Về Đền Tiên La – lắng nghe câu chuyện Bát Nạn Đông Nhung Uy Viễn Đại Tướng Quân

THÁI BÌNH
1K Người theo dõi
Vâng mời quý vị cùng chúng tôi về ngôi đền Tiên La – cùng lắng nghe câu chuyện bà Bát Nạn Đông Nhung Uy Viễn Đại Tướng Quân – Một câu chuyện để lại vô vàn điều cho chúng ta học hỏi không những về lịch sử, ý nghĩa nhân sinh, ý nghĩa tâm linh Việt.
Xin cảm ơn quý vị đã giành thời gian theo dõi video của chúng tôi. Nếu thấy video hay và ý nghĩa thì xin vui lòng chia sẻ tới người thân và bè bạn ạ
#khamphathaibinh #tienla #hungha
Kính chào quý vị và các bạn. Hôm nay, Huy Tâm xin mời quý vị và các bạn khám phá ngôi đền lâu đời nhất tỉnh Thái Bình,
thờ một trong những vị nữ tướng đầu tiên của dân tộc Việt Nam.
Đây chính là đền Tiên La, xã Đoan Hùng, huyện Hương Hà, tỉnh Thái Bình, thờ bác nạn Đồng Nhung đại tướng quân Vũ Thị Thục Nước.
Theo dân gian cùng thần phà tại đền Tiên La, huyện Hương Hà, tỉnh Thái Bình và đền bác nạn, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, cùng ghi là
bác nạn tướng quân tên là Vũ Thị Thục, tục gọi Thục Nương, hay Vũ Thị Thục Nương.
Bà sinh giờ dân, ngày 5 tháng 8 năm Đình Xỉu, tức năm 17 sau Cầu Nguyên, tại trang Phượng Lâu,
này là xã Phượng Lâu, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, trong gia đình làm nghề thuốc.
Sinh thời, Thục Nương là một người phụ nữ tài sắc vẹn toàn, đẹp người, đẹp nết, giàu lòng nhân ái.
Thục Nương giỏi võ, lại giỏi ca hát, bà đã dạy người dân trong vùng ca hát dân ca.
Những lối hát đó vẫn còn truyền lại đến nay ở vùng Phú Thọ, Vĩnh Phúc.
Năm 18 tuổi, Thục Nương đính hôn với Phạm Danh Hường, con trai huyện trưởng Chu Diên.
Thời đó, nước ta bị nhà Đông Hán đô hộ.
Người Việt vô cùng khốn khổ dưới sự cai trị hà khắc của thái thú Tô Định,
dành tiếng về sắc đẹp của Thục Nương đến tai Tô Định.
Hán muốn lấy bà làm thiết, nhưng bà từ chối.
Tức giận, Tô Định xài quân đốt phá trang Phượng Lâu, hại chết cha và vị khôn phu của bà.
Bà chạy thoát ra bến sông Bạch Hạc, Việt Trì, xuôi sông Hồng vào sông Luộc,
đến đất Đa Cương, trang Tiên La, này thuộc huyện Hương Hà, tỉnh Thái Bình.
Thời kỳ này nước biển đã rút, nhưng vùng Đa Cương vẫn còn là vùng đất nước lợ,
với những cánh rừng ngập mạn lớn bạt ngàn rất hiểm trở, thuận tiện cho việc ẩn náu.
Thục Nương lên bờ được các nhà sư chùa Tiên La và dân làng che trở.
Giống như Phượng Hoàng không gặp cây ngô đồng thì không đậu.
Bà sinh tại thôn Phượng Lâu, không rừng chân ở nước nào khác,
mà nhất định phải là ở đất Đa Cương này.
Địa Linh sinh Nhân Kiệt, Nhân Kiệt gặp Địa Linh.
Tiên La đúng là đất dụng võ của người anh hùng.
Ở đây, Thục Nương dạy dân khai khần đất hoang, đào canh từ sông luộc để dẫn nước ngọt về trồng lúa.
Rất nhanh Tiên La trở thành vùng tru phú.
Người Việt khắp nơi về cư ngụ, dân cư đông đúc.
Bà triêu tập nhân dân, huấn luyện võ thuật, thích chữ lương thảo.
Tháng riêng năm Đình Rậu, năm 37 sau Công Nguyên,
Thục Nương dựng cờ khởi nghĩa xưng là bát nạn tướng quân, tức tướng quân phá nạn.
Lịch sử đã ghi nhận trước khởi nghĩa Hai Bà Trưng thì ở nước ta đã có một số cuộc khởi nghĩa khác.
Theo mốc thời gian trên thì khởi nghĩa của bát nạn tướng quân bắt đầu trước khởi nghĩa Hai Bà Trưng 3 năm.
Lạc tướng quên đầu lời tuyết hật, non hồng quét sạch bụi trần ai,
cờ tăng điểm tướng nghiêm hàng trận, gót ngọc gieo hoa ngát mấy trời.
Mùa xuân năm 40, Hai Bà Trưng vất cờ khởi nghĩa và đã cho người đến các nơi khuyến dụ các lạc hầu,
lạc tướng và thủ lĩnh các cuộc khởi nghĩa khác của người Việt cùng đứng lên đánh đuổi giặc Đông Hán.
Bát nạn tướng quân đã cùng các tướng lĩnh tụ nghĩa dưới cờ Hai Bà Trưng,
và cùng với Hồ Đề, Lê Trân, Quách Á Ni, Vĩnh Huy, Thánh Thiên,
trở thành sáu vị nữ tướng kiệt xuất nhất dưới tướng Trường Vường.
Nghĩa quần Trường Vường thắng như trẻ tre, thành luy lâu Bắc Ninh bị hạ,
các thành khác nhanh chóng tàn vỡ và quy phục.
Tô Định phải vứt bỏ ấn tín, cắt tóc, cạo dâu, ăn mặc giống người Việt,
trà trộn vào làm loạn quân mới chạy được về phương quắc.
Khởi nghĩa thắng lợi chấm dứt thời kỳ Bắc thuộc lần thứ nhất.
Thục nường được Trưng Vương phong là Bát nạn Đồng Nhung Uy Viễn Đại tướng quân,
bàn cho thực ấp ở Trang Tiên La.
Đất nước độc lập không lâu thì đến tháng 4 năm 42,
Hán Quang Vũ Đế sai phục ba tướng quân Mã Việt sang xâm lược trở lại.
Sau một năm ngoan cường chiến đấu, năm 43 sau Công Nguyên,
quân đội Trưng Vương thất thủ ở Cầm Khê, Hà Nội.
Sau khi Trưng Vương từ trận, một số cánh quân khác rút lui theo các hướng khác nhau
và sau đó không lâu cũng lần lượt tàn vỡ.
Cánh quân của Thục Nường rút về cố thủ ở Tiên La.
Trên cả đất Giao Chỉ, đến lúc này chỉ còn lại duy nhất vùng Duyên Hải
Nơi có cánh quân của Thục Nường đang giữ là quân Đông Hán chưa chiếm được.
Tháng 8 năm 43, giặc Đông Hán đánh đến Trang Tiên La.
Tại đây, dựa vào vùng xình lây và rừng ngập mặn Bạt Ngàn,
Thục Nường lãnh đạo quân Việt cố thủ tiếp tục cầm cự và đánh trả,
gây cho quân Hán thiệt hại lớn.
Sau nhiều lần tấn công thất bại, quân Hán đổi chiến thuật,
chỉ vây mà không đánh.
Sau hơn một tháng bị vây hết lương, quân Việt không muốn ngồi yên chờ chết,
nên đã đồng lòng xin Thục Nường cho tử chiến, đánh trận cuối cùng.
Đó là ngày 17 tháng 3 năm Quý Máu, thức năm 43 sau công nguyện.
Sáng sớm mặt trời chưa ló hẳn, bắt nạn đồng nhung uy viễn đại tướng quân Vũ Thị Thục Nường,
mặc áo giáp, cưới ngựa ô, hai tay cầm song kiếm,
dẫn đầu các tướng sĩ tả sùng hữu đột giữa vòng vây trùng trùng của quân Đông Hán,
như vào chỗ không người.
Sau gần một ngày quyết chiến, đến chiều tối,
binh sĩ người Việt từ trận không còn một ai.
Thục Nường bị thương nặng khắp người, một mình phá vòng vây chạy về phía gò Kim Quy.
Đứng trên gò cao, bà ngắm nhìn trang tiên la lần cuối,
rồi noi gương hai bà chưng từ tiết vỉ nước.
Giặc đuổi đến nơi, tìm rất lâu không thấy xác bà đâu, chúng đành rút quân.
Sau khi giặc rút hết đi, dân làng đến gò Kim Quy thì thấy có một đống đất hình người.
Thì ra, khi bà từ tiết nằm xuống, mối đá sông lên xác bà thành một đống đất lớn.
Nhân dân nhớ thương bà, đã lập đền thờ bà ngay tại gò Kim Quy.
Còn cảnh bà cho đảo năm xưa để dẫn nước ngọt vào trồng lúa,
người đời sau gọi cạnh này là sông Tiên Hưng.
Vì thục nương được dân tôn thờ là Bậc Tiên Thánh, đã khởi phát hừng thị cho dân vùng này.
Đền Tiên La tọa lạc tại thôn Tiên La, xã Đoan Hùng, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình,
trên một diện tích khoảng 6.000 m2.
Đền Tiên La tọa lạc tại thôn Tiên La, xã Đoan Hùng, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình,
trên một diện tích khoảng 6.000 m2.
Mặt trước đền hướng ra phía sông Tiên Hưng.
Thế kỷ thứ 13, trong chiến tranh Mông Nguyên – Đại Việt, quân Nguyên mãi không tìm được quân chủ lực Nhà Trần.
Rằng tức tối bèn dùng cách hèn hạ cho quân về phá Tông Miếu, Lăng Mộ Tổ Tiên và đốt phá quê hương Nhà Trần tại Hưng Hà.
Trong khi đền Tiên La rộng lớn uy nghi chỉ cách đó hơn 1 km theo đường chìm bay, nhưng quân Nguyên không hề động đến.
Đến thế kỷ 14, quân Nhà Minh sang chiếm đóng nước ta 20 năm.
Chúng muốn động hóa người Việt nên thực hiện chính sách tận diệt văn hóa, phá hủy hầu hết đền, chùa, bia đá, sách vở.
Vậy mà Giặc Minh cũng tuyệt nhiên không dám đụng vào đền và mộ của bà tại Tiên La.
Trải qua nhiều lần tu bổ, đến nay đền có quy mô lớn và đẹp.
Đền Tiên La được xây dựng theo nguyên mẫu kiến trúc cổ tiên nhất Hậu Đinh,
bao gồm nhiều công trình như hệ thống cổng đền, tòa tiên tế, tòa trung tế, thượng điện và hệ thống sân đền.
Trước khi qua cổng là tam quan ngoại.
Tôi thấy nhiều người về rất khen đền là đây nhà nước đầu tư lớn cho thầy phải mấy trăm tỷ vậy.
Nhưng mà tôi cũng kiểu nói là nhà nước chân dân cùng làm.
Khi là nhân dân xây dựng lên nhà nước, nhà nước là cầm quyền.
Vậy con người ta phải đóng góp nhiều như rết nhiều chân vào thì sẽ được thành.
Vào đến sân đền là tam quan nội.
Trước sân đền có hai hàng tượng đá.
Hình các nữ tướng mặc giác đeo gơm đứng hầu trước cửa vô cùng uy nghiệm.
Đi tiếp sẽ đến đại bái hay gọi là tiền tế.
Nơi đây được chia ra làm năm gian khác nhau.
Được làm từ gỗ tứ thiết, bốn loại gỗ tốt và rắn, la, đinh, lim, sến, táo.
Nội thất được chạm chỗ tứ linh, lòng, ly, quy, phượng.
Đăn sen với tứ quý Tùng, Trúc, Quốc, Mai.
Ở đây còn có những bức đại tự có nội dung ca ngợi trưng vương và công đức tai sắc của nữ tướng Bát Nạn.
Đi tiếp là nhà trung tế của đền Tiên La.
Được xây dựng theo kiểu kiến trúc trồng diêm cổ các.
Các thành gỗ được xếp trồng như quẻ diêm.
Điều đặc biệt ở đây là toàn bộ vật liệu xây dựng đều bằng đá.
Hình tượng chạm khắc rất tinh xảo.
Trong đó bốn cột cái chạm hình tứ linh.
Mười hai cột quân chạm khắc lòng vân.
Tám xa chạm hình ảnh của tứ linh và tứ quý.
Các sườn cột keo đá còn lại chạm bằng hoa dây và chữ triện.
Tất cả đều được chạm chỗ công phục.
Ngoài ra, đền Tiên La còn lưu giữ được nhiều đồ tế khí
có giá trị thẩm mỹ niên đại từ thời Lê.
Các đài liệu như thần tích và sắc phong thần
thời Lê đến thời Nguyễn, bia đá, minh chuồng.
Tiếp sâu vào bên trong đền Tiên La sẽ đến hậu cung.
Kiến trúc của hậu cung là bằng gỗ gồm ba gian.
Trong đó gian giữa đặt một ban thờ.
Trên có tượng thờ bắt nạn tướng quân.
Xung quanh thờ các tướng sĩ của bà.
Bên gian trái thờ thân phụ
và bên gian phải thờ thần mẫu của bà.
Phía trên nóc của hậu cung có treo bức tự đề
bốn chữ Vạn Cổ Anh Linh,
với ý nghĩa muôn đời nhớ ơn công lao
của bắt nạn tướng quân và các quân sĩ
vì dân, vì nước.
Trong hậu cung đền Tiên La,
hiện vẫn còn phân mộ bà,
chảy gần 2.000 năm khói hương không rứt.
Đã là con mẹ, con cha.
Tháng 3 dỗ mẫu Tiên La thì về.
Theo phòng tục truyền thống,
ngày 10 tháng 3 đến ngày 20 tháng 3
âm lịch hàng năm
tại quần thể khu di tích lịch sử quốc gia
thờ Đông Nhung đại tướng quân.
Trong đó chính hội là ngày 17,
trùng ngày mất của bà.
Từ bao đời nay, dân gian lưu truyền rằng
hàng năm vào ban đêm
của ngày chính kỵ 17 tháng 3,
trên nóc hậu cung
rực sáng một vầng hào quang.
Điều đặc sắc nữa là
cứ đến ngày khai hội
mùng 10 tháng 3 âm lịch,
trên địa bàn huyện Thưng Hà
lại có một trận mưa rào mát mè.
Dân gian cho rằng
đó là bà hiền linh về dự hội
và trận mưa rào là để rửa cửa đền
đón bà về.
Đến ngày cuối cùng của lễ hội
20 tháng 3 âm lịch
lại có một trận mưa nữa
để đóng cửa đền.
Công khí lễ hội bao trùm
trên địa bàn toàn huyện
và các vùng phụ cận
nhưng thể hiện rõ nét nhất
tại hai xã Đoan Hùng và Tân Tiến.
Lễ hội Đền Tiên La
được người dân và chính quyền
huyện Thưng Hà, tỉnh Thái Bình
tổ chức công phu,
bao gồm các nghi thức tế lễ,
rước kiệu, rước nước
và các phần hội
bao gồm hoạt động văn hóa, văn nghệ,
thể thao như đánh đáo,
trọi gà, đấu vật,
thì pháo đất,
múa rồng, múa sư tử.
Ngoài ra, các đoàn nghệ thuật
của tỉnh Thái Bình và các tỉnh lần cận
cũng đến biểu diễn những vở
trèo đặc sắc hay thậm chí
có cả vở cải lương,
tiếng trống, mê linh.
Nước phải kiến thiết
các ngôi đền thủ lên
hay là kiến thiết những ngôi chùa lên
thì nhằm mục đích
để giáo dục quần chúng,
giáo dục nhân dân.
Cũng người ta sống là phải có đạo.
Nếu con người sống
không có đạo, thì chắc con người đó
chỉ là sống
thừa thì không dám nói, nhưng mà
thiếu đi nhiều cái.
Mà rộng quy hoạch để thành một tơi di tích
lịch sử sau này cho
xứng đáng với tầm cỡ quốc gia
và có thể là thế giới về
mình và có thể
mình tôn trọng thánh lên bao nhiêu
thì mình vẫn còn thiếu
tí thư quốc hữa.
Việc bảo tồn di tích,
lưu truyền các thần ngôn, thần tích
trong dân gian cùng với việc
Đền Tiên La đã được nhà nước
xếp hạng Di tích cấp quốc gia
năm 1986
đã góp phần bảo lưu
văn hóa truyền thống, gắn kết
cộng đồng, qua đó tiếp tục
khẳng định tầm vóc và vai trò
lịch sử của Đông Nhung Đại Tướng
Quân Vũ Thị Thục Nương
cũng như văn hóa tính thần
hướng thiện là những giá trị
phổ quát của dân tộc và
nhân loại. Cảm ơn
quý vị đã dành thời gian theo dõi
video của chúng tôi. Nếu thấy hay
và ý nghĩa, hãy cho chúng tôi
một like và đăng ký kênh
để chúng tôi có thêm động lực ra
các video với chất lượng tốt hơn.
Kênh chúng tôi chuyên làm
nội dung về văn hóa, di tích
lịch sử và làng nghề
với mục đích lưu giữ truyền thống quê hương.
Hãy liên hệ với chúng tôi
thông qua email để truyền tài
nét đẹp văn hóa tại địa phương.
Cuối cùng, xin gửi
những lời chúc tốt đẹp nhất
tới quý vị và gia đình.
Xin kính chào tạm biệt và hẹn
gặp lại.
