường mỏng.
Sau đó thì người Tram lại về mặt kiến trúc người ta đã hiểu sao hơn
và đã phát triển thì người ta xây những công trình hoàn toàn bằng gạch.
Chỉ sử dụng đá vào những lanh tô cửa
hay những cô lâm, những trụ cửa và những đỉnh tháp
và những trang tiến gắp tháp là bằng đá thôi.
Nhưng đến thế kỷ thứ mười ba
thì chắc lẽ nó còn ảnh hưởng ít nhiều
cái kiến trúc của Khmer.
Thì người Tram đã xây dựng tháp bờ mộc là hạo như bằng đá.
Tiếc ra là cái công trình này chưa được hoàn chỉnh.
Với cái bình đồ của nó thì chúng ta cũng đoán rằng
nếu được hoàn chỉnh thì sẽ là cao trây ba mươi mấy.
