Những Vụ Án Oan Sai Chấn Động Lịch Sử Việt Nam | Nước Nam Truyền Kỳ Tập 2
Giữa chốn hoàng cung tưởng như thấm đẫm ánh sáng công lý, lại có những bóng tối khiến lịch sử phải rùng mình. Bốn vụ án oan sai nổi tiếng nhất phong kiến Việt Nam – từ Nguyễn Trãi bị tru di tam tộc, Thái sư Lê Văn Thịnh bị vu hóa hổ mưu sát vua, đến bi kịch oan khiên của Đỗ Kính Tu và Nguyễn Văn Thành – không chỉ là nỗi đau của cá nhân, mà còn là lời cảnh tỉnh cho hậu thế về mặt tối của quyền lực. Ai là kẻ thao túng công lý? Vì sao trung thần lại trở thành tội đồ?
👍 CD Media - Khám Phá là nơi mở ra cánh cửa tri thức về những bí ẩn, câu chuyện kỳ thú và những hiện tượng chưa được giải đáp trong thế giới xung quanh chúng ta. Dựa trên việc tham khảo các nguồn thông tin phong phú và đa dạng, kênh kết nối những kiến thức và quan điểm khác nhau, giúp khán giả có được cái nhìn sâu sắc và toàn diện hơn về những bí mật từ tự nhiên, khoa học, vũ trụ, con người,….
Giữa những bức tường cung điện nguy nghi, nơi lẽ ra công lý phải ngữ trị,
lại có nhiều vụ án khiến cả thiên hạ bảng hoàng.
Không chỉ là một mạng người bị tức đoạt, mà cả danh dự gia tộc,
thậm chí vận bệnh quốc gia cũng bị cuốn vào vòng xoáy tàn nhớn của mưu mô và phạt chắc.
Hàng trăm năm đã trồi quản, nhưng sự thật vẫn còn phải mở.
Ai là kẻ thao túng sự thật?
Hàng loạt bản án nghiệt ngã kìa liệu có thể đảo ngược?
Và những oan hồn chưa siêu thoát đến bao giờ mới được trả lại công bằng?
Nhắc tới những vụ án oan sai nổi tiếng nhất lịch sử Việt Nam,
chúng ta không thể bỏ qua cái tên Lệ Tri Viên năm 1442.
Ngày 27 tháng 7 âm lịch năm đó, Vua Thái Tông khi đi tuần về miền Đông
đã ngự thăm nơi ở của Nguyễn Trãi tại chùa Côn Sơn.
Nhưng chỉ vài ngày sau, vào đêm 4 tháng 8,
nhà vua Đồn Ngột Băng Hà khi nghỉ tại Lệ Tri Viên xá đại lại ven sông Thiên Đức.
Cái chết Đồn Ngột ấy đã kéo theo tài họa khủng khiếp ráng xuống gia tộc Nguyễn Trái.
Ngay lập tức, ông cùng phu nhân Nguyễn Thị Lộ bị buộc tội xác hại vua.
Xác chỉ chu di tam tộc nhanh chóng được bàn ra.
Nhưng khi nhìn lại toàn bộ vụ án, có rất nhiều chi tiết rất đáng ngờ.
Vào thời điểm đó, Thái Tông vốn là bậc quân vương trẻ trung, khỏe mạnh, không hề mắc bệnh trước đó.
Việc Băng Hà quá đột ngột làm giấy lên nghi ngờ rằng có kẻ đứng sau giàn dựng kế hoạch hãm hại.
Một số giả thiết đã ra rằng vua có thể đã bị đầu độc
hoặc ám sát nhằm phục vụ lợi ích chính trị của thế lực nào đó.
Đồng thời giai đoạn này, nơi bộ triều đình vô cùng dối ghen
do tranh chấp ngôi đông cung thái tử giữa các phi tần.
Khi ấy, thần phi Nguyễn Thị Anh đã hạ sinh hoàng tử Bang Cơ và được phong làm thái tử.
Nhưng cùng lúc, tiệp dư Ngô Thị Ngọc Giao cũng mạng thai.
Lại còn được đôn rằng từng năm mộng thấy kim đồng thiền tử ráng trần,
điềm báo sinh ra bậc quân vương kiệt xuất.
Lo sợ vị thế của con trai bị lung lay, Nguyễn Thị Anh đã tìm cách loại trừ đối thủ.
Bà buông những lời rẹm pha khiến Lê Thái Tông ra lệnh đẩy tiệp dư Ngọc Giao khỏi kinh thành.
Khi ấy, Nguyễn Trái được triệu về kinh làm giám khảo khoa thị tiến sĩ,
chứng kiến cảnh hoa nước của vị công phi ấy.
Không đành lòng trước sự bất công, ông lên tiếng xin nhờ vua suy xếp lại,
giúp bà thoát khỏi số phận lưu đầy mà chỉ bị trục xuất.
Nhờ sự che trở của Nguyễn Trái cùng phụ nhân, Ngọc Giao đã an toàn sinh ra hoàng tử tử thành.
Nhưng cũng từ đây, vợ chồng ông trở thành cái gai trong mắt Nguyễn Thị Anh.
Bà ỡ bù mối thù sâu sắc, chờ cơ hội trả đũa.
Thậm chí, con có nhiều bằng chứng buộc tội về vị phi tần này.
Tiêu biểu như trong Đinh Tộc Ngọc Phả, Đinh Liệt từng viết một bài tờ vào tháng 11 năm 1441,
sử dụng lối chơi chữ để ấn dấu bí mật hoàng tộc Lê Sơ.
Ông ám chỉ rằng, nhân Tông chỉ mới 6 tháng đã ra đời, không phải con ruột của Thái Tông.
Lời cáo buộc này tiếp tục xuất hiện trong một bài thơ khác vào năm 1442,
trong đó Hoàng quan Đinh Thắng khẳng định có bằng chứng cụ thể.
Từ đó, vụ án Lệ Trị Viên được cho là một mũi tên chúng hai con nhạn,
giúp Nguyễn Thị Anh vừa có được quyền lực, vừa tiêu diệt được cái gai trong mắt.
Tuy nhiên, có một số nguồn tài liệu lại khẳng định,
thân phi Nguyễn Thị Anh không hề nuôi lòng oán hận Nguyễn Trãi.
Sau khi vua Lê Thái Tông băng hả, bà nắm quyền nhiếp chính,
khổng những không truy bức phi tần Ngọc Giao,
mà còn phong làm sung viên, giao nhiệm vụ trồng còi thái miếu.
Hoàng tử Tư Thành cũng được phong Bình Nguyên Vương,
đưa về Kinh Sư để học tập, chăm sóc, không khác gì con ruột.
Các văn bia thời Thánh Tông, Hiến Tông đều nhắc đến Nguyễn Thị Anh với sự đánh giá cao,
hoàn toàn không xem bà như một cung phi hiểm độc đầy thù đoạn.
Thậm chí chính quang thuộc Thái Hậu Ngô Thị Ngọc Giao cũng có lời khen tuyên từ Thái Hậu,
cùng với hai vị tiên hậu của hai chiều trước, khuôn đẹp tiếng hay nêu cao trong trời đất vậy.
Bên cạnh đó, cũng còn có tư liệu khẳng định về mối quan hệ bất chính có thực
giữa bà Nguyễn Thị Lộ và vua Thái Tông,
khiến người ta nghi ngờ rằng nhà vua qua đời là do thự mã phòng.
Thế nhưng nếu xét về tuổi tác,
khi ấy Nguyễn Thị Lộ đã ngoài 40, còn nhà vua mới chỉ 21, giả thuyết có phần khiến cửa.
Hơn nữa trong chuyến tuần du, hàng chục cùng nữ trẻ chung đi theo,
khó có khả năng nhà vua lại gần gũi một người lớn hơn mình nhiều tuổi như vậy.
Nhưng chưa dừng lại ở đó, trong dân gian,
người ta vẫn lan truyền câu chuyện đầy vô lý rằng
Bà Lộ là khóa thân của một loài rắn tu luyện hàng trăm năm,
màng mối oán hận với họ Nguyễn, vì thế mới nhúng tay vào thảm kịch tru di ba đời.
Sau tất cả, ai là kẻ đứng sau bí kịch tầy trời này vẫn là bí ẩn, chưa có lời giả.
Nhưng nỗi oán khuất của Nguyễn Trãi chỉ được dỡ sạch sau 22 năm,
khi Lê Thánh Tông đang cơ.
Nhà vua đã để lại một câu thơ như lời minh ngoan cho vị trùng thần
Lòng ngức trai, sáng tựa sao khỏe.
Câu thơ ấy như ánh sáng, xua tan bóng tối nhiệt ngã,
trả lại danh dự cho bậc hiền tài bị hàm oán.
Nếu như vụ án lệ trì viên đã cướp đi bậc đại công thần như Nguyễn Trãi
vì những âm mưu chính trị trong công đình,
thì trước đó hơn 300 năm,
Triều Lý cũng từng chứng kiến một vụ đại án trấn động khác về Thái sư Lê Văn Thịnh.
Bây giờ, vào năm 1096,
vua Lý Nhân Tông đang cho thuyền ngự ra Hồ Dâm Đám
thưởng ngoạn phong cảnh và quan sát dân trùng đánh cá.
Bật trợt,
có màn xương dây đặc bao phủ mặt hồ,
trẻ khuất tầm nhìn.
Trong khung cảnh mờ ào ấy,
tiếng treo khua nước đột một văng lên ruột rập.
Linh cảm có điều chẳng lành,
nhà vua lập tức cầm ráo phóng mạnh để tiếng phát ra âm thanh lạ.
Chỉ trốc lát sau,
gió cuốn tan màn xương,
cảnh vật dân hiện ra rõ ràng.
Trên chiếc thuyền trôi rập rành giữa hồ,
không phải là bóng dáng người treo lái,
mà là một con hồ dữ tợn,
nhen anh, dưỡng vút.
Tất cả các quan thị vệ theo hầu
đều kinh hãi đến tái mặt.
Trong lúc hoảng loạn,
mục thận,
một ngư dân có mặt gần đó,
nhanh chí quăng lưới trục lên còn mãnh thú.
Đến lúc ấy mọi người mới bàng hoàng nhận ra,
đó không phải hồ,
mà chính là quan thái sư Lê Văn Thịnh,
đại thần quyền cao chức trọng của triều đình.
Nhưng tại sao một đại thần là người trần mắt thịt,
lại có thể hóa vật,
rồi tấn công nhà vua như vậy?
Từng truyền trước đó,
Lê Văn Thịnh từng nuôi gia nô người đại lý,
Vân Nam.
Kè này nằm giữ thuật huyền bí,
có thể hóa tân thành hổ báo
khi đọc thần chú.
Sau thời gian dài quan sát,
thái dư cố gắng học lên bí thuật ấy.
Đến khi đã linh hội điều phép này,
ông Lập Mưu giết gia nô
nhằm giữ kín bí mật.
Sau đó,
vị đại thần dây công bày kề ám sát
nhà vua địch tiếm quyền.
Đánh giá về vụ án này,
các giới sư học cho rằng,
hóa hổ giết vua là chuyện khoang đường.
Thái sư Lê Văn Thịnh bị hoàn
và nguyên nhân của nó vẫn là bí ẩn
chưa có câu trả lời rõ ràng.
Đặc biệt,
có một điều đáng ngờ hơn nữa là
vì sao kẻ bị buộc tội mưu phản
lại chỉ bị đầy mà không sự tự.
Các bậc học già hậu thế
đưa ra nhiều giả thuyết để lý giải điều này.
Một số nhà nhò đời sao cho rằng,
vì chiêu lý chịu ảnh hưởng sâu sắc của Phật giáo,
nên vua Lý Nhân Tông
đã lấy từ bi mà tha mạng cho cứu Đại Thần.
Thoạt nhìn, lập luận ấy có vẻ hợp lý.
Xong, nếu đối chiếu với các vụ án chính trị khác dưới thời Lý,
đặc biệt là việc Hoàng Thái Hậu Ý Lan
từng ra tay trừ khử Hoàng Thái Hậu Thượng Dương vào năm 1973,
hay sau này,
triều đình Lê Thánh Tông
thẳng tay xử tử những kẻ mưu phản như Tô Hậu, Đỗ Sùng,
thì lập luận trên lại trở nên phiến diện.
Hơn nữa, từ năm 1971,
nhà Lý đã ban hành bộ luật quy định rõ
về tội thập ác,
trong đó tội nhân mưu phản không có con đường nào khác
ngoài án tử hình.
Đáng nói hơn, vào năm 1106,
khi lệnh Đại xá Thiên Hạ được ban ra,
tất cả phạm nhân đều được khoan hồng,
ngoại trừ kẻ phản nghịch.
Vậy, nếu lòng nhân tư là nguyên nhân chính,
thì tại sao chỉ có Lê Văn Thịnh được hưởng đạo gân này?
Xét về bối cảnh đương thời,
vị thái sứ họ Lê không chỉ nằm giữ quyền lực tối thượng,
mà còn là bậc trí thức kiệt xuất,
từng làm thầy dạy của Hoàng đế.
Sau khi đổ đầu khoa thi năm 1075,
ông được giao nhiều trọng trách quan trọng trong chiều chính.
Thậm chí sau khi được phong thái sư vào năm 1085,
ông còn tiến hành nhiều cải cách trọng đại,
từ việc tổ chức thi tuyển nhân tài vào Hàn Lâm Viện năm 1086,
cải cách hệ thống quan chức vào năm 1089,
cho đến việc chỉ định lại sổ ruộng,
thu tô vào năm 1092.
Vào vầy là một nhân vật vừa có tài thao lược,
vừa nắm quyền khuyên đảo chiều chính như ông,
tất nhiên sẽ trở thành cái gai trọng mắt của nhiều bè phái.
Không thể lại trừ khả năng vụ án hóa hổ
chỉ là man kích được dựng lên
nhằm hạ bệ vị đại thần đầy thế lực.
Nhưng nếu quả thực Lê Văn Thịnh có giã tâm đoạt ngồi,
thì vì sao sau vụ án
không ai trong chiều đình bị quy vào tội đồng lõa?
Lẽ nào cuộc mẫu phản có thể được tiến hành chỉ bởi cá nhân đơn đồng?
Bậc trí giả lỗi lạc có thể coi là người dưới một người
trên vạn người như Lê Văn Thịnh.
Lẽ nào không lương trước được hậu quả nếu thất bại?
Bên cạnh nhiều tố chính trị,
có thể vụ án còn phản ánh sự xung đột
giữa hai hệ tư tưởng lớn lúc bấy giờ.
Lê Văn Thịnh, đại diện cho thế lực trí thức nhỏ học,
chắc chắn không tránh khỏi va trạm
về nhóm tôn giáo theo đạo Phật,
đứng đầu là Thái hậu Ý Lan.
Phải biết rằng vào thời điểm ông giữ trước Thải sư,
chính là lúc phe còn lại bắt đầu dành phần lớn thời gian
vào việc xây dựng Chùa Triền, tiêu tốn ngân khấu khổng lồ.
Với cương vị đầu chiều,
hẳn Lê Văn Thịnh đã có nhiều động thái phản đối
khiến cho bản thân bị đặt vào vòng nguy hiểm của chính trưởng.
Một điều đáng chú ý khác là tâm lý bất an
của vua Lý Nhân Tông khi ấy.
Trải qua nhiều năm, Ngài không có con trai nổi rõi.
Điều này khiến Hoàng đế dễ bị lung lay
bởi hàng loạt lời giảm phà.
Khi tin đồn về việc Lê Văn Thịnh
nắm giữ tào thuật lan truyền trong khung cấm.
Chỉ cần man kịch tinh vi
cộng với lòng đa nghi của một đế vương
cũng đủ biến công thần thành kẻ mưu phản.
Đến tầng ngày nay,
dù lý giải theo cách nào,
thì vụ án hơn nghìn năm trước
vẫn mãi là một trong những bí ẩn
chưa có lời giải đáp trọn vẹn.
Chờ dừng lại ở đó,
cũng chính trong thời kỳ nhà Lý Thịnh Trị.
Vì đế sư đã phò tá ba đời vua Đỗ Kinh Tù
đã vướng vào vòng lao lý án oan đầy nhiệt ngát.
Vậy chuyện gì đã xảy ra?
Đỗ Kinh Tù là một bậc đại thân trung nghĩa,
không chỉ am từng kinh thư,
mà còn là vị quân sứ tài trí
tận tụy giữ vững chiều cường.
Thời kỳ Lý Cao Tông trị vì
khi chiều đình đã ngày càng suy yếu,
trình ông đã ra sức giúp nhà vua ổn định thế cuộc,
chống trọi trước những biến loạn nội bộ.
Tuy nhiên, chính sự trung nghĩa và liêm trình ấy
đã khiến ông trở thành cái gai trong mắt phe quyền thần.
Sau khi Lý Cao Tông băng hạ,
Lý Huệ Tông lên ngôi giữa bối cảnh rối rèn.
Chiều đình chia thành hai phe.
Một bên là các đại thân trung thành như Đỗ Kinh Tù,
một bên là nhóm gian thần làm le thảo tống vương quyền,
đứng đầu là Đạm Dĩ Mông.
Nhân thấy Đỗ Kinh Tù là trường ngại lớn nhất
trong kế hoạch thầu tóm quyền lực.
Kẻ tà hác này đã cung bê đảng 70 hãm hải,
nhằm đẩy ông và con đứa chết.
Khoảng thời gian ấy,
nguyên làng Hậu Ái vốn là vùng đất trũng,
mùa mưa thường xuyên ngập lùi,
khiến hàng trăm mẫu ruộng phải bỏ hoang.
Đỗ Kinh Tù đã đứng ra thương lượng
với các làng lần cận,
lấy ruộng riêng của mình Đền Bù
để khai thông dòng chảy.
Nhờ đó, cánh đồng hoang hóa
biến thành nơi cho nâng suất cao
với hai vụ lúa,
đem lại lợi ích cho muôn dân.
Sòng Đạm Dĩ Mông đã bẻ công sự thật.
Vũ Kháo là ông Đào Hào luyện binh
âm mưu tạo phản,
lợi dụng đường thủy chuyển quân
để cướp ngôi vua.
Chúng còn dừng thêm tội danh rằng
Đỗ Kinh Tù từng dung túng cho Nguyễn Phì Làng,
một thủ lĩnh cầm quân khởi nghĩa
chống lại Triều Thần tại Đại Hoàng.
Người này vốn là bế tối trung trực,
từng tố cáo Đạm Dĩ Mông tha mô,
bóc luật dân chúng.
Khi vua không lắng nghe,
Phì Làng đã tiến hành chiêu binh
chống lại Triều Định.
Đỗ Kinh Tù được cử đi dẹp loạn,
nhưng khi hiểu rõ được sự tình,
ông đã chỉ giao chiến tượng trưng rồi lưu quân.
Chuyện ấy bị bọn gian thân xuyên tạc
thành bằng chứng phản nghịch.
Những cáo buộc trồng chất
được dâng lên Lý Huệ Tông,
một vị vua non trẻ, tính tình hoang tàng.
Không ngừa người thấy nghiêm khắc này,
nên đã nghe theo lời giảm phá
kết tội chết cho Đỗ Kinh Tù.
Biết không cách nào rửa sạch hàm hoan,
bực Trung Nghĩa chọn lấy cái chết
để minh chứng.
Người đã cùng một kẻ thân tín
cưới ngựa trắng đến Bến Trẻm,
rõng rạc thề nguyện.
Nếu thực mang tội,
dòng nước sẽ cuốn phằng tất cả.
Bằng không, đất trời xoài xét,
để thân sắc chẳng chìm
mà vẫn nổi cùng triển mã.
Lời vừa dứt,
Đỗ Kinh Tù điêm nhiên rục ngựa
lao thẳng xuống dòng sông.
Điều la lung liên hiển hiện.
Thay vì chìm nghiêm,
cả người lẫn bạch má bồng bềnh trên mặt nước,
chẳng hề rời nhau.
Chứng kiến cảnh tự kỳ dị,
báo tánh kinh hái,
tình trắc nối oan là có thật.
Ngay lúc ấy,
bầu trời kinh sư bỗng đen kịt,
gió gào bão thét như trút
giận cho kẻ chịu hoan hức.
Tiếng đồn làn xa,
đến khi Lý Huệ Tông thay tin,
lòng vua cũng dấy lên hoài nghi về phản quyết của chính mình.
Tuy nhiên,
đàm dĩ mông cùng phe cánh
đã nhanh chóng bừng bít sự việc,
khiến thu án chìm vào quyền lã.
Không chỉ Đỗ Kinh Tù chịu hoan khuất,
mà cả những người phụ nữ Bền Hồng cũng gặp kết cục bị thảm.
Hay tin phu quân bị kết tội,
ba chính thất và các thị thiếp
chọn cái chết để giữ trọn trùng trinh,
tứ trôn mình tại quê nhà hậu ái.
Cảm thương trước câu chuyện,
dân làng lập đền thơ trên gò đất,
gọi là Mã Nàng,
như một biểu tượng bất diệt của lòng trùng nghĩa.
Sau cái chết của Đỗ Kinh Tù,
đàm dĩ mông tiếp tục nắm quyền,
nhưng thời thế đã thay đổi.
Chiều Trần trôi dậy nhanh chóng,
kẻ gian bị lật đổ,
chấm dứt một thời kỳ ưu ám.
Người đời truyền rằng
linh hồn vị trung thần chưa siêu thoát.
Những điện rồng báo,
ngư dân vẫn thấy bóng tướng quân cưới bạch mã,
lạng lẽ hướng về kinh thành,
như đòi lại công lý đã mất.
Và cứ thế,
lịch sử có thể phai mở,
nhưng nối oan ấy vẫn vang vọng,
cành tình muôn đời về quyền lực
và bi kịch của Bậc Trung Liện.
Cuối cùng không thể không nhắc tới vụ á noan của Nguyễn Văn Thành
vào năm 1817.
Quan thần này là một trong những
khai quốc công thần kiệt suốt của Triều Nguyễn,
đã tận trùng phò tá Nguyễn Phúc Ánh
suốt nhiều năm trinh chiến gian khổ.
Thậm chí khi Vương Triều mới chính thức thiết lập,
ông vẫn được trọng dụng
giữ chức Tổng trấn Bắc Thành,
nắm quyền cai quản vùng đất chiến lược của quốc gia.
Thế nhưng địa vị cao
không giúp ông tránh khỏi sóng gió
tuôn chính trưởng,
nơi mà lòng đối kỵ với những âu mưu hiểm đồng
có thể nhấn chìm ngay cả bậc trung thần lỗi lạc nhất.
Kẻ thù nguy hiểm nhất
của Nguyễn Văn Thành trong triều đình bấy giờ
chính là Lê Văn Duyệt.
Trước đây, người này chỉ là một viên tướng dưới quyển,
nhưng đã nhanh chóng vươn lên thang tiến,
trở thành thế lực ngang hàng với ông.
Sự khác biệt về tuổi tác,
tính cách và qua điểm chính trị,
dân tích tụ, cả khiến mâu thuẫn
giữa hai người trở nên gai gắt hơn.
Một sự việc từng trường nhỏ nhạt,
nhưng lại trở thành khởi nguồn của mối hiểm kết kéo dài.
Trong lần trước khi ra quân,
Nguyễn Văn Thành có ý định
muốn rót rượu mời Lê Văn Duyệt
để tăng thêm khí thể chiến đấu.
Nhưng người kia lại từ chối thẳng thừng
và buông lời cay đầu.
Ông Duyệt cho rằng, chỉ ai nhát gan
mới phải mượn rượu để đối phó
với giọt mạnh trước mắt.
Câu này ấy không chỉ thể hiện sự ngang ngược,
mà còn là một nhát sao cứa vào lòng tự trọng
của vị Tổng chấn.
Kể từ đó, phe cánh trong triều ngày càng
phân hóa rõ rệt. Kẻ thì ủng hộ
Nguyễn Văn Thành, người thì lại đứng
về phía Lê Văn Duyệt.
Trong đó, Nguyễn Hương Nghi
từng là môn khách dưới tướng Tổng chấn Thành
sau khi phạm tội,
đã bỏ trốn vào phía Nam nương nhờ
thế lực khác. Biết đây là
người rảo hoạt, Lê Văn Duyệt liên
trọng dụng, giao cho chức thiêm
sự hình tả.
Dưới trướng còn có Nguyễn Trương Hiệu,
cũng hiểm độc, mưu mô không kém.
Chúng cùng nhau lập mưu trả thù Nguyễn Văn Thành
bằng cách cài người vào phủ đệ
của Nguyễn Văn Thuyên là con trai của ông.
Thế là Nguyễn Thương Hiệu đã
Một ngày đó, trong lúc cao hứng,
Nguyễn Văn Thuyên làm bài thơ mang hơi hướng
ngồng ngành, rồi nhờ tên Giano này
chuyển đến bạn bè ở Thành Hóa.
Trong đó có câu
Nhưng sau đó Nguyễn Thương Hiệu không chuyển bài thơ
đến đúng địa chỉ, mà bí mật
giao cho Nguyễn Hiệu Nghi, kẻ này lập tức
đưa nó lên Lê Văn Duyệt.
Chỉ với mấy câu thơ tưởng trưng
vô thường vô phạt của mấy thanh niên
trẻ người non dạ, mà một âm mưu
thâm độc đã được bày ra, nhằm
đánh gốc hoàn toàn Nguyễn Văn Thành.
Tàu sở tố cáo phản loạn
liên tiếp được dâng lên triều đình.
Vào năm 1816,
Gia Long giao cho Lê Văn Duyệt
trực tiếp thẩm trà vụ án.
Khi đó, thế lực ganh ghét càng có
cơ hội vu khống theo dè tội danh.
Một trong những lời cáo buộc
trắng trận nhất là việc Nguyễn Hiệu Nghi
ăn trộm ấn tín của Lê Văn Duyệt
rồi vu cho Nguyễn Văn Thành làm chủ mưu.
Nhưng Gia Long
nhận ra sự phi lý và bác bỏ cáo buộc này
đồng thời xử chết
vì tội vu cáo.
Tuy nhiên, điều đó không giúp
Nguyễn Văn Thành rửa sạch oan khuất.
Bọn gia thần thù địch vẫn tiếp tục bồi thêm
những lời tổ cáo khác, khiến vua Gia Long
ngày một lung lạnh.
Áp lực từ phe cánh
trong chiều ngày càng lớn, đẩy Nguyễn Văn Thành
vào tình thế không còn đường lui.
Ông bị giam lỏng trong phủ, chờ
ngày xét xử. Dù đối diện
với nguy hiểm, Nguyễn Văn Thành vẫn tin rằng
lòng chung nghĩa sẽ giúp bản thân
thoát khỏi tài ương. Nhưng mà
hy vọng đều vụt tắt khi
Hoàng Công Lý, một kẻ thân tín của phe đối địch
đến gặp ông và thốt lên rằng
vụ án đã định.
Nhà vua đã bắt bầy tôi chết,
bầy tôi không chết thì không phải trung thẳng.
Lời ấy như rát rào ráng xuống
buộc Nguyễn Văn Thành phải đưa ra
quyết định cuối cùng.
Biết rằng không thể giải bầy nỗi hoan,
ông làng lẽ uống thuốc độc tự vẫn,
chấm dứt cuộc đời trong nỗi hạ mòn tột cùng.
Chỉ đến khi người đã mất,
sự thật đau lòng mới được phơi bầy.
Trong phù đệ của Nguyễn Văn Thành,
lính canh tìm thấy một bức di chiếu.
Trong đó ông khẳng định lòng trung thành
tuyệt đối với gia lòng và
vạch trần những âm mưu hãm hại mình.
Khi bức di chiếu được chỉnh lên,
nhà vua bật khóc giữa triều đình,
than thở rằng bản thân đã
không đủ anh mình để bảo vệ trung thẳng.
Vụ án Nguyễn Văn Thành
khép lại trong nỗi thương tiếc
và bộ mặt của kẻ đứng sau
vẫn chưa được phơi bầy ra ánh sáng.
Những oan khuất trồng chất trên đây
là minh chứng đau đớn cho
sự hiểm ác nơi diều chính,
nơi mà lòng trung thành đôi khi
chẳng thể chống lại âm mưu thầm động.
Và chỉ với một lời nói vô tình,
cũng đủ đại bậc công thần
vào cùng đường tuyệt lộ.