NGƯỜI CÓ MẮT ÂM DƯƠNG TẬN THẤY HẮC BẠCH VÔ THƯỜNG ĐI BẮT HỒN NGƯỜI CHẾT TRƯỚC ĐỘNG ĐẤT

Kỷ Nguyên Mới
410 người theo dõi
177 Lượt xem video·23 thg 8, 2025
Đây là câu chuyện có thật xảy ra trong trận động đất 921 vào năm 1999 tại Đài Loan.
Cơn dư chấn kinh hoàng khiến người dân nơi đây vẫn còn sợ hãi sau 18 năm trôi qua.
Một giờ 47 phút ngày 21 tháng 9 năm 1999 tại Đài Loan xảy ra một trận động đất 921,
hay còn gọi là cơn địa chánh GG 773 độ Richter.
Toàn bộ hòn đảo Đài Loan đều cảm nhận được sự dung chấn nghiêm trọng và liên tục trong 102 giây.
Trận động đất khiến 2.415 người thiệt mạng, 29 người mất tích và 11.305 người bị thương.
Tổng cộng 51.711 căn nhà bị sụp đổ và 53.768 căn nhà bị hư hỏng.
Không những gây ra thương vong về người, nhiều tuyến phú và các công trình cầu cậu tại Đài Loan cũng bị phá hỏng nghiêm trọng.
Vào năm xảy ra, trận động đất lịch sử tại Đài Loan đã từng xảy ra không ít những điều kỳ dị mà bình thường chúng ta không thể tưởng tượng được.
Có người rõ ràng đang ở trong căn nhà đã bị sụp đổ của mình mà vẫn bình an vô sự,
như có thần Phật đang âm thầm che chở cho họ.
Lại có những người nhìn thấy hắc bạch vô thường và hàng loạt quỷ thần trước trận động đất, nơi mà sau đó có vô số người chết.
Vậy cụ thể họ xuất hiện như thế nào?
Thì ngay sau đây, khuyên khán tính giả của Đông Tây Kim Cổ hãy cùng Mai Ly nghe những lời chia sẻ của những nhân chứng sống dưới đây nhé.
Nhìn thấy hắc bạch vô thường chuẩn bị bắt người trước trận động đất
Mỗi khi một đại kiếp nạn sắp xảy ra với con người thế gian, trời đất quỷ thần đều sẽ biết trước sự việc.
Tường truyền một người trước khi chết là đã có tên trong sổ sinh tử của riêng vương.
Và hắc bạch vô thường chính là người hộ tống các linh hồn trở về địa ngục.
Trên các trang mạng xã hội của Đài Loan có chia sẻ một câu chuyện về một người có cặp mắt âm dương tên là Lâm Tiên Sinh.
Vào đêm xảy ra trận động đất 921 tại Đài Loan, ông đã nhìn thấy hắc bạch vô thường và rất nhiều quỷ thần qua lại.
Vào ngày xảy ra trận động đất 921, ông Lâm tới một xã ở Đài Trung thăm bạn.
Bởi bạn bé lâu ngày không gặp và đang cao hứng trò chuyện, ông ở lại nhà bạn tới nửa đêm mới đứng dậy đi về.
Chính vào trước khi chuẩn bị rời khỏi khu vực đó, đột nhiên ông nhìn thấy hắc bạch vô thường cùng gần 200 quỷ thần đang tiến vào cổng chính của xã đó.
Trong tay mỗi người đều mang khóa và dụng cụ tra tấn, nét mặt vô cùng nghiêm túc, đáng sợ.
Trong lòng ông Lâm khi đó trượt nghĩ, những quỷ thần này chỉ khi tới bắt người hoặc bảo hộ con người mới được phép xuất hiện.
Tối nay đột nhiên họ lại tràn tới nhân gian nhiều thế này, chẳng nghĩ ở đây sắp xảy ra đại nạn gì chăng?
Nửa giờ đồng hồ sau khi ông Lâm rời đi, ở xã đó đã xảy ra động đất làm sụp đổ 4 tòa nhà 11 tầng và có 76 người tử vong.
Khu vực xung quanh cũng có hơn 40 người tử vong, tổng cộng toàn xã có hơn 100 người thiệt mạng.
Sau khi xảy ra trận động đất, ông Lâm mới biết rằng hóa ra hắc bạch vô thường và những quỷ thần đó đã biết trước tình hình,
vậy nên đến đó để sắp đặt bố trí trước vừa để bắt giữ những vòng hồn đã có trong danh sách, đồng thời bảo hộ những gia đình thiệt lương nhân đức.
Vị bác sĩ hành thiện được thần Phật bảo hộ.
Vào ngày thứ ba sau trận động đất 921 Kinh Hoàng tại Đài Loan, từ trong đống xì mằng cốt thép đã bị biến dạng méo mó của tòa nhà đông thế ở Đài Trung,
các nhân viên tổ cứu nạn đã cứu sống được ông Trung Vĩnh Tường, vào giây phút được cứu sống khỏi đống đổ nát.
Không những sắc mặt của ông Tường rất bình tĩnh, mà thân thể của ông vẫn ở trong tình trạng rất tốt, không hề bị say sát.
Có một điều đáng ngạc nhiên hơn, đó là ông không những không bị phù bởi màu bụi đen của đống hoàng tàn, mà thậm chí có thể gọi là tương đối sạch sẽ.
Sau khi được cứu sống, ông Tường đã chia sẻ với mọi người một cuộc gặp gỡ.
Một cuộc gặp gỡ mà tất cả những người được tận tài lắng nghe đều coi là thần kỳ.
Ông Tường là người Quảng Đông tới thuê nhà trọ và làm việc tại Đài Loan.
Có một lần, người bà con xa của ông từ Quảng Đông tới Đài Loan thăm gia đình ông.
Trước khi về quê, ngoài nói lời cảm ơn vì sự nhiệt tình ân cần của gia đình ông, người bà con còn đặc biệt sẵn sò.
Phòng khách nhà ông thật mát mẻ, ngủ rất thoải mái. Nếu có điều kiện, ông hãy thử ra ngủ đó một lần xem sao.
Bình thường, ông Tường vẫn ngủ trong phòng ngủ. Đúng vào hôm xảy ra trận đậu đất, vợ ông tới Đài Trung thăm con trai.
Lúc này, nhớ tới lời người bà con nói hôm nào, ông liền thử thay đổi, mang chăn gối ra phòng khách ngủ xem cảm giác ra sao.
Vào đúng khi đang ngủ say, bỗng nhiên ông cảm giác như trời đất đào ngược, căn nhà thuê của ông như muốn đổ xuống,
buông bức tường nhà như bị thứ gì đó đè nén, sắp bị đổ vỡ gụt.
Và vào đúng thời khắp đó, bỗng nhiên ông nhìn thấy mấy người toàn thân phát ra ánh sáng vàng kim trói lóa,
trông giống như những vị thần phật trong bộ phim Tây Dô Ký nổi tiếng, đang dùng tay đỡ lấy những mảnh tường đổ sụt trên đầu ông.
Lại có mấy người khác đang áp sát tới người ông, cảm giác như họ đang dùng thân mình để bảo hộ che chở cho ông.
Ông tường rụi mắt liên tục như không dám tin vào mắt mình, ông vừa mở to mắt kinh ngạc vừa nghĩ.
Nửa đêm canh bà rồi, sao trong phòng mình lại có nhiều người như thế nhỉ?
Bất thỉnh lình ông hoàng hồn khi phát hiện xung quanh tối đen như mực, lên hỏi.
Xin hỏi các ngài là ai?
Và cố gắng dùng tay vẫy vẫy gọi những người mình vừa nhìn thấy, nhưng nhìn mãi, nhìn mãi, chỉ thấy dấu tích của họ dần xa mãi.
Lúc này, ông mới lần sờ sang bên cạnh mình rồi sợ tới hết hồn mặt mày tái mét khi phát hiện tường nhà đã siều vẹo sắp đổ
và ông đang ở trong khe hở nhỏ ở giữa.
Bởi là một người luôn một lòng tin tưởng thần Phật, lúc này trong đầu ông chỉ nghĩ một nhiệm,
vừa rồi chắc chắn là thần Phật đã bảo hộ và tới cứu mình.
Thế là ông cố gắng ngồi thẳng người, nhắm mắt nhất tâm niệm kinh Phật.
Ba ngày trôi qua, với một người bình thường khi đang ở trong đống nghệch ngói đổ nát
sẽ là cảm giác sợ hãi mệt mỏi khi cận kề cái chết, và chắc chắn sẽ có một cảm giác ngày tựa như cả năm.
Tuy nhiên, đối với ông Tường lại hoàn toàn trái ngược, nhớ lại cảm giác khi đó của mình, ông chia sẻ.
Khi đó tôi chỉ một lòng nhất tâm niệm Phật, hoàn toàn không chú ý bản thân mình đang ở đâu.
Trong lòng thấy vô cùng thanh thản và không có cảm giác cô độc, như đang có thần Phật che chở bên cạnh mình.
Cũng bởi luôn thành tâm niệm Phật, tôi mất đi khái niệm thời gian ngày và đêm.
Vậy nên, cảm giác mình được cứu ra khỏi đống đổ nát một cách nhanh chóng mà không hoảng loạn.
Sau khi được cứu sống, ông Tường mới biết toàn bộ tòa nhà nơi mình sinh sống đều bị vùi lấp trong đống gạch ngói.
Dù chỉ có một góc phòng khách của ông có khe hở, còn những gian phòng khác trong nhà ông đều đã bị san thành bình điện giống như cả tòa nhà.
Thường ngày, ông Tường vốn là một người thích làm việc thiện và yêu thương mọi người.
Ông cũng luôn đồng cảm giúp đỡ những bệnh nhân nghèo khổ gặp khó khăn.
Ông vốn là một bác sĩ đông y với y thuật cao siêu được mệnh danh là đại sư chăm cứu tại ba.
Hàng ngày, nếu có bệnh nhân nghèo tới khám chữa chăm cứu, khi biết ra cảnh của họ, ông đều điều trị và tư vấn miễn phí.
Cũng bởi hàng ngày, ông tích đức hành thiện luôn giúp đỡ người khác nên bản thân đắc được phục báo và được thần Phật bảo hộ thoát khỏi tai nạn như một kỳ tích.
Quả báo thương tâm cho đao phủ cuối cùng của Trung Quốc và câu chuyện kỳ dị ở Pháp Trường, Bắc Kinh.
Phụ nữ Trung Quốc thời xưa từng quan niệm thà lấy một kẻ ăn xin còn hơn nàm vợ của người bán thịt heo.
Lý do là vì làm nghề bán thịt thì phải thường xuyên giết mổ ra súc.
Họ lo sợ oán khí của những con vật bị giết sẽ thích tụ và làm hại đến gia đình.
Tuy nhiên, trong lịch sử vẫn còn một nghề nghiệp tệ hơn các nghề giết mổ ra súc khiến cho nhiều người khiếp sợ và xà lánh.
Đó chính là nghề đào phủ.
Quý vị thân mến, chúng ta đều biết rằng đào phủ là những người thi hành án nắm giữ sinh mệnh phạm nhân nơi Pháp Trường.
Nghề nghiệp này đã xuất hiện và tồn tại trong suốt mấy ngàn năm của lịch sử và các vương triều phong kiến.
Ở Trung Quốc, sau khi thanh triều diệt vong, nghề đào phủ mới hoàn toàn biến mất.
Thế nhưng, những giai thoại kỳ lạ có phần thần bí và đáng sợ của nghề đào phủ vẫn còn lưu truyền đến tận ngày nay.
Số phận của đào phủ cuối cùng của thời mãn thanh cũng chính là đào phủ cuối cùng của Trung Quốc đã trải qua như thế nào.
Tại sao nhiều người cho rằng ông ta đã bị quả báo đau đớn vì dám xem thường những điều cấm kỵ của tổ nghề đã để lại.
Quý vị hãy cùng mình được vé mở tấm màn bí ẩn ngay sau đây.
Tại Trung Hoa thời cổ đại, hầu hết các án tự hình đều thường áp dụng hình vạt chém đầu
mà những người trực tiếp thi hành án vạt đẫm máu này chính là những đào phủ chuyên nghiệp.
Đào phủ thời bấy giờ được xem là một nghề nghiệp hết sức thần bí bởi nhiều người cho rằng
những người làm nghề này đều thường xuyên giao tiếp với người chết.
Đó cũng là một trong những lý do mà cổ nhân xưa vẫn thường hết sức kiên kỵ đối với các đào phủ sống vào thời ấy.
Tường truyền rằng, nếu muốn trở thành một đào phủ chân chính,
người theo nghề này trước nhất phải đáp ứng hàng loạt tiêu chí khắt khe về phương diện đào pháp.
Đặc biệt, phàm là ai muốn luyện được đào pháp cao siêu thì phải tìm được người truyền dạy,
sau đó lại tiếp tục trải qua một quá trình huấn luyện nghiêm khắc.
Tới khi đã được trình độ đạt tiêu chuẩn thì mới có thể quàng minh chính đại bước ra pháp trường để hành hình.
Trong quá trình gian khổ ấy, hầu hết những người theo học
đều bắt đầu từ việc luyện tập chém dừa để xem có tiềm năng, tư chất hay không.
Phàm là ai không có thiên phú thì dẫu cho là có luyện tập cả đời cũng chẳng thể ra nghề nổi.
Cũng bởi vậy mà tỷ lệ đào tài của nghề đào phủ rất cao.
Tuy rằng số người chân chính muốn làm nghề này đã hiếm,
thế nhưng những người đủ tố chất, đủ kiên trì để trở thành một đào phủ chuyên nghiệp lại càng hiếm chỉ đếm trên đầu ngón tay.
Trừ dường đại ở đó, trong giới đào phủ thời cổ đại
cũng lưu truyền nhiều luật bất thành văn mà bất cứ ai cũng cần phải tuân thủ.
Ví dụ như khi hành hình, chỗ hạ đào phải là vị trí nhỏ nhất ở trên cổ phạm nhân
để giảm bớt đau đớn cho người bị chém đầu.
Trước khi lên pháp trường, tất cả các đào phủ đều phải mài đào thật kỹ.
Bởi loại đào mà họ dùng đều dễ dàng bị dì xét,
muốn giảm bớt thống khổ cho phạm nhân thì bắt buộc cần phải mài sáp.
Đặc biệt, điều đại kỹ nhất của nghề này là tuyệt đối không được chém đầu quá 100 người.
Vì vậy, khi đã chém đủ 99 thủ cấp, các đào thủ tuyệt đối không thể hành nghề thêm được nữa.
Đây vốn là quy củ của tổ nghề lưu đại bởi giới đào phủ tin rằng
nếu số lượng thủ cấp chém đầu vượt quá con số trên thì chắc chắn sẽ gặp báo ứng.
Thế nhưng, tới những năm cuối đời nhà Thanh, có một nhân vật đã cà gàn phá vỡ điều đại kỹ ấy.
Đó chính là Đặng Hải Sơn, có tài liệu ghi là Đặng Hải Sinh,
người hành nghề đào phủ cuối cùng của lịch sử phòng kiến Trung Hoa.
Báo ứng đau đớn của đào phủ cuối cùng trong lịch sử Trung Hoa
Về danh tính của đào phủ cuối cùng là Đặng Hải Sơn, hầu hết các tài liệu chính thống đều không ghi lại rõ ràng.
Chỉ biết rằng, ông cũng xuất thân từ một đào phủ chuyên nghiệp,
hành nghề vào những năm cuối đời nhà Thanh, khi vương chiều này đã sắp tới hồi mạt vẫn.
Năm 1914, chính phủ dân quốc đông thời ban bố quy định dừng ti hành án chém đầu
đổi phương thức hành hình bằng bắn súng.
Nhưng không phải địa phương nào cũng tuân thủ quy định này.
Chính vì thế, vào năm 1925, Đặng Hải Sơn khi ấy đã bước qua độ tuổi 60
vẫn tiếp tục công việc của một đào phủ.
Thậm chí, tờ Đại công báo được xuất bản ở Hồ Nam đã khẳng định
ông đã từng chém đầu tới hơn 300 người.
Một con số khiến ai cũng phải sật mình.
Đặng Hải Sơn đã sớm phạm phải đại kỵ của nghề đào phủ.
Chính vì vậy, ông ta luôn có nỗi sợ vô hình.
Bằng chứng là mỗi lần hành hình xong, trên con đường tư pháp trường trở về,
đào phủ khét tiếng này vẫn luôn đi thẳng mà không dám quay đầu lại.
Sau đó, khi về tới nhà môn, ông thậm chí còn nhờ nhà dịch
dùng thanh trúc đánh vào cầu bình, mục đích là để đánh tàn sát khí.
Trừ dừng lại ở đó, mỗi khi không hành nghề, Đặng Hải Sơn vẫn thương
an chai niệm Phật với mục đích tích công Đức, cầu bình an.
Cũng chính bởi đại ngộ nghề nghiệp này rất cao, nên đồng ý theo nghề này đến tận cuối đời.
Thường truyền rằng, vào thời điểm đó, mỗi đào phủ chém đầu một phạm nhân
có thể thu về bốn lượng bạc, con số bằng tiền tích cóp
của cả gia đình trong suốt một năm ròng giã.
Thế nhưng, vì cả đời gắn bó với một công việc quá đỗi giã man và đẫm máu,
những người xung quanh luôn coi ông là một kẻ đem đến điểm xui xẻo.
Về sau, Đặng Hải Sơn vẫn luôn sống trong cô độc.
Bạn bè năm xưa đều từ chối giao thiệp cùng ông.
Cũng chẳng có người phụ nữ nào tình nguyện lấy một kẻ đã từng làm nghề chém đầu người.
Cứ như vậy, đào phủ cuối cùng của lịch sử Trung Hoa
đã phải trải qua những năm tháng cuối đời trong cô độc dày dứt và ám ảnh.
Ông ra đi trong cảnh không gia đình, không con cái.
Ngày tới lúc chết, cũng chẳng có ai đưa tiễn hay lo mà chạy hương khói.
Giờ đây, mỗi khi nhắc tới kết cục của đào phủ họ nặng này,
không ít người vẫn cho rằng đó chính là báo ứng mà ông gặp phải
vì đã ca gan phạm vào đại kỵ của nghề đào phủ.
Chuyện kỳ dị ở Pháp Trường, Bắc Kinh
Trong một tiệm may nhỏ cách Pháp Trường Bắc Kinh, Thái Thị Khầu không xa,
có hai vợ chồng chuyên cắt khâu quần áo.
Công việc buôn bán của họ có doanh thu rất thấp, hầu như chỉ sống cầm cự qua ngày.
Hôm đó trời ấm u, nhìn không rõ, hai vợ chồng dọn dẹp cửa hàng,
đóng cửa cài then, ăn tối xong thì dọn giường, kê gối, tắt đen lên giường nghỉ ngơi.
Vào lúc nửa đêm, người thợ may trật giật mình tình giấc, lắng nghe âm thanh trong nhà.
Ông chậm rãi ngần đầu lên và mở mắt ra nhìn.
Ông vô cùng kinh hãi, có người đi lại trong nhà, lẽ nào là kẻ trộm?
Xét thấy vợ chồng đơn độc, gây ra sức yếu nên ông thợ may không dám bành động.
Ông nằm xuống giường nghỉ ngợi, mình là thợ may nhỏ bé,
trừ tấm vải với dao kéo ra, trong nhà không có vảng bạc, chầu báo gì,
chỉ có một hũ đựng nước và hai muỗng bột, không có gì thì hắn sẽ đi thôi.
Bóng đèn bên trong căn phòng sau khi quay một vòng thì rời đi.
Ngày hôm sau, hai vợ chồng dậy sớm dọn dẹp kim chì và chuẩn bị làm việc.
Tuy nhiên, họ phát hiện, chực giò đựng kim chì
và những sợi chì đặt bên trong cái soạt lớn tối hôm qua đã không cánh mà bay.
Tìm cách nào cũng không thấy.
Đúng lúc đang nghi ngờ, đột nhiên có tiếng la hét ngoài đường.
Người thợ may vội chạy ra xem.
Một nhóm người xung quanh pháp trường đang vây quanh sát chết,
phạm nhân bị chém đầu hôm qua và đang bàn tán.
Người thợ may chen vào đám đông để xem và sợ chết khiếp.
Ông chỉ nhìn thấy sát chết, mà đầu với phân thân,
không biết do ai đang sử dụng kim chì để khâu chúng lại với nhau,
trên cổ trăng chịt vết khâu vá.
Chiếc giỏ kim chì mất tích của ông nằm bên cạnh người chết.
Ông nhìn thấy bàn tay phải của người chết
đang giữ chặt một cây kim thép với sợ chì đen.
Người thợ may ngất xìu vì tróng mặt và sợ hãi.
Mọi người nhìn thấy và hiểu ra phần nào
nên phải người đưa người thợ may về nhà.
Sau đó, ông thợ may mắc bệnh hiểm nghèo.
Sau khi khỏi bệnh, ông đưa vợ đi nơi khác kiếm sống.
Những chuyện kỳ lạ như trên ở khu vực pháp trường Bắc Kinh
thời phong kiến không phải là hiếm.
Dài mã thời gian hành hình và miếng thịt sống
trong bát cơm của người tử tù.
Cổ nhân quan niệm rằng,
con người khi đến thế gian này vốn là không dễ dàng
cho nên lúc rời đi thì càng đang hoàng càng tốt.
Điều này đúng với những người bình thường trải qua sinh, lão, bệnh, tử.
Còn với những người đã phạm tội nặng phải tử hình
thì tại sao phải bị sự chảm bao giờ ngọ tam khắc.
Ngoài ra, trước khi chết họ sẽ được ăn một bữa thịnh soạn non e.
Đôi lúc trong những bón ăn còn có một miếng thịt sống.
Nhưng nguồn gốc sâu xa thật sự của tập tục này là như thế nào?
Người Trung Quốc cổ đại cho rằng, giết người là âm sự.
Dù cho người đó có bị trừng phạt đúng tội hay không
thì hồn ma của họ có thể sẽ quấy nhũ đào phù
và những người liên quan đến việc xử tử như phán quan, quan giám trảm, đào phù.
Vì thế, hành hình lúc dương khí thịnh nhất thì âm hồn sẽ bị trấn áp, không dám xuất hiện.
Đây là nguyên nhân chủ yếu người xưa quyết định hành hình vào giờ ngọ tam khắc
tức 11h45 buổi trưa.
Trước khi sự chảm, những tử tu này sẽ được một bữa ăn ngon.
Bữa ăn cuối cùng này được gọi là cơm đoạn đầu đài hay cơm tử dương.
Bữa cơm này ít nhất phải có hai món
thông thường là có thịt, dầu, cơm, bánh bao, đôi lúc còn có thêm một bình rượu nóng
để họ lặng lẽ lên đường trong cơn say.
Sở dĩ cho tử tu ăn nó là vì người xưa quan niệm không làm quỷ chết đói
cho nên vô luận người này đã phạm sai lầm gì thì lúc sắp chết cũng đều coi là trả nợ.
Nên hành động này cũng được tính là một loại thiện niệm đối với tử tu.
Vào thời nhà Minh nhà Thanh, cơm đoạn đầu đài có một chút đặc biệt.
Ngoài những bốn ăn được nấu chín
thì một miếng thịt sống cũng được đặt vào trong bát của tử tu trước khi bị hành quyết.
Vì sao vậy?
Tường truyền sau khi chết, linh hồn sẽ lìa khỏi xác,
bị quỳ hắc bạch vô thường dẫn đến âm tàu điệu phủ
rồi giao cho đầu châu Mặt Ngỡ áp giải đến thập điện Diêm Đà tiến hành xét xử.
Chỉ sau khi hồn bà hoàn thành những việc này
họ mới có thể đi trên cầu Noại Hà rồi tiến vào lục đạo
uống cành mạnh bà và đầu thai chuyển thế.
Tuy nhiên, trên đầu Noại Hà, ngoài mạnh bà ra
còn có một con chó hết sức hùng giữ, quỳ hồn một khi bị nó nuốt chừng
thì không thể đầu thai.
Vì vậy, Quản Ngục bỏ một miếng thịt sống vào bát của người tử tu
để người này sau khi chết đem xuống âm phủ cho con chó giữ kìa ăn.
Con chó khi có thịt sẽ không ăn những linh hồn kìa nữa.
Như vậy, tử tu cũng không phải gặp cành hồn phi phách tán, thống khổ nữa.
Đầu thai chuyển thế cũng dễ dàng hơn.
Chuyện trừ ba diệt quỷ trong ngôi chùa Hoàng ở huyện Đông Triều.
Hôm ấy, ước chừng nửa đêm, thừa lúc mọi người đã ngủ say
người thợ săn họ bèn gión rén bước ra khỏi huyện lị.
Khi đến phía tây cầu Ván, bấy giờ trời tối lờ mở, trăng khuya chưa mọc
chợt thấy có mấy người hình thể to lớn, ớn hở từ giấy đồng đi lên.
Người thợ săn ấy bèn lần vào chỗ quất
rồi dình để xem họ sẽ làm trò gì.
Một lát, thấy họ thò thay khoáng xuống một cái ao
rồi bất cứ vớ đực cá lớn cá nhỏ đều bò vào mồm nhai nuốt ngấu kiến.
Thấy vậy, người thợ săn liền dương cùng lắp tên
bắn luồn mấy phát, tiền bay trúng hai người.
Quý vị và các bạn thân mến, câu chuyện diệt quỷ trừ mà ở huyện Đông Triều
được trích từ danh tác Chuyền kỳ mạng lục của tác giả Nguyễn Dữ
sẽ tiếp tục diễn biến sang sau.
Ngay sau đây, Minh Đức và Đông Thầy Kim Cổ xin kính mời quý khán thính giả
cùng theo dõi.
Chuyện kể rằng, vào đời nhà Trần, tục tin thần quỷ chẳng đâu là không có.
Các đền chùa miễu mạo được dân dàn xây dựng khắp các phủ huyện,
vùng đồng bằng châu Thổ Bắc Bộ
như Chùa Hoàng Giang, Chùa Đông Cổ, Chùa An Sinh, Chùa An Tử,
Chùa Phổ Minh, Quán Ngọc Thành, v.v.
nhiều không kể xiết.
Thỏa bấy giờ, những người cắt tóc làm tăng lạc ní
gần như nhiều bằng nửa số dân thường.
Nhất là vùng huyện Đông Triều, này thuộc Quảng Ninh,
sự sùng thượng, lễ bái lại càng tấp nập.
Chùa triên dựng lên, làng lớn có đến hơn 10 nơi,
làng nhỏ cũng chừng 5, 6,
bao ngoài bằng rào lũy,
tù trong bằng vàng son,
phàm người đau ốm,
chỉ tin theo ở sự cầu cũng hư vô.
Cặp các tuần tiết, thì đàn trang cũng bái rất là nhộn nhịp.
Thần Phật xem chừng cũng ứng dáng,
nên câu gì được nấy,
linh ứng lạ thường.
Bởi vậy, người dân càng kính tin,
không dám ngạo mạn.
Chùa Hoàng miếu lạnh, ma quỷ hoành hành.
Đến đời vua giản định nhà Trần,
bình lửa quanh năm,
đền chùa miếu bạo nhiều đời bị đốt phá.
Số chùa triên còn lại,
10 phần không còn 1,
mà cái số còn lại ấy,
cũng mưa bay gió chuyển,
đổ ngã xiêng nghiêng,
tiêu điều đứng dũ,
ở giữa áng cỏ hoang bội rậm.
Sau khi giặc ngô rút lui,
dân làng trở về phục nghiệp.
Có viên quan là Văn Từ Lập,
đến nhậm chức tri huyện Đông Triều,
thấy những cảnh hoang tàn đổ nát,
bèn hiệu lệnh dân đinh các xã,
đánh tranh kên nứa,
mà sửa chữa lại ít nhiều.
Lại nói,
Văn Từ Lập giữ chức ở huyện ấy,
được 1 năm,
thấy dân quanh huyện khổ,
về cái nạn trộm cáp,
từ gà lợn,
ngàn ngỗng,
đến cá trong ao,
quả trong vườn,
phàm cái gì có thể ăn được,
đều bị mất hết.
Từ Lập than rằng,
ta ở vào địa vị 1 viên quan tri huyện,
không có cái mình,
để xét ra kẻ gian,
cái cứng,
để chế phục kẻ ác,
vì mềm yếu,
mà hòng việc,
chính là cây lỗi tại ta.
Xong Từ Lập cho rằng,
những đám trộm cáp vật ấy,
cũng không đến nỗi là đáng lo ngại lắm,
đến chỉ lệnh cho các thôn dân,
đêm đêm phải canh phong cân mật.
Trong khoảng 1 tuần,
tuy việc tuần phong hết sức nghiêm mật,
nhưng những việc trộm cáp vật,
cũng vẫn diễn ra như trước.
Lâu dần thành thói quen,
càng không thấy lũ trộm kiêng sợ gì cả.
Đến nỗi,
lại vào bếp để khoáng hũ rượu của người ta,
vào buồng để gẹo vợ con của người ta.
Khi mọi người đổ đến vây bắt,
thì kẻ gian đã biến đi đằng nào mất,
chẳng thấy gì cả,
từ Lập cười mà nói.
Thế ra,
lâu nay,
ta vẫn ngờ oan cho lũ kẻ trộm.
Kỳ thực,
đó là loài ma quỷ,
hừng yêu tác quái đó mà thôi.
Những sự quấy dối bấy này,
đều do bọn này cả.
Nói rồi,
đi mời khắp các thầy phụ thủy cao tay,
xin bùa trấn yêm.
Xong,
càng rán bùa trừ yêu,
sự quấy nhiễu càng tệ hơn trước.
Từ Lập cả sợ,
cho họp dân thôn lại bàn rằng.
Các người khi trước,
vẫn thơ Phật rất là kính cần.
Lâu nay,
vì việc binh hòa,
mà đèn hương lễ bái không chăm,
cho nên yêu nghiệt hoành hành,
mà Phật không cứu giúp.
Này sao,
chàng đến chùa kêu cầu với Phật,
tưởng cũng là một cách giải khai,
may có thể giúp ích cho mình.
Mọi người bèn đi đốt hương lễ bái
ở chùa triền,
khấn rằng.
Lũ chúng sinh con,
kính nhờ thần Phật,
quỷ y đã lâu,
hết lòng trong cầy ở Phật Pháp.
Này mà quỷ nổi lên,
quấy nhiễu dân chúng,
họa hại,
cả đến loài lục sốt.
Vậy mà Phật ngồi nhìn im lặng,
chẳng cũng tử bi qua lắm ư.
Cúi xin mở lượng xót thương,
ra uy trừng phạt,
khiến thần người chẳng lẫn,
dân vật đều yên,
hết thầy chúng sinh,
Sông loạn lạc vừa yên,
sinh kế chưa khôi phục được.
Tất gỗ mảnh ngói,
khó lòng xoay sờ vào đâu.
Đợi khi chúng con làm ăn dầu có,
sẽ lại xin sửa lại chùa triền,
đến công đức ấy.
Đêm hôm ấy,
trộm cắp hoành hành,
lại vẫn giữ hơn trước.
Từ lập chẳng biết làm sao được,
lại nghe Vương Tiên Sinh
ở huyện Kim Thành,
là người giỏi bói theo kinh dịch.
Bèn đến bói một quẻ xem sao.
Vương Tiên Sinh,
bói rồi,
nói rằng,
cưỡi trên ngựa tốt,
mặc áo vài xanh,
túi da tên thiết,
đích thị người thân.
Lại dặn rằng,
ông muốn trừ được nạn ấy,
sáng ngày mai,
nên ra phía tà cửa huyện,
đi về phương Nam.
Hẹ thấy người nào ăn mặc như thế,
mang sách như vậy,
quyết là người ấy có thể trừ hại được,
nên cố thình mời,
dù từ chối,
cũng đừng nghe.
Hôm sau,
từ lập cùng các phụ lão,
theo đúng lời của Vương Tiên Sinh,
đều ra ngoài cổng thành,
để trông ngóng xem.
Những kẻ đi người lại đầy đường,
chẳng thấy ai giống như thế cả.
Trời đã xế chiều,
ai nấy chán nạn,
sắp muốn bỏ về.
Bỗng đầu,
có một người từ trong núi đi ra,
mình mặc áo vài,
đeo cùng cưỡi ngựa.
Mọi người cùng chạy ra phục lại,
ở phía trước mặt.
Người ấy ngạc nhiên hỏi nguyên do,
mọi người cùng kể rõ tâm nguyện của mình.
Người ấy cười ma rằng,
Các ông sao mà quá tin và bói toán đến như thế?
Tôi từ nhỏ làm nghề săn bắn,
mình không rời yên ngựa,
tay không rời công tên.
Hôm qua nghe nói,
ở núi An Phụ,
có dâu giống béo,
thỏ tốt,
nên này định đến đề săn.
Nào có biết lập đàn thầy Pháp,
bắn ba vô hình,
là công việc thế nào đâu?
Từ lập nghĩ bụng,
người này,
tất là một vị Pháp đàn cao tay,
vì không muốn đổi tiếng,
về thuật bùa chú,
sợ bị băng lụy vào thân,
để mới đến giờ,
trong trốn núi khe.
Giống mình ở thú chơi cung mã,
bên nhất định,
cố bời cho kỳ được.
Người kia xem chừng không thể từ chối,
phải gượng theo lời.
Từ lập mời người ấy về huyện,
cho ở trong nhà công quán,
giường chiếu màn đệm,
đều rất sang trọng,
sân sóc kính cần,
như một vị thần minh.
Người ấy,
nghĩ riêng rằng,
họ tiếp đải kính cần,
đối với ta thế này,
chỉ vì cho là ta có tài trừ quỷ.
Nhưng thực,
thì ta chẳng có tài gì,
về sự đó.
Thế mà đi hưởng,
sự tiếp đải của người,
sao cho đành tâm.
Nếu không sớm,
liệu trốn đi,
thì có ngày,
sẽ phải chịu xấu hổ.
Giết quỷ,
trừ ma,
dân gian,
yên ổn.
Hôm trước,
ước chừng nửa đêm,
thừa lúc mọi người đã ngủ say,
người tợ săn họ,
bén gión dén,
bước ra khoài huyện lị.
Khi đến phía tây cầu ván,
bấy giờ trời tối lờ mờ,
trăng khuya chưa mọc.
Chợt thấy,
có mấy người hình thể to lớn,
hớn hở từ giấy đồng đi lên.
Người tợ săn ấy,
bèn lần vào chỗ khuất,
ngồi dình,
để xem họ sẽ làm trò gì.
Một lát,
thầy họ thò tay khoáng xuống một cái ao,
rồi bất cứ vớ được cá lớn cá nhỏ,
đều bỏ vào mồm nhai nuốt ngấu nghiến.
Đoạn lại,
nhìn nhau cười,
mà nói rằng,
những con cá còn ăn ngon lắm,
nên ăn dẻ dạt mới thấy thú.
Há tràng hơn,
những tước hương hoa nhạt nhẽo,
mà dân tình họ thường dâng cúng chúng mình ư.
Đáng tiếc,
là đến bây giờ,
chúng mình mới được biết những món ngon này.
Một người khác nói,
chúng mình thật to đầu má dại.
Bấy nay,
bị người đời chúng nó lừa dối,
ai lại đi nhận vài ba cái oản,
một vài bỏng gạo để lấp cái bụng nặng nghìn cân,
mà đi giữa cửa cho chúng nó bao giờ.
Nếu không có những buổi như ngày hôm nay,
mà cứ trường chay mãi như trước,
thì thật là một đời sống uổng.
Kẻ khác lại nói,
tôi xưa nay vẫn ăn đồ mặn,
không phải ăn chay tịnh như các ông.
Nhưng hiện giờ,
dân tình nghèo kiết,
chúng đó chả có gì để cúng bái mình.
Bụng đói miệng thèm,
đã trải một thời gian lâu lắm,
không biết mùi thịt cá là cái gì.
Chẳng khác chi,
Đức Khổng Tử ở nước Tề,
ba tháng không được đụng đến miếng thịt.
Xong đêm nay,
trời dép nước lạnh,
khó lòng ở lâu chỗ này được,
chỉ bằng lên quách vườn mía
mà bè vài mươi cây ăn tạm.
Nói rồi,
họ dắt nhau đi lên mờ,
vào vườn mía nhổ trộm,
mà tước mà ăn.
Người thợ săn này,
đứng ngồi nuốt một chỗ,
lên giường cùng đáp tên.
Thình lệnh bắn ra mấy phát,
trúng ngay được hai người.
Bọn giàn kêu ấm ớ mấy tiếng,
rồi ô chạy cả,
chạy chừng độ mười mấy chục bước,
đều mờ khuất hết.
Xong lúc đó,
còn thấy có tiếng loáng nhoáng máng nhau.
Đã bảo ngày giờ không tốt,
thì đừng nên đi,
không nghe lời ta,
bây giờ mới biết.
Người thợ săn thấy vậy,
kêu réo hồ hoán ấm ị lên.
Dân làng quanh đấy giật mình tỉnh dậy,
cùng đốt đèn tháp đuốc,
chìa nhau mỗi người đi đuổi mỗi ngà.
Họ xoài thấy vết máu vấy trên mặt đất,
bên theo dấu vết đi về phía tây.
Chừng hơn nửa dặm,
đến một cái chùa hoang.
Đi vào thấy hai phò tượng hồ Pháp
xìu xìu dẹo dẹo trong chùa.
Trên đừng mỗi tượng,
đều có một phát tên cám vào sâu lắm.
Mọi người đều lắc đầu le lưỡi,
cho là một sự lạ,
sự này chưa có bao giờ.
Dân chúng liền bào nhau,
đầy đồ hai phò tượng đất.
Trong lúc ấy,
còn nghe thấy có tiếng nói rằng.
Vẫn tưởng kiếm cho nò bụng,
ai ngờ phải đến nát thân.
Nhưng bày ra mưu này,
là tự lão thủy thần kia.
Hắn là chủ mưu,
mà được khỏi nạn.
Còn chúng ta theo hắn,
mà phải chịu vạ,
thật cũng đáng phà nạn lắm.
Cười thợ săn và dân chúng nghe vậy,
bên sai người đến miếu thủy thần.
Thấy phò tượng đắp bằng đất,
bỗng nhiên biến sắc,
mặt tái đi như tràm đồ.
Mấy cái vài cá,
hãy còn dính lém nhém trên mép.
Dân chúng thấy vậy,
bên súng lại phá hủy luôn cả phò tượng ấy.
Kể từ bấy giờ,
việc trộm cáp,
quấy phá trong vùng,
bỗng dưng không còn tái diễn nữa.
Dân làng được sống yên bình.
Quan huyện Văn Tử Lập mừng lắm,
dốc hết hòm dương
để trả ơn người thợ săn kia.
Người kia trộm nặng mà về,
từ đấy yêu ta tuyệt tích,
không còn thấy tâm bóng đầu nữa.
Cha ông ta thường có câu,
có thờ có kiêng,
có kiêng có lành.
Tuy nhiên thiết nghĩ,
việc thờ cúng tâm linh
cũng phải đúng nơi đúng chỗ,
nhất là cần đương theo chính pháp,
chính đạo.
Lại nói thêm,
kính tính trời đất thần Phật,
ấy khẳng định là việc tốt,
nhưng đền chăng,
là cần bày tỏ sự kính tín ấy,
bằng một cái tâm thanh tịnh và trong sáng,
lấy Phật đạo,
làm tiêu chuẩn soi chiếu,
để tụ dưỡng bản thân,
bò giữ,
theo lành,
trao rùi phẩm đức.
Thăng hoa sinh mạnh,
ấy mới thực sự là chính tín.
Ngược lại,
nếu ù mê cố chấp,
lễ bái tràn lan,
cầu thân khấn Phật,
chỉ mong tư lợi,
mong thăng quan tiên chức,
mong phát tài lợi lọc,
mong tiêu tai giải nạn,
mong thỏa mãn duyên tình, v.v.
thì chẳng khác nào,
như mò trăng đáy nước.
Bởi chương thần Phật,
đâu có bao giờ,
vì hương hoa lễ lạt,
mà thỏa mãn cho những chấp trước,
truy cầu và tham vọng của người Phạm.
Xưa nay,
thánh nhân có ràng đại ý rằng,
vào thời mạt Pháp,
mà quỷ sẽ xuất hiện nhiều,
chúng lợi dụng chùa triền miếu mạo,
và lòng tham vọng tường của con người,
để phá hoại Phật Pháp,
lại quấy nhiễu dương gian,
cầu danh trục lợi,
khiến cho điên đảo thị phí.
Nhưng bà quỷ đội lốt thần linh ấy,
chẳng những không lộ nhân được,
mà nói không chừng,
còn gây thiệt của,
hại người.
Vì như mấy pho tượng đất,
đã thành tinh,
ở ngôi chùa Hoang,
tại huyện Đông Triều,
vừa được kể tới,
trong câu chuyện này vậy.
Thật đáng,
quản ngại,
lắm thay.
Quý vị và các bạn thân mến,
câu chuyện văn hóa tâm linh Việt Nam,
với tựa đề,
chuyện giết quỷ trừ bà,
trong ngôi chùa Hoang,
Trước khi rời khỏi màn hình,
mong quý vị đừng quên để lại bình luận,
và bấm đăng ký kênh,
để theo dõi những video hấp dẫn,
bằng đậm tính nhân vật của chúng tôi nhé.
Mình Đức xin kính chào,
và hẹn gặp lại quý vị và các bạn,
trong các chương trình lần sau.
