Lần Đầu TIẾT LỘ Bí Mật Động Trời BÊN TRONG THÁP RÙA Sau Hàng Nghìn Năm CHE GIẤU _ TUYỆT MẬT TV.mp4

Xưa và Nay
1.3K người theo dõi
89 Lượt xem video·9 thg 6, 2025
Lần Đầu TIẾT LỘ Bí Mật Động Trời BÊN TRONG THÁP RÙA Sau Hàng Nghìn Năm CHE GIẤU _ TUYỆT MẬT TV.mp4
Lần đầu tiết lộ bí mật động trời bên trong tháp rùa sau hàng nghìn năm che giấu.
Kính chào quý vị khán giả đã quay trở lại với số mới nhất của tuyên mật.
Quý vị thân mến, Tháp rùa là tên gọi nôm na của người dân để gọi ngọn tháp ba tầng nằm trên gò rùa giữa hồ Hoàn Kiếm.
Từ thời vua Lê Thánh Tông, trên gò rùa đã có điếu đài làm nơi cho nhà vua ra câu cá, ngầm vịnh thơ ca.
Sang thời Lê Trung Hưng, Chúa Trịnh lại dựng đình tả vọng trên đó.
Xong, trước khi Lê Triều Thống chạy sang Trung Quốc cầu cứu nhà Thanh đã cho phá bỏ tất cả những gì họ Trịnh dựng lên.
Đình tả vọng vì thế cũng bị phá bỏ không thương tiếc.
Rồi mấy chục năm bình hòa, gò rùa chỉ nằm chờ giữa hồ Hoàn Kiếm.
Hồ Hoàn Kiếm được ví như lãng hoa tươi giữa làng Hà Nội.
Trong lãng hoa ấy nổi bật một đoá sắc màu đẹp nhất, gây ấn tượng nhất không đâu khác chính là tháp rùa.
Thế nhưng cho đến nay, công trình này vẫn còn nhiều ẩn số và những câu hỏi chưa có lời giải đáp chính xác.
Tháp rùa là một ngọn tháp nhỏ nằm trên một gò đất nhỏ, rộng khoảng 350m2,
nằm giữa hồ Hoàn Kiếm hay còn gọi là Hồ Gươm, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.
Với vị trí đắc địa, thuận lợi di chuyển từ các điểm khác nhau ở Hà Nội đến về tháp.
Khi nơi đến tháp rùa, thường ai cũng lơ mơ biết đến chuyện xưa,
có một người nào đó định xây mộ cho cha mẹ mình mới đứng ra xây tháp rùa.
Nhưng không được, thành ra hình bóng của tháp rùa chỉ là một câu chuyện dở dàng.
Nhưng thực ra, cổ nhân Nguyễn Hữu Kim, sinh năm 1832, mất năm 1901,
với chức danh báo hộ xưa cũng chỉ tương đương với trưởng phường hiện nay,
đã nổi tiếng vì dám đứng ra tổ chức trồn cất cho cụ Hoàng Diệu,
quan tổng đốc tuấn tiết vì thất bại, trong thời kỳ kháng Pháp đầu tiên vào năm 1882.
Lúc đó, một số quan lại cao cấp kế cận Hoàng Diệu đều bỏ trốn hoặc đầu hàng,
làm tay sai cho Pháp. Không ai dám đứng ra mai táng cho cụ Hoàng Diệu.
Trong khi đó, ông Kim đã cùng dân góp tiền mua áo quan,
làm lễ đưa mổ cụ Hoàng Diệu về gần miếu Trung Liệt, rồi so di ra dinh quan đốc học.
Việc làm này chứng tỏ ông Kim, một thương nhân giàu có,
đã thể hiện lòng dũng cảm và thương sót một người anh hùng đã hy sinh, anh dũng vì đất nước.
Mặc dù có thời, ông Kim còn được phong là chi phủ thường tín, rồi thương biện phủ Hoài Đức,
nhưng lại bị Pháp nghi kị, cách trức và quản thúc chỉ vì có cô con gái lại tham gia phong trào chống Pháp.
Người con gái của ông, tên là Khuê, sau này trở thành nguyên mẫu trong tiểu thuyết
Bóng Nước Hồ Gơm của Chu Thiên, một cuốn sách mô tả phong trào chống giặc Pháp xâm lược,
hết sức quyết liệt của người Hà Nội.
Thêm nữa, cháu nội của ông là liệt sĩ Nguyễn Ngọc Vũ, sinh năm 1908, mất năm 1932,
từng là bí thư thành ủy chính thức đầu tiên của Đảng Bộ Hà Nội, Đảng Cộng sản Đông Dương lúc đó,
và đã hy sinh trong hỏa lò năm 1932.
Có lần bác sĩ Thìn, một bác sĩ đầu ngành sản khoa Viện C Hà Nội,
cháu năm đời của ông Kim đã cho xem ra phả, càng thấy rõ 5 người con trai và 3 con gái của ông Kim
đều được giáo dục và trưởng thành trong một gia đình có nền nếp,
luân hướng tới những việc thiện vì dân, vì nước.
Vậy nên, việc xây tháp rùa của ông Kim, khi ấy với ý nghĩa hậu trẩm cho chùa Báo Ân xưa,
ở vị trí nhà bưu điện trung tâm ngày nay, cũng có cái lý nhất định.
Nhưng dù sao, ông cũng là người đã xây nền ngôi tháp này trên đảo rùa,
với 4 tầng, mang dấu ấn như một sự hòa trộn giữa hai màu sắc kiến trúc phương Tây và Á Đông,
cũng là một sự lạ vào thời đoạn 1884-1887.
Tên ông luôn được gắn với những câu chuyện về tháp rùa và được mọi người nhớ đến
như thành tựu của một doanh nghiệp đối với Hà Nội cũng bởi lẽ đó.
Dấu tích còn lại về ông hiện còn được lưu giữ tại số nhà 29, phố Hai Bà Trưng,
là rình cơ cứu và là nhà thờ đại tôn của họ Nguyễn, theo gia phản năm đời thuộc gia đình ông.
Tuy vậy, có thể nói ngày đó tháp rùa quả là một công trình có ý nghĩa công đức cho cộng đồng
và trở thành một cái tên sớm được nhắc đến cho bất cứ ai lần đầu tiên đến Hà Nội.
Xưa các tàu nhân mặc khách đã hòa thơ,
hồ gươm soi bóng tháp rùa, ánh đèn soi tỏ mái chùa Ngọc Sơn, đài nghiên tháp bút chưa mòn.
Lẽ dĩ nhiên, từ đó tháp rùa gắn với đèn Ngọc Sơn tạo nên cảnh quan hài hòa và trở thành điểm nhấn cho hồ gươm.
Nghe nói, trước đây có một con đường nhỏ đi bộ từ bờ hồ ra đảo rùa,
vì xưa nơi này từng là nơi câu cá giải trí của vua quản Chửa Lê.
Có người tò mò rằng, ai là người thiết kế một kiểu kiến trúc tân cổ giao duyên như vậy?
Bạn vẽ gốc dọ ở đâu? Hay chỉ là ông Kim tự nghĩ ra rồi thuê thọ làm theo ý mình?
Bởi lẽ, hai tầng dưới làm theo kiểu Tây, còn hai tầng trên lại theo phong vị của đèn chùa cổ Việt.
Chả thế thời đó, ngay trên một số bao pháp còn gọi tháp rùa là ngôi đèn nhỏ,
hay chỉ là chùa được xây trên nề một ngôi đèn nhỏ trước đó,
bởi nó chỉ cao 8,8 mét với diện tích khoảng 28,51 mét vuông,
chiếm tỷ lệ khiêm tốn trên gần một sao diện tích đảo rùa.
Chính vì lẽ đó, với độ cao chỉ vừa đủ là một bẻ tượng,
mà có chuyện một kỹ sư người Pháp là Đà-o-rê-lê quyết định tháp rùa phải đổi bức tượng thần tự do Mỹ.
Đó là chuyện có thật, nhưng nói chính xác chỉ là một phiên bản nhỏ,
mẫu của tượng thần tự do trước khi người Pháp xây tặng cho nước Mỹ.
Đây là phiên bản thứ hai, tượng thần tự do bằng đồng,
cao 2,58 mét được Pháp đem sang Việt Nam trưng bày trong một cuộc triển lám
tại hội trợ đấu xảo này là cùng văn hóa hữu nghị Việt Xô năm 1887.
Sau đó, tượng được tăng lại cho Hà Nội và được đặt tại vườn Hoa Chí Linh.
Nhưng đến năm 1890, chính phủ bảo hộ muốn lấy chỗ đó đặt tượng Phôn Bè,
thống xứ đầu tiên bị mất tại Hà Nội.
Trước đó mấy năm, nền tượng thần tự do được rinh ra đặt trên nóc tháp rùa,
mặt quay về phía vườn Hoa Chí Linh.
Theo một tài liệu, qua báo chí thời đó thì tháp rùa phải đổi tượng thần tự do này trong 6 năm,
từ năm 1891 đến năm 1896.
Rồi không hiểu vì lý do gì mà tượng thần tự do được chuyển về đặt ở vườn Hoa Cửa Nam.
Đến trước thời kỳ cách mạng tháng 8 nổ ra, pho tượng này đã bị giật đổ cùng với một số tượng khác
ở Hà Nội theo lệnh ký ngày 31 tháng 7 năm 1945 của thị trưởng Hà Nội Trần Văn Lai lúc đó.
Nhưng thật khó ngờ vì một biểu tượng nổi tiếng của nước Mỹ,
một công trình nghệ thuật tuyệt đẹp lại có một phiên bản duy nhất được trưng bày ở nước ta
trong một thời gian dài chừng hơn nửa thế kỷ.
Đến nay, số phận bức tượng đồng thần tự do đó ra sao cũng không còn dấu tích nữa.
Từ lâu, hình ảnh hồ gươm và tháp rùa được xoay bóng trong văn thơ,
họa nhạc như một biểu tượng lung linh cho Hà Nội.
Tháp rùa sống với tâm trí cộng đồng, gắn bó về tình cảm như một sự chia sẻ
hay bày tỏ thân thiết với những người con thủ đô.
Thật khó ai có thể quên hình ảnh tháp rùa trong tranh phố của cố danh họa Bùi Xuân Phái
với táo dài bên hồ gươm, xa xa nghiêng bóng tháp rùa trong nắng sớm.
Và ai cũng có thể nhớ đến bản tráng ca người Hà Nội của Nguyễn Đình Thi
hoặc nhớ về Hà Nội của Hoàng Hiệp cũng như gửi người em gái miền Nam của đoàn chuẩn Từ Linh.
Tất cả đều gắn bó với hình ảnh tháp rùa với những câu ca giàu cảm xúc như là
Chạnh lòng tôi nhớ người em, em tháp rùa yêu dấu
Hay Hà Nội đẹp sao, ôi nước hồ gươm xanh thắm lòng, bóng tháp rùa thân mật ấm lòng
Và ôi nhớ hồ gươm xanh thắm, nơi tháp rùa nghiêng soi bóng
Chuyện quanh tháp rùa ngỡ như chỉ gắn liền với huyền thoại
hay những lời bàn mang yếu tố tâm linh làm tăng màu sắc của riêng phòng một thùa.
Nhưng ít ai ngờ trong sử sách về cách mạng của thủ đô ngàn năm Văn Hiến
còn ghi lại câu chuyện xảy ra vào đúng ngày sinh nhật Bác Hồ ngày nào.
Có thể coi đây là một câu chuyện mới nhất về lá cờ của một chiến sĩ
đã bí mật treo trên đỉnh tháp rùa ngay trong lòng địch
đúng vào ngày sinh nhật Bác Hồ ngày 19 tháng 5 năm 1948.
Chuyện xảy ra hơn 60 năm nhưng người thanh niên quả cảm
một chiến sĩ công an đã hi sinh anh dũng đến nay mới được xác nhận là liệt sĩ
quả là một thiệt thòi không nhỏ.
Sáng hôm đó, chiến sĩ Nguyễn Trọng Quang mới 18 tuổi đã cùng đồng đội bơi ra tháp rùa
để treo lá cờ đỏ sao vàng lên đỉnh cao nhất.
Sự kiện này làm chấn động đời sống người dân Hà Nội.
Từ ngày giặc Pháp chiếm Hà Nội, đây là sự kiện đầu tiên lá cờ cách mạng tung bay
làm náo nức lòng người như một bằng chứng hùng hồn về sự hiện diện của cách mạng
ở ngay giữa lòng địch, thể hiện tinh thần quật khởi của người dân thủ đô làm kẻ địch hoảng loạn.
Sau đó ít ngày, chiến sĩ Quang bị địch bắt giam tại Hòa Lò.
Tại đây, anh đã vẽ lá cờ đỏ sao vàng và viết khẩu hiệu
Hồ Chủ tịch muôn năm lên tường.
Ông Đông, người bị bắt cùng với anh Quang kể thêm
ngày hôm sau bọn giặc bắt tất cả đi tra tấn và tìm cho ra người vẽ.
Lúc đó, anh Quang đã khẳng khái đứng ra nhận và bị chúng đưa đi biệt giam với tội danh đặc biệt nguy hiểm.
Đến ngày 12 tháng 6 năm đó, chiến sĩ Nguyễn Trọng Quang đã bị chúng sử bắn.
Chiến công của liệt sĩ Nguyễn Trọng Quang đã được xác nhận,
nhưng thật khó khăn khi đồng đội không biết địa chỉ gia đình ở đâu để làm thủ tục công nhận liệt sĩ.
Sau này, với sự giúp đỡ của phóng viên báo công an nhân dân
cùng các đồng đội cứu của liệt sĩ Nguyễn Trọng Quang đã tìm được thân nhân của gia đình ông ở 12 Bát Đàn, Hà Nội.
Vậy là, sáng ngày 10 tháng 4 năm 2009, sau 61 năm,
bằng tổ quốc ghi công mới được trao cho gia đình liệt sĩ Nguyễn Trọng Quang.
Có thể nói đây là câu chuyện duy nhất có ý nghĩa gắn với tháp rùa trong câu chuyện trăm năm
soi bóng trên truyền thuyết lịch sử hoàn kiếm của Vô Lê.
Trở lại với hiện thực khi hơn trăm năm trôi qua,
giờ đây tháp rùa đã trở thành một biểu tượng trong lòng người với nhiều cảm xúc thân thương.
Nhưng thật ra, gọi tháp rùa là di tích loại gì cũng khó xác định,
cả về hai khía cạnh lịch sử và văn hóa, mặc dù nó đã là một địa chỉ trong khuôn viên du lịch thủ đô.
Nhìn tổng thể, tháp lại là một công trình kiến trúc không được đẹp cho lắm, lai tạc.
Vậy thiết nghĩ có thể cải tạo, nâng cấp cho đẹp hơn, giống như nhiều di tích đã từng làm hay không?
Và lại trên thực tế, tháp rùa cũng đã từng vài ba lần dỡ nóc để đặt tượng.
Trong sáu năm trời, hoặc chóc vỏ, chát vữa, quét vôi đến chơ trụ như hiện nay.
Hơn nữa cái chuyện những người thợ xây đã bí mật ném hai cốt của song thân ông Bác Kim ngày xưa
cũng chỉ là chuyển miệng, không thể kiểm chứng.
Biết đâu mọi chuyện lại ngược lại.
Vậy việc thiết kế, làm lại móng, nâng cấp cho tháp rùa xứng đáng là một kiến trúc
có giá trị văn hóa và bền vững của thủ đô, thiết nghĩ cũng là chuyện cần thiết.
Tháp rùa có nhiều chi tiết trang trí mang ý nghĩa biểu tượng.
Trên đỉnh tháp có hình ngôi sao năm cánh, tượng trưng cho mai rùa,
một loài động vật linh thiêng trong văn hóa Việt Nam.
Trên tường phía đông của tầng 3 có ba chứ, quy sơn tháp, nghĩa là tháp núi rùa.
Tháp rùa cũng là một minh chứng cho sự giao thoa giữa hai lối kiến trúc là kiến trúc Pháp và kiến trúc bản địa.
Các cửa cuốn hai tầng dưới được thiết kế theo phong cách kiến trúc Gothic,
một phong cách kiến trúc phổ biến ở châu Âu từ thế kỷ XII đến thế kỷ XVI.
Các cửa cuốn này có hình vòng nhọn, được xem là biểu hiện của sự cao vời và thăng hoa.
Phần mái cong của tháp lại giữ quy thức kiến trúc cổ Việt Nam,
một phong cách kiến trúc mang đậm bản sắc dân tộc.
Phần mái cong này được xem là biểu hiện của sự huyền chuyển và duyên dáng.
Từ tầng 1 đến tầng 4, kỹ thước của tháp giảm dần, tạo nên hình dáng như một chiếc bánh trưng.
Mỗi tầng có một đặc điểm riêng biệt về thiết kế và trang trí.
Tầng 1 có ba gian, mỗi gian có bốn cửa hình vòm, tổng cộng có 14 cửa cho ánh sáng và gió vào tháp.
Tầng này có một ban thờ và một cái thang để lên tầng 2.
Ban thờ được cho là dành cho trao của Nguyễn Ngọc Kim, người đã xây dựng tháp vào năm 1862.
Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng ban thờ là để tôn vinh thần Hồ, vị thần bảo vệ Hồ Hoàn Kiếm.
Tầng 2 cũng có ba gian nhưng nhỏ hơn tầng 1, cũng có 14 cửa nhưng kích thước bé hơn.
Tầng này có nhiều bức tranh vẽ các doanh nhân lịch sử Việt Nam như Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trái, Lê Lợi.
Các bức tranh được sơn màu sắc sinh động và mang ý nghĩa cao ngợi những anh hùng dân tộc.
Tầng 3 chỉ có một gian với một cửa hình tròn ở phía đông.
Tầng này có nhiều tượng điêu khắc với các loài động vật như rồng, phượng, rùa.
Các tượng được sơn màu sắc rực rỡ và biểu hiện sự uy nghi và linh thiêng của tháp.
Từ tầng 3 có một cái thang lên nóc tháp. Nóc tháp có một cửa nhỏ nhưng đã bị khóa lại.
Đã có rất nhiều bài viết về tháp rùa giữa Hồ Hoàn Kiếm, Hà Nội.
Trước đây tỉnh cờ tuyệt mật thấy một bài viết của Văn Ngọc Thủy,
ca ngợi ngôi tháp nhỏ trầm mặc rêu phong, lùng lình ánh điện, không gian huyền ảo.
Và tác giả là người đầu tiên cho biết bên trong tháp rùa có 3 ban thờ ở 3 tầng tháp và lối lên.
Những bậc thang gỗ nhỏ nhưng chắc chắn đã lên nước đen bóng.
Chí tiết thú vị gây sự tò mò cho những ai quan tâm muốn biết ở đây là.
Ở đây thờ những vị thần nào?
Trong bài viết tác giả cũng đã khéo léo lướt qua những sự kiện nhạy cảm.
Đó là lý lịch, động cơ của người xây dựng tháp rùa, ông bá hộ kim và những ý kiến vinh nhau
của các nhà kiến trúc về hình dạng vòng cửa.
Lần đầu tiên Văn Ngọc Thủy phát hiện có ban công trên tầng 2 ngôi tháp.
Tuy nhiên trong bài này lại có 2 ý kiến nhỏ gây tranh cái.
Thứ nhất, ngày 19 tháng 5 năm 1948, chiến sĩ Nguyễn Trọng Quang
với sự iểm trợ của đồng đội đã bơi ra hồ và cắm được lá cờ đỏ sao vàng trên đỉnh tháp rùa.
Với lòng yêu mến cờ Tổ quốc nên nhiều người luôn nghĩ cờ đỏ sao vàng phải được cắm
hoặc treo ở những nơi cao nhất, màu đỏ thắm tươi, gió thổi tung bay lồng lộng.
Đó là lòng mong muốn chủ quan, tình cảm chân thành.
Chính vì thế, Văn Ngọc Thủy cũng như không ít người đã viết cắm cờ trên đỉnh tháp.
Tháp rùa xây bằng gạch, mái cứng láng, vùi vữa nhãn trơn,
làm sao có thể dễ dàng trong đêm trèo lên cắm được cờ trên đỉnh nóc.
Tuyệt mật nhớ lại những bài báo tường thuật buổi lễ chiều ngày 10 tháng 10 năm 1954
chào mừng ngày giải phóng thủ đô.
Cột cờ thanh Hà Nội rất cao, gió to, cờ lớn nên các chiến sĩ công binh
đã phải làm một chiếc cột bằng kiềm loại và dựng lên, mắc cờ vào cột cho an toàn.
Nghĩa là chiều hôm ấy, sau tiếng hô chào cờ,
thì mọi người hướng lên lá cờ Tổ quốc tung bay trên đỉnh cột từ nhiều giờ trước rồi.
Hoàn toàn không có chuyện, hàng vạn chiến sĩ và đồng bào thủ đô
đứng trang nghiêm dưới chân cột cờ thanh Hà Nội đã rưng rưng nước mắt,
nhìn lá cờ Tổ quốc từ từ được kéo lên tới đỉnh cột trong tiếng nhạc tiến quân ca oai hùng.
Đã có bài báo nói rõ trong những năm Hà Nội tạm chiếm,
các chiến sĩ hoạt động bí mật không thể cắm cờ đỏ sao vàng trên đỉnh tháp rùa.
Nhưng hôm nay vẫn có người viết như vậy.
Vậy thì trong đêm tối các anh dũng cảm bơi ra tháp rùa rồi cắm cờ vào đâu?
Đây là điều thứ hai người viết bài này,
cũng là một người Hà Nội hoạt động kháng chiến trong những năm 1950-1954.
Xin cung cấp thêm thông tin.
Văn Ngọc Thủy cho biết có ba chiến sĩ công an Hà Nội đã cắm cờ trên tháp rùa
trong đêm ngày 19 tháng 5 năm 1950.
Và một trong ba người anh hùng hôm đó,
sau này nhờ phóng viên báo công an nhân dân giúp đỡ,
đã tìm ra được tên là Nguyễn Trọng Quang ở 12 Phố Bát Đàn.
Năm 2009, bằng tổ quốc ghi công,
đã được trân trọng trao cho gia đình liệt sĩ Nguyễn Trọng Quang.
Được biết trong lịch sử Đoàn Thanh niên Cứu Quốc Hà Nội,
ghi rõ có một hoạt động cắm cờ trên tháp rùa vào đêm ngày 19 tháng 5 năm 1950.
Cuốn sách ảnh phong trào học sinh kháng chiến Hà Nội
do nhà xuất bản Hà Nội xuất bản vào năm 2006,
đã in ảnh và tên những người tham gia sự kiện này.
Và điều rất vui, một trong bốn người còn sống hiện ở thành phố Hồ Chí Minh
là bác sĩ Nguyễn Phúc Nghị,
nguyên giáo sư trường Đại học Y Thái Bình, Đại học Y Hà Nội.
Bác sĩ Nghị đã kể lại tìm mỉ,
việc làm của mấy chục năm về trước trong một cuốn hồi ký in vi tính.
Chuyện từ lúc các anh rủ nhau lên hồ quảng bá kiểm tra khả năng bơi lội.
Từ chiều ngày 18 tháng 5,
các anh ra hồ hoàn kiếm đi câu cá,
giả vợ bực mình vì không câu được con cá nào,
nên vứt cần câu xuống nước.
Chưa cần câu nổi dập dành ấy,
chính là cán cờ cho các anh vứt lên.
Đêm hôm sau, ngày 19 tháng 5,
sinh nhật Bác Hồ Kỳ Nhiêu,
bơi ra giữa hồ,
treo lên chân tháp rùa,
tra cờ vào cán,
rồi cắm lên bãi cỏ dưới chân tháp.
Anh Nghị nhắc lại lời Nguyễn Sĩ Vân,
Cỏ thì rậm, đất thì nháo,
mà chân tháp lại cứng quá.
Phải mấy lần ấn thật mạnh
mới cắm được cán cờ vững chắc
phía ngay trước tòa đốc lý,
trụ sở UBND Hà Nội bây giờ.
Cờ đỏ so vàng xuất hiện trên gò rùa,
gây tiếng vang lớn,
rúng động dư luận xã hội bây giờ.
Trung đoàn thủ đô rút khỏi Hà Nội,
nhưng Việt Minh vẫn có mặt ở thành phố.
Bất chấp lệnh Pháp thiết quân luật cấm,
cấm đi lại từ 9 giờ đêm hôm trước
đến 5 giờ sáng hôm sau.
Người Hà Nội gọi nhau náo nức xem cờ,
sáng bừng niềm tin kháng chiến
dưới sự lãnh đạo của Bác Hồ
nhất địch thắng lợi.
Mấy học sinh trẻ tuổi Trường Chu Văn
được Công an Hà Nội cho ra vùng tự do
tuyên dương khen thường.
Vì không giữ được bí mật,
cả mấy anh khi trở về nhà đều bị mật thám
về bắt. Nguyễn Khâm bị bắt trốn
mất xác ở đập phùng.
Nguyễn Sĩ Vân, rất kiên cường,
bị địch đưa ra khe tù, móng cái,
một trại giam cực kỳ tàn ác,
rồi xử bắn anh.
Các đồng đội ra sức tìm kiếm,
năm 2001 đưa được Di Cốt Anh
về Hà Nội.
Trong tiếng vòng vọng các bài hát về Hà Nội
và Khói Hương, xe đưa Nguyễn Sĩ Vân
đi một vòng quanh Hồ Hoàn Kiếm,
nhà Vân ở phố Hàng Bài.
Cơ quan Công an, cựu học sinh kháng chiến
Trường Chu Văn An, UBND
phường Hàng Bài, quận Hoàn Kiếm
và gia đình đã tổ chức lòng trọng lễ
truy điệu, trao tặng bằng tổ quốc
ghi công liệt sĩ Nguyễn Sĩ Vân.
Còn Quang Con,
anh em gọi thế vì
người cậu ta nhỏ con, lạt mất tâm hơi.
Nghe nói sau năm 1954
được ta đánh vào Sài Gòn,
không biết Nguyễn Trọng Quang
trong bài viết của Vũ Ngọc Thủy
có phải là Quang Con,
nhà gần chợ Châu Long trong hồi ký
của Nguyễn Phúc Nghị hay không.
Ngày hôm nay, Tuyên mật TV nói về
sự kiện cấm cờ trên tháp rùa
để kỷ niệm những sự kiện đáng nhớ ấy.
Đây cũng là nén hương tưởng nhớ
anh Linh các liệt sĩ
và với những người đang sống.
Đã bao nhiêu năm qua rồi,
nhưng khi nhớ lại chuyện này,
bác sĩ Nguyễn Phúc Nghị,
người duy nhất còn tới hôm nay
đã viết thành thực.
Đêm ấy, anh chỉ là người mang cờ
tới địa điểm Venho,
rồi được phân công đứng trên bò,
canh giữ quần áo và báo động
cho đồng đội dưới nước.
Nếu có cảnh sát lùng sục
hoặc xe của quân Pháp đi tuần tra,
một thái độ hết sức đáng trân trọng
trung thực với người đã quất,
với xã hội và với chính bản thân mình.
Trong khi một số người tranh công,
mạo nhận thành tích,
hiện tượng đáng buồn khá phổ biến hiện nay.
