Những Người Phụ Nữ Vĩ Đại Nhất Lịch Sử Việt Nam | Nước Nam Truyền Kỳ Tập 1
Trong tập đầu tiên của Nước Nam Truyền Kỳ, chúng ta cùng nhìn lại những chân dung nữ tướng huyền thoại đã làm rạng danh lịch sử Việt Nam. Từ Hai Bà Trưng – người mở đầu cuộc khởi nghĩa vĩ đại đầu tiên chống ngoại xâm, đến Bùi Thị Xuân – nữ đô đốc oai hùng thời Tây Sơn. Từ Nguyễn Thị Định – biểu tượng bất khuất nơi chiến trường miền Nam, đến Nguyễn Thị Bình – cánh chim đầu đàn trên mặt trận ngoại giao quốc tế. Họ không chỉ là những “bông hồng thép” giữa chiến trường, mà còn là biểu tượng của trí tuệ, lòng dũng cảm và khát vọng tự do của cả một dân tộc.
👍 CD Media - Khám Phá là nơi mở ra cánh cửa tri thức về những bí ẩn, câu chuyện kỳ thú và những hiện tượng chưa được giải đáp trong thế giới xung quanh chúng ta. Dựa trên việc tham khảo các nguồn thông tin phong phú và đa dạng, kênh kết nối những kiến thức và quan điểm khác nhau, giúp khán giả có được cái nhìn sâu sắc và toàn diện hơn về những bí mật từ tự nhiên, khoa học, vũ trụ, con người,….
Tao muốn cưới cơn gió mạnh, đạp luông sóng dữ, chém cá kình ở biển khơi, đánh đuổi quân ngô giành lại giang sơn,
cởi ách nô lệ, đầu chịu khom lưng làm tì thiếp cho người.
Đó không chỉ là khí phách của một người phụ nữ,
mà là tiếng sấm giữa trời nô lệ của những cá nhân mang thân phận yếu mềm nhưng tinh thần rắn thép.
Trọng xã hội xem chiến trường là trốn cô bậc trưởng phù.
Họ đã mạnh mẽ bước ra, mà chẳng chờ ai gọi tên.
Những nữ tương ấy không như cưới voi ra trận, xưng vương định quốc,
mà còn khẳng định tài trí trên mặt trận ngoại giao,
giữ vững non sông bằng cả gươm lẫn lời.
Vậy họ là ai?
Hãy tìm hiểu câu trả lời trong video ngày hôm nay.
Nước Nam Truyền Kỳ Tập 1
Những nữ tướng kiệt xuất nhất của lịch sử dân tổng
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định rằng
Phó Tổng Tư Lệnh Quân Giải Phóng Miền Nam là Cô Nguyễn Thị Định.
Cả thế giới chỉ có vị tướng quân gái như vậy.
Người phụ nữ nhỏ bé ấy được biết đến thân thương về cái tên là Bà Ba Định.
Chính là thuyền trường kiên cường, mạnh mẽ,
dần dắt chiến trường miền Nam trong suốt những năm kháng chiến.
Bà sinh vào ngày 15 tháng 2 năm 1920 tại Rồng Chôm,
mảnh đất giàu truyền thống cách mạng của tỉnh Bến Tre.
Mặc dù lớn lên trong nghèo khó, thiếu thốn,
nhưng nhờ người anh trai dạy chứ,
Nguyễn Thị Định đã sớm thấm nhuần lòng nhiều nước sầu sát.
Biến cố đầu đời xảy đến khi chồng bà bị thực dân Pháp bắt và đẩy ra côn đảo,
khiến người phụ nữ ấy quyết định hết lòng phục vụ sự nghiệp cách mạng.
Năm 1946, Nguyễn Thị Định vinh dự trở thành một trong số ít chiến sĩ miền Nam
được ra Bắc gặp Bác Hổ.
Tại đó, lời can dặn của người về việc cướp súng giặc mà đánh giặc
đã trở thành kim chỉ Nam cho mọi quyết sách về sau.
Bà chỉ đào thành công chuyến vận chuyển 12 tấn vũ khí
vượt hàng nghìn cây số từ Bắc vào Nam
để chi viện kịp thời cho tiền tuyến đảng khác đã lúc ấy.
Năm 1954, dù Hiệp định Geneva đã được ký kết,
nhưng ngọn lửa đàn áp cách mạng vẫn chưa tắt.
Khi đó, Nguyễn Thị Định tiếp tục kiên cường bám chủ,
nguy trang làm nông dân để giữ vững mạng lưới cơ sở.
Trong bối cảnh Mỹ diệm dựng khu trù mặt,
đột phá nhà cửa, cường ép dân lành,
bà cùng tình huy tổ chức lực lượng vũ trang phát động phong trào đồng khởi.
Ngày 17 tháng 1 năm 1960, ngọn lửa nổi dậy bùng lên Tây Định Thủy.
Người phụ nữ nhỏ bé ấy đã trực tiếp chỉ huy trận đánh mở màn,
tiêu diệt đồn địch.
Lan sóng khỉnh nhất nhanh chóng lan rộng khắp biển Tre.
Đặc biệt với chiến lược 3 mũi giáp công,
phối hợp chặt chẽ giữa quân sự, chính trị và binh vận của bà
đã giúp mở ra lối đi mới cho phong trào cách mạng.
Khi địch phản công, Nguyễn Thị Đình không hề nào núng
mà tổ chức các cuộc đấu tranh chính trị
và động quân chúng xuống đường phản kháng.
Ngày 27 tháng 2 năm 1960,
hàng trăm xuồng ba lá chở phụ nữ và trẻ nhỏ tiến vào thị trấn Mỏ Cải
tập lên ngọn lửa BNP suốt 12 ngày đêm.
Đã chính là thời khắc đội quân tóc dài,
lực lượng do bà dẫn dắt chính thức ghi danh vào lịch sử
với sức mạnh lây chuyển cả vùng máy đạn áp.
Không trì do chỉ huy,
Nguyễn Thị Đình còn luôn xuất hiện trên chiến trường
với hình ảnh rung dị của táo bà bà,
tay nắm chắc chiếc nón lá và khan dân quen thuộc.
Tên tuổi của người phụ nữ ấy vang vọng như hồi chống
thúc giục ý chí toàn dân vùng lên,
khiến cả Mỹ diệm cũng phải dè chừng.
Nhưng giữa những tháng ngày dân hiến trọn vẹn cho đất nước,
Nguyễn Thị Đình phải trải qua nỗi đau tột cùng
khi còn được con duy nhất qua đời.
Thay vì gục ngã,
người mẹ ấy vẫn dồn hết trái tim vào lý tưởng,
biến mất mát thành sức mạnh truyền đấu.
Năm 1965,
Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Bộ Chính trị
quyết định giao cho bà giữ chức phó tư lệnh
các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam.
Không lâu sau, một thử thách lịch sử đã đến,
chân càn Johnson City,
chiến dịch lớn nhất mà Mỹ – Nguyễn
tiến hành nhằm tiêu diệt căn cứ miền trong của ta.
Tại thời khắc quyết liệt này,
bà đã chỉ đào lực lượng tuyên huấn,
du kích, văn công phối hợp phản kích kẻ thù,
tung ra những đòn đánh hiểm hóc khiến chúng troang váng.
Ta chia nhỏ quân số,
tận dung đi hình rừng núi,
tổ chức phản kích chớp nhoáng,
làm sục đổ thế trận giặc.
Ngay cả khi trận càn thứ hai ập tới,
bà vẫn phải mạnh mẽ điều bình từ hầm bí mật,
trực tiếp chỉ đạo phá hủy hàng loạt xe tăng.
Kế hoạch tác chiến linh hoạt
giúp quân chủ lực của ta phản đoàn thành công,
làm tiêu tan tham vọng của Mỹ – Nguyễn.
Hành quả ấy không chỉ là chiến thắng quân sự,
mà còn là lời khẳng định
trí tuệ và bản lĩnh của bà
vượt xa khuẩn mẫu phụ nữ thời kỷ ấy.
Trong cuộc tổng tiến công
và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968,
Nguyễn Thị Đình nhân nhiệm vụ cho ông Hiếu
trực tiếp chỉ huy chiến sự tại Tây Ninh,
nơi tình hình diễn biến vô cùng căng thẳng.
Dù bị tai nạn khi băng rừng bằng xe đạp,
bà vẫn tiếp tục đấu tranh,
lập tức triệu tập cán bộ,
phân tích địa bàn,
đề xuất chiến thuật phù hợp với tình hình.
Khi địch giáo viết xây dựng ấp chiến lược,
lợi dụng tôn giáo để trể rẽ lòng dân,
Nguyễn Thị Đình chủ trương cai cắm
lực lượng bí mật,
trành thủ tím đồ, tổ chức tự vệ,
đẩy mạnh binh vận,
từng bước làm tàn giác quân cao đải
do chính quyền Sài Gòn dừng lên.
Chiến lược bí mật và bất ngờ do bà đề ra
đã mang lại hiệu quả cao,
mở rộng vùng giải phóng một cách thần tốc.
Đến năm 1970,
trước biến động ở Campuchia,
căn cứ kháng chiến đứng trước nguy cơ bị bảo vệ,
nước tầng ấy nhanh chóng
triển khai thế phòng ngựa chặt chẽ.
Thậm chí không chờ chỉ thị,
bà đã chủ động nhận trách nhiệm chiến đấu,
thể hiện tinh thần quả cảm,
dám quyết đoán trong giấu phút hiểm nghèo.
Nhờ sự tin tầng ấy,
Bộ Chủ yếu cho toàn quyền trị đạo
phối hợp tác chiến với các đơn vị chủ lực
của khu vực.
Khi quân Mỹ vây kín biên giới,
bà cùng Chủ tịch Huynh Tân Phát
đưa hàng nghìn cán bộ rút lùi an toàn
giữa mưa bom lửa đạn.
Nhờ chiến thuật chỉ huy đầy tài tình,
lực lượng ta không những phá vỡ vòng vây chặt chẽ
của địch, mà còn bất ngờ
chuyển thế phòng thủ sang tấn công,
dành quyền kiểm soát toàn cục trên chiến trường.
Một trung đội dưới quyền bà
đã lập chiến công hiển hách,
tiều diệt 3 xe tăng,
bắn rơi 2 máy bay trực thắng,
bảo vệ vững chắc đầu não kháng chiến.
Năm 1992, Nguyễn Thị Đình
rời xa nhân thế, nhưng tinh thần
bất khuất và hình ảnh vị tướng huyền thoại
vẫn mãi in sâu trong trái tim dân tộc.
Bà không chỉ là
biểu tượng của lòng dũng cảm,
mà còn là minh chứng sống đồng
cho sức mạnh của người phụ nữ Việt Nam
trên hành trình giải phóng đất nước.
Và nếu như Nguyễn Thị Đình đại diện
cho bản lĩnh sắt đá nơi tuyến đầu kháng chiến,
thì Nguyễn Thị Bình
chính là ánh sáng kiên cường giữa đấu trường quốc tế.
Không mang vũ khí,
không xông phà nơi mưa bom bão đạn,
nhưng từng câu nói,
mỗi quyết định của bà
đều khiến công đồng quốc tế phải dè chừng
và kính trọng.
Vì thế, cũng chẳng quá lời khi gọi
đây là nữ tướng trên mặt trận ngoại giao
của dân tộc.
Nguyễn Thị Bình, tên thật là Nguyễn Thị Châu Sa,
sinh ra tại vùng đất Sa Đéc.
Bà là cháu ngoại của nhà
chỉ sĩ yêu nước nổi tiếng Phan Châu Trinh.
Dù từng học tại Lý Sì Sì Sâu Oát,
ngôi trường danh giá ở Đông Dương,
cô gái trẻ 17 tuổi năm ấy
lại chọn quay về quê hương,
hòa mình vào phong trào cách mạng.
Gia nhập đảng vào năm 1949,
bà nhanh chóng trở thành cán bộ nòng cốt,
kiên định trên con đường giải phóng dân tộc.
Thời gian sau đó,
nữ chiến sĩ bị mật thám Pháp bắt giữ,
giam tại nhà tù Trí Hỏa,
trả tấn dã man nhưng không hề khuất phục.
May mắn được ra tù sau đó,
bà lập tức bắt tay vào công việc,
tiếp tục phụng sự
trong Hội Liên Hiệp Phụ Nữ Việt Nam.
Đến tháng 12 năm 1960,
mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam được thành lập.
Một năm sau,
Ban Thống Nhất đề cử bà tham gia
hoạt động ngoại giao,
nhưng với một cái tên khác để giữ bí mật.
Đúng là để bạn bè quốc tế dễ đọc.
Thế rồi, bí danh Nguyễn Thị Bình
bắt đầu xuất hiện trên khắp
các diễn đàn thường thuyết trên thế giới.
Từ năm 1962,
bà đã đi khắp Nam Châu,
vận động phong trào phản chiến,
kết nối bạn bè quốc tế.
Đến cuối năm 1968,
khi chiến tranh Việt Nam
bước vào giai đoạn càm gò.
Nguyễn Thị Bình được cử làm trưởng
đoàn mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam,
tham gia đàm phán Hiệp định Paris.
Ngay đặt chân đến Pháp,
bà xuất hiện giản dị mà nổi bật.
Áo dài hồng sẫm, khăn troàng đen,
ánh mắt kiên định giữa mở đồng lạnh giá.
Dày phốt người phụ nữ
vóc dáng nhỏ nhắn,
thân thái tự tin, bước đi đính đạc
đã khiến cả Hội Trường Sơn xao.
Ngay tại phòng danh dự,
bà cất giọng rõ ràng,
trình bày 5 điểm giải pháp
của mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam.
Khi một phóng viên quốc tế đặt câu hỏi khó
nhằm thử thách bản lĩnh của người chiến sĩ cách mạng,
bà có phải là đảng viên cộng sản?
Nguyễn Thị Bình bình thản đáp,
tôi là đảng viên
của đảng nhiều nước.
Lời phản hồi ngắn gọn nhưng thấu đáo
đến mức khiến cả đối phương
phải im lặng vì nề phục.
Suốt 4 năm đàm phán,
bà kiên trì đầu lý, giữ vững lập trường
bất chấp mọi áp lực trên bàn cờ chính trị.
Khi ấy,
mỗi tuần, phái đoàn của ta đều
phải bước vào huynh nghị Kleber như ra trận,
dù chẳng có súng đạn,
nhưng đầy nguy hiểm.
Dù vậy, Nguyễn Thị Bình
với tài tranh luận sắc xào,
cùng lời nói mềm mại, từ tốn,
đầy khí chất, đã chinh phục hoàn toàn dư luận.
Giữa vòng vây
của các đại diện ngoại giao cứng rắn,
bà một mình xoay chuyển thế cờ,
khiến báo chí phương Tây gọi hình ảnh ấy
như là người khiêu vũ giữa bảy sói.
Giới sư trì đạo của Nguyễn Thị Bình
đã còn tích cực kêu gọi quốc tế
gặp gỡ lãnh đạo,
tổ chức meeting phản chiến.
Tại Ấn Độ, khẩu hiệu
chúng ta là Việt Nam vàng khắp đường phố.
Hay thậm chí
ở nước nước châu Mỹ xa xôi, Cuba.
Thủ tịch Fidel Castro còn tuyên bố
Vì Việt Nam,
Cuba sẵn sàng dâng cả máu của mình.
Có thể nói,
bà là tiếng nói của nhân dân,
là cánh chim báo tin thắng lợi cho quê hương.
Cuối năm 1972,
khi Mỹ điên cuồng ném bom Hà Nội,
người phụ nữ ấy vẫn giữ nụ cười
nghị lực tại Paris,
mặc dù trong lòng thắt lại vì lo cho gia đình.
Đến đúng ngày 27 tháng 1
năm 1973,
bà đặt bút ký vào bản hiệp định Paris,
văn kiện lịch sử chấm dứt chiến tranh Việt Nam.
Không một viên đạo,
không một chiến hảo,
nhưng kết quả ấy đến từ trí tuệ,
từ bàn lính, từ trái tim yêu nước cháy bỏ.
Trước đó,
người Mỹ từng chế giữa bà chỉ là nội trợ.
Nhưng sau cùng,
chính họ phải cay đắng thừa nhận rằng,
mình chẳng khác nào những lọ gia vị
trong căn bếp ấy cả.
Cho đến tận ngày nay,
Nguyễn Thị Bình vẫn mãi là tượng đài bất tử
của nơi ngoại giao cách mạng Việt Nam,
một vị trí mà chưa ai có thể thay thế.
Và không chỉ dương ở thời hiện đại,
khi quay ngược lại dòng trời lịch sử,
ta cũng thấy được hình ảnh
của những nữ tướng kiên cường,
hoài phong, cầm giáo xuống trận,
dũng cảm đánh tan
quân xâm lực phường Bắc.
Có thể kể đến nữ đô đốc Bùi Thị Xuân,
đó hoa thép xứ bình định,
hiền ngang giữa đất trời,
chiến đấu đến cùng vị đất nước.
Được thừa hưởng dòng máu hiệp nghĩa
từ người cha,
Võ tướng Bùi Đác Trí,
ngay từ khi còn nhỏ,
cô gái trẻ này đã ma một khí phách đặc biệt.
Không mạn mà theo vá,
cũng chẳng tha thiết phấn son.
Bùi Thị Xuân chỉ đam mê những câu chuyện
nữ anh hùng sông pha trận mà.
Khi lên 12 tuổi,
trong một lần bị bạn bè chê bai ở trường,
bà tức tức bỏ học
và quyết tâm luyện võ đến khi thành tài.
Từng chuyện nhiều đêm liền,
có một lão nhân bí ẩn đến chuyển dạy võ công
cho thiếu nữ ấy từ hoàng hôn
đến lúc gà gái.
Chỉ sau 3 năm, khi chỉ mới 15 tuổi,
bà đã khiến cả vùng nề phục
bởi bản lĩnh xuất thần.
Nhờ vậy đã có rất nhiều phụ nữ
đến nhà họ bùi để học kiếm.
Trong đó có thể kể đến đội nữ
chiến binh lẫy lửng, ngũ phụng thư
khiến bao kẻ thù khiếp vía.
Không những vậy, bùi Thị Xuân còn có
năng khiếu đặc biệt là huấn luyện vòi rừng.
Trong một lần lên chợ Phú Phong,
khi bà đến gần
2 con vòi đang ăn chuối,
chúng bất ngờ tỏ vẻ thân thiện,
thậm chí ngoan ngoát nâng người phụ nữ lên cổ
khi nhận được hiệu lệ.
Giới sư chỉ huy của nữ tướng tài ba này,
đội quân chiến tượng đã được huấn luyện
bất khả xâm phạm.
Vì lý tưởng phùng sự cho Giang Sơn đất nước ấy,
đến 20 tuổi,
bà chưa lập gia đình.
Cho đến một ngày, Bình Bành đưa bùi Thị Xuân
gặp tráng sĩ Trần Quang Diệu
khi người này đang vật lộn với mảnh hồ giữa rừng.
Chỉ lớn gặp nhau,
giới sư tác thành của Nguyễn Nhạc,
họ kết nghĩa vợ chồng
thề nguyện sống chết cùng Tây Sơn.
Khi quân siêm tràn sang,
vua Thái Đức Phái Nguyễn Huệ
và Trần Quang Diệu xuất trình,
bà lập tức xin theo.
Trong trận dạch gầm xoài mút,
tướng địch là Lục Cổn
dẫn thủy quân vượt sông Tiền Giang,
định chém mít họ.
Bị phục kích giữa lòng sông,
chúng còn do dự trước khi phản ứng,
thì một bóng ao giáp cưỡi voi sông dài như vũ bão.
Đó chính là bùi Thị Xuân.
Thân pháp thân tốc,
thể kiếm uy lực,
bà chém rơi đầu chỉ huy địch giữa trận mưa tên giáo.
Quân siêm vỡ trận,
bỏ chạy tán loạn.
Trên tháng giữa ấy,
đã khắc tên nữ danh tướng vào sự sách.
Sau khi thống nhất Nam Bắc,
bà được lệnh trấn thủ Phú Xuân,
bảo vệ hậu phương cho triều đình.
Thế rồi, bi kịch lại bất ngờ
ập đến khi vua Quang Trung đột ngột qua đời.
Chính quyền dần rơi vào tay giàn thần.
Nguyên ánh nhân cơ hội
kéo quân này chiếm Kinh Đô,
buộc khoang tộc phải tháo chạy về phương Bắc.
Bùi Thị Xuân
dẫn đoàn tự bình hộ giá
bằng rừng vượt suối,
đảm bảo an toàn cho vua cảnh thịnh.
Dù thời thế đổi thay,
bà vẫn tiếp tục chỉ huy
các trận đánh giữ đất giữ người.
Tại Lũy Trần Ninh, nước tướng
đã dẫn đầu 5.000 quân lính
từ thủ từ đêm đến chiều,
không phút nào lùi bước.
Đại Nam thực lục ghi chép rằng khi ấy,
quân Tây Sơn giao tranh suốt từ canh dần đến giờ mùi.
Hàng trăm người thương vong,
nhiều tướng đảo ngũ.
Dù thế trận bất lợi,
Bùi Thị Xuân kiên quyết giữ vững thành lũy,
chiến đấu đến giọt máu cuối cùng.
Ngay cả khi Quang Toản
lùi về Bắc Hạ, bà vẫn ở lại
Nghệ An, dốc lòng tổ chức lại lực lượng.
Biết tin trọng bị bắt,
người vợ kiên trung ấy lập tức
dẫn quân lên đường giải cứu.
Thậm chí khi Trần Quang Diệu hay Trần Sương Phù
thiệt sức, bà đã cống trồng
vượt núi, tự mình mở đường máu thoát thần.
Nhưng cuối cùng,
cả hai đã bị bắt về Phú Xuân.
Trên đường gấp dài,
Võ Bàn Dũng đã đào thoát được,
nhưng bà không nỡ bỏ chồng,
hiền quyết ở lại cùng nhau đối mặt
với cái chết.
Theo chỉ dụ của Nguyễn Ánh,
Bùi Thị Xuân bị diễu qua chợ,
nhưng chẳng mùa đai dám hé nhìn,
cả phố xá đều chìm trong nghiêm lặng.
Sau đó, cả gia đình bà bị hành hình
trước mặt vua để giàn đè.
Dù bị ép quy lệ,
họ vẫn hiên ngang, đầu ngằng cao,
mắt không run sợ.
Giận dứt tột độ, Nguyễn Ánh
truyền lệnh thảm sát hai con tìn để thị uy.
Sau cùng đến lượt nữ đô đốc
đối diện với hình phạt màn dợ.
Bà bị trói nằm ngựa trên cỏ,
chờ hồi chống bó tử lệnh.
Vòi chiến được thúc tiến đến.
Ngay lúc chân nó dơ lên,
một tiếng thét như sấm đồng vang trời
khiến con vật khoảng loạn lùi bước.
Người điều khiển này thúc,
vòi vẫn đứng như bất động.
Mũi giáo đâm vào sườn,
cũng không dám tiến.
Nguyễn Ánh nổi cơn điên,
ra lệnh thi hành án điểm thiên đăng.
Ngay khi ngọn lửa bùng lên,
cũng là một lúc mây kéo về,
trời chuyển đen, sấm vàng rội,
mưa như trút.
Cả đất trời dường như thương sót
cho bậc nước kêu hùng ngã ruộng.
Dù tần xác bị đốt thành trò,
hào khí của bà
mãi lưu danh sự sách
như ánh lửa soi đường hậu thế.
Có thể nói, lịch sử ngàn năm giữ nước
chẳng thiếu các vị anh hùng kiệt xuất.
Nhưng khi phải chọn ra
những cá nhân khai sinh do tinh thần tự chủ
của dân tộc, thì không gì xứng đáng hơn
hai bà Trường.
Trường Trắc, Trường Nghị là chị em sinh đôi,
là con gái của Lạc tướng huyện Mê Linh
thuộc dòng dõi Hùng Vương.
Mặc dù một cô cha sớm,
nhưng vẫn được mẹ quan tâm nuôi dưỡng,
dạy cho nghề trồng râu, nuôi tắm,
thấm nhuận lòng yêu nước,
nhưng cũng rèn luyện sức khỏe và võ nghệ.
Sau khi trưởng thành,
Trường Trắc kết duyên với Thị Sách,
con trai Lạc tướng Chu Diên,
một vùng đất kề cận Mê Linh.
Hai dòng dõi cao quý và vững mạnh ấy
cùng bắt tay tạo thành
một liên minh nhiều nước, vùn đáp cho
cuộc khởi nghĩa chưa từng tỏ trong lịch sử
do hai người phụ nữ dẫn đọc.
Khi ấy đất nước ta rơi vào ách đô hộ
của chính quyền phường Bắc, và mâu thuẫn
xã hội ngày càng trở nên sâu sắc.
Chúng áp đặt những chính sách thu thuế nặng nề,
áp bức dân làng một cách tàn bạo,
khiến nỗi cam hận trong lòng người dân
dân cao. Tô Đình là
thái thú giao chỉ, hắn nổi tiếng
với sự máu lạnh và ngang ngược,
đã ra tay sát hại thí sách nhằm
dập tắt mầm mông kháng cử.
Nhưng anh đồng ấy chỉ càng thổi bùng lên
ngọn lửa cảm phẫn. Nỡ nước,
thù nhà, chứng chắc cùng
em gái quyết trí dựng cờ khởi nghĩa.
Từ cửa sông Hát Môn,
nơi sóng nước vọng
lời thề thiêng liêng,
phong trào đấu tranh đầu tiên của dân tộc
dưới sự lãnh đạo của hai nữ tướng đáp phất
lên giữa trời xuân năm 40 sau
Cổng Nguyên. Háo khí
của đất mê lĩnh hội tụ,
lòng dân bừng cháy khắp giao trị.
Từ miền xuôi đến vùng núi,
từ các bộ lạc xa xôi đến những thành
trí cũ của Âu Lạc.
Tất cả nhất loạt hưởng ứng lời hiệu
triệu đánh đuổi ngoại xâm.
Bắt đầu từ Hát Môn,
Nguyễn quân sông thẳng vào căn cứ hạ lôi
của bọn đồ hộ. Rồi nhanh chóng
tiến công vào cứ điểm trọng hiếu như
Tây Vu, Cổ Loa. Tiếp đó
là vượt sông Đuống, đánh thẳng vào
đại bản doanh ở Lùi Lâu.
Thứ thế, chỉ trong đầy
2 tháng chấp nhoáng, thần tốc
vào băng rội. Toàn bộ 65
quân huyện đều được giải phóng.
Giặc Tháo Trại không kịp trở thành.
Hai thú Tô Đình cũng khốt khoảng
trốn về phương Bắc. Chưa từng
có một cuộc khởi nghĩa nào trong lịch sử nước Việt
được tổ chức quy mô, khí thế
sôi sụp và thành công rực rỡ đến vậy.
Giới sự lãnh đạo của 2
người phụ nữ, cả một dân tộc
đã cùng nhọc cuộc khởi, đánh tan
siền sích nô lệ, giành lại đất nước
non sông.
Giữa mùa hè rực lửa năm canh tí,
Trừng Chắc được toàn quân suy tôn lên làm vua
lấy hiệu là Trừng Nữ Vương,
thiết lập chính quyền độc lập tại Mê Linh,
hồ hương linh thiêng của các vua hùng.
Trừng Nhị được phong làm
bình khôi công chúa, cùng chị mình
trấn hưng quốc sự, giữ vương giang sờ
mới giành lại. Trừng Nữ Vương
không chỉ là vị tướng thao lược,
mà còn là bậc minh quân biết lắng nghe
lòng dân. Vừa lên ngồi
vì bà đã ban chiếu đại xá, miễn thuế
trong 2 năm, cùng cố niềm tin
của môn người, khẳng định vai trò
của một chính quyền vì dân, vì nước.
Tuy nhiên, tự do chưa
bao giờ là dễ dàng có được,
dù vừa thất bại trước cuộc khởi nghĩa
của dân ta. Nhưng những kẻ xâm lược
vẫn không từ bỏ ý đồ chiếm đóng vùng đất
rào trầu rầu có.
Vào năm 42, Hoàng đế Hán Quảng Vũ
từ một viên tướng lão luyện từng
chiến đấu qua vô số trận mạc là Mã Viện
chỉ huy một đạo quân hùng mạnh
tràn xuống miền Nam.
Địch mạnh, quần đông và đức trang bị
đầy đủ, trong khi phía ta
lại thiếu thốn đủ bể.
Mà dù vậy, hai bà Trưng không hề nào núng,
quyết chiến một mất một còn để
bảo vệ mạnh đất tự do mà họ đã dành lại được.
Tại Lãng Bạc,
trận đấu quyết liệt vàng rồi đã bùng lên.
Tuy nhiên, trước sức mạnh áp đảo,
phân thắng dần nghiêng về phía quân xâm lược.
Không thể chống cử
trong lâu dài, hai bà Trưng quyết định
rút lực lượng về Cấm Khê,
nơi có địa thế hiểm trở,
hy vọng tạo ra thế phòng thủ bựng chắc.
Tuy nhiên, sau những tháng
ngày chiến đấu gian khổ, quân đội đã
cạn kiệt sức lực, lòng người giao động.
Cuối cùng, để giữ vững
khí tiết và quyết không để rơi vào tay kẻ thù,
Trưng Trắc và Trưng Nhị
đã gieo mình xuống dòng sông Hát.
Lịch sử có thể lùi xa,
thời thế có thể đổi thay,
nhưng ánh hào quàng của những
vị nữ tướng kiệt xuất vẫn
mãi đậm trong lòng dân tộc.
Họ là đỏ hoa thép,
vừa rực rỡ, vừa kiền cường,
làm nên một chương quá khứ
không thể nào quên.
Để rồi hôm nay, mỗi khi nhắc đến hai tiếng nữ tướng,
chúng ta dù là ai,
ở đâu, đều có thể tin rằng
trong dòng máu mình
vẫn luôn bùng cháy một ngọn lửa yêu nước
chừa bao giờ tắt.