NHỮNG CÂU CHUYỆN TU TIÊN TRONG NHÂN GIAN - MỘT NGƯỜI ĐẮC ĐẠO, GÀ CHÓ LÊN TRỜI 人間帝王修真故事 人得道,雞犬升天 #minhhuyen

Minh Huyền 明玄
1.3K Người theo dõi
NHỮNG CÂU CHUYỆN TU TIÊN TRONG NHÂN GIAN - MỘT NGƯỜI ĐẮC ĐẠO, GÀ CHÓ LÊN TRỜI 人間帝王修真故事 人得道,雞犬升天
#vanhoa #phapluancong #china #people #chinese #tutien #vietnam #minhhuyen #newyork #nguoivietouc #canada #news #taiwan #vanhoatruyenthong #education
Nguồn lấy từ DKN.TV; VIDEO BIÊN TẬP: MINH HUYEN
Chào mừng quý vị đến với chuyên mục văn hóa của Đại Kỷ Nguyên.
Kính thưa quý vị, hai năm trở lại đây, học sinh tiểu học Trung Quốc có trào lưu ngồi song bàn.
Nhiều thanh niên muốn tu tiên, đam mê đến thiện viện tham quan tu thiện. Những thanh niên sinh
sau năm 1990 lên núi Trung Nam ẩn cư càng ngày càng nhiều. Hôm nay chúng tôi sẽ kể chuyện về Phạm
Nhân Tu Tiên. Những câu chuyện sau đây đến từ cuốn sách Thần Tiên Truyền, được coi là bảo bối
tu tiên kinh điển. Những câu chuyện thần tiên trong Thần Tiên Truyền được Cát Hồng, một nhà âm
dương thời Đông Tấn thu thập chỉnh lý, là cuốn sách tham khảo hiếm hoi trong Đạo Tạng,
một tài liệu giảng dạy chuyên dụng về tu luyện của Đạo gia. Những thần tiên được ghi nhận trong đó
có tới 84 vị. Những thiên nhân này thoát ẩn, thoát hiện, đủ loại thần thông. Những gì là cưỡi
mây, ngự sương, biến hóa tàng hình, khởi tử hoan sinh, tiên tri cát hung, đều chỉ là chuyện nhỏ.
Không chỉ vậy, cuốn Thần Tiên Truyền còn có ảnh hưởng thâm viễn đến văn hóa Trung Quốc. Không ít thành
ngữ quen thuộc như huyền hồ tế thế, treo hổ lô tế thế, thương hải tăng điển, biển xanh hóa nương
dâu, kê khuyển thăng thiên, gà chó lên trời, đều bắt nguồn từ trong cuốn sách này.
Hồ Công Sống Trong Hổ Lô
Hồ Công đến vô hình, đi vô tung. Một ngày nọ, ông đột nhiên xuất hiện tại khu chợ ở Nhữ Nam.
Chỉ thấy ông lấy xào tre, treo một hổ lô lớn lên cao. Mọi người tụ tập xung quanh để xem.
Ông đang bán gì vậy? Người dân hỏi. Hồ Công nói, tôi bán rược hoàn tử. Trong hổ lô của tôi có
đủ loại linh đan rượu rược, chứa được bách bệnh, giá cả đã đỉnh, không tin đừng mua.
Quả nhiên có người tin tưởng, bỏ tiền ra mua rược hoàn của ông. Sau khi thu tiền, Hồ Công thầm
thì dặn do người mua, cậu nuốt rược hoàn xong, ban đầu sẽ thấy buồn nôn, nhưng cậu đừng sợ,
nôn ra hết thì bệnh của cậu sẽ khỏi. Người mua về nhà uống thử, quả nhiên linh nhiệm,
nà ni tạp trứng các loại đều khỏi. Thế là một truyền mười, mươi truyền trăm,
người dân toàn thành đều biết, mọi người đổ xô đi mua rược hoàn của ông.
Hồ Công kiếm được rất nhiều tiền, nhưng tiền của ông đều là vào tay phải, ra tay trái,
mang hết đi tiếp tế những người nghèo làm việc thiện. Về sau, câu chuyện dùng hổ lô bán thuốc đã diễn
biến thành thành ứ, huyền hồ tế thế, tức là treo hổ lô để cứu tế thế nhân.
Tuy nhiên, câu chuyện về Hồ Công mới chỉ là khởi đầu, có những điều thú vị hơn nữa vẫn chưa đến.
Đợi khi màn đêm buông xuống, phiên chợ tan, người mua kẻ bán đều đã đi xa,
Hồ Công nhìn xung quanh không còn ai, liền nhảy vào hổ lô và biến mất.
Nhưng có một người đã nhìn thấy, đó là Phí Trường Phòng, viên quản lý chợ,
đang ngồi ở trên lầu văn phòng. Trường Phòng cảm thấy vị Hồ Công này rất khác thường,
nên mỗi ngày đều triêu đại ông cơm ngon, rượu ngọt. Hồ Công cũng không khách khí,
cho gì đều nhận hết. Nhưng một lời cảm ơn cũng không nói. Trường Phòng cũng không bận tâm,
luôn chăm sóc Hồ Công chú đáo, mà không đòi hỏi đền đáp bất cứ điều gì.
Một thời gian sau, có một ngày, Hồ Công đột nhiên nói với Trường Phòng,
Tối nay hãy đến gặp tôi. Trường Phòng đến như đã hứa. Hồ Công hỏi ông,
cậu có muốn vào trong hổ lô xem không? Nếu cậu thấy tôi nhảy vào,
hãy nhảy theo tôi là được. Đảm bảo cậu có thể vào được. Nói xong Hồ Công liền nhảy vào.
Phí Trường Phòng không rút đắn đo, cũng nhảy vào theo. Quả nhân, thực sự tiến vào bên trong hổ lô.
Sau khi bước vào, phát hiện không gian bên trong rất rộng lớn, đinh đài, lâu cát,
tầng tầng lớp lớp. Hồ Công ngồi trong đại điện, xung quanh có hàng chục người phục vụ.
Lúc này, Hồ Công mới lộ ra thân phận, nói, ta vốn là tiên quan trên thiên thưởng bởi vì bản
tính lời biếng, lơ là công vụ nên bị ráng xuống nhân gian. Con là người có tài có thể dạy được,
nên ta mới mang theo con đến động thiên trong hổ lô của ta.
Phí Trường Phòng vội vàng quy xuống bái lẩy, nói với Hồ Công muốn học tu tiên.
Hồ Công nói, khả dĩ, con phẩm chất không tồi, nhưng đừng nói cho ai biết.
Trường Phòng vô cùng hoan hỉ trở về. Không lâu sau, Hồ Công đến mời chàng uống riệu nói,
hai ngày nữa ta sẽ rời khỏi đây, con có bằng lòng đi cùng ta không?
Trường Phòng nói, tất nhiên là con bằng lòng, nhưng với người nhà con sẽ giải thích thế nào?
Thầy chẳng phải đã nói không được phép nói cho người ngoài sao?
Hồ Công nói, việc này đơn giản thôi. Rồi ông lấy ra một cọc tre xanh nói,
con mang cọc tre này về, bảo bản thân bị bệnh, hai ngày nữa hãy để cọc tre trên giường,
rồi tự mình đến tìm ta là được. Trường Phòng rất nghe lời, làm theo lời dặn.
Sau khi chàng rời đi, cây cọc tre biến thành hình tượng của chàng nằm trên giường,
một hồi sau tóc thở. Gia đình tưởng chàng đã chết nên đem cọc tre đi trôn trong nước mắt.
Kỳ thực, đây là một loại pháp thuật thường được đạo gia sử dụng,
gọi là thi giải, sử dụng chứng pháp nhãn, tức pháp trẻ mắt. Sau khi trôn cất,
cọc tre sẽ xuất hiện nguyên hình. Bằng cách này, phí Trường Phòng chính thức xuất ra,
theo Hồ Công rời đi. Đang lúc khốt hoàng không biết mình đang ở đâu thì một đàn hổ lớn hiện ra,
từng cái miệng há to, nghe hàm răng sắc nhọn, muốn ăn thịt chàng. Nhưng Trường Phòng
không hề sợ hãi. Ngày hôm sau, chàng lại bị Hồ Công ngút vào nhà đá một tảng đá lớn,
treo trên đầu bằng một sợi dây cỏ tranh. Có mấy con rắn đang cắn sợi dây sắp đứt. Nhưng Trường
Phòng cũng không sợ hãi. Lúc này, Hồ Công xuất hiện, tán thành nói,
nhụ từ khả giáo giả, tức là cậu tiểu tử này có thể dạy dỗ được. Sau đó,
ông lấy ra mấy con côn trùng rồi nói, nuốt cái này đi. Mùi tanh hôi của côn trùng thật kinh tẩm,
Trường Phòng thực sự nuốt không nổi. Hồ Công thở dài nói, con thế này không tu thành thần tiên được.
Thì ra, hổ, đá, côn trùng đều là Hồ Công nguyễn hóa ra để khảo nghiệm đồ đề có hay không thể xả
bỏ thất tình lục dục. Hơn nữa, còn khảo nghiệm tín niệm của đồ đề, đối với sư phụ có đầy đủ không?
Đạo gia có một câu chuyện nổi tiếng về thử thách tín niệm của đồ đề. Thiên sư Trương Đạo Lăng,
vì để khảo nghiệm đồ đề của mình, nói rằng, ông đi hái đảo tiên đã nhảy xuống vách đá trước mặt
mọi người. Khi các đệ tử nhìn thấy mây mù dày đặc phía dưới vách núi, chẳng biết bao sâu cảm
thấy sư phụ hung đa cát thiểu đều nằm xuống vách đá mà khóc. Lúc này, chỉ có Triệu Thăng và Vương
Trường lo lắng cho an nguy của sư phụ nên nhảy xuống theo. Cuối cùng, các ba người đều được an toàn.
Trương Đạo Lăng, ngay dưới vách đá, truyền thụ cho họ bí quyết tu đảo. Sau đó, hai đồ đệ đều tu
thành tiên cùng với Trương Đạo Lăng, ba thầy trò Bạch Nhật Phi Thăng. Có vẻ như phí trường phong không có
đủ tín niệm vào hồ công nên không chịu nuốt côn trùng. Nếu không vượt qua được khảo nghiệm,
con đường tu tiên cũng đứt đoạn. Nhưng dù thế nào đi nữa, không thể để người ta trắng tay. Vì vậy,
hồ công đã dạy cho trường phong một số bản lĩnh, chứ yêu hàng quỷ, rồi để chàng quay về.
Khi người nhà nhìn thấy trường phong, họ vô cùng sợ hãi, nghĩ rằng mình nhìn thấy quỷ hồn. Sau đó,
quan tài được đào lên, nguyên lại bên trong chỉ có một cọc tre. Sau khi trường phong trở về,
ông đã vận dụng bản lĩnh mà hồ công dạy cho mình để làm không ít việc thiện cho trăm họ.
Câu chuyện ông tu tiên cũng được đưa vào sử sách Hậu Hán Thư. Mặc dù ông tu tiên không thành,
nhưng tên ông vẫn được lưu danh Thanh Sử. Từ một góc độ khác mà nói,
đó cũng tính là đắc được trường sinh. Hoài Nam Vương, một người đắc đảo gà chó lên trời
Câu chuyện dưới đây là nguồn gốc của thành ngữ Nhất Nhân Đắc Đảo Kê Khuyển Thăng Thiên,
tức là một người đắc đảo gà chó lên trời. Nhân vật chính của câu chuyện là Hoài Nam Vương
Lưu An thời kỳ Hán Vũ Đế. Lưu An thích cầu tiên vấn đạo nên có nhiều phương sĩ tìm đến ông.
Đương thời, vương phủ của Lưu An có hàng ngàn thực khách. Lưu An và những thực khách này
cũng viết một cuốn sách nổi tiếng tên là Hoài Nam Tử. Chủ đề của Hoài Nam Tử là dựa
trên tư tưởng thiên nhân cảm ứng của đạo gia để bàn luận thế nào là đạo, nội dung cực kỳ rộng,
thần thoại thượng cổ, chiều chính đương thời, dài thoại cổ đại, thiên văn địa lý,
không gì không có. Mọi người thường nghe câu tái ông thất má chính là đến từ cuốn sách này.
Tái ông thất má kể rằng, xưa có một ông lão nuôi một con ngựa. Một ngày kia,
con ngựa của ông bỏ trốn sang nước hồ. Mọi người đến chia buồn với ông, nhưng ông lão chỉ nói,
ai biết, trong họa có phúc. Không lâu sau, con ngựa trở về dẫn theo một con ngựa to khỏe
từ nước hồ. Mọi người đến chúc mừng ông, nhưng ông lại nói có thể là trong phúc có họa.
Đúng như dự đoán, con trai ông đã cưỡi nó và bị ngã gãy xương.
Mọi người trong làng lại đến chia sẻ, nhưng ông lão chỉ nói có thể là trong họa có phúc.
Sau một năm, nước hồ xâm lược, nhiều trai tráng trong làng thiệt mạng. Nhưng vì con trai ông bị
què chân, được miễn nhập ngũ, may mắn thoát chết. Tái ông thất má chính là nói trong phúc có họa,
trong họa có phúc. Khuyên người đừng thất vọng, cũng đừng tự đắc.
Sau khi hoài 5 tử hoàn thành, Lưu An dân tặng nó cho Hán Vũ Đế. Hán Vũ Đế rất thích,
bí mật cất giữ cuốn sách này trong cùng. Trong số rất nhiều quan khách của Lưu An,
tám vị hiền sĩ mà ông coi trọng nhất được gọi là Bát Công. Khi Bát Công là đầu tiên đến nương
nấu ông, tất cả bọn họ đều hình hài già nua, hốc hát. Nhân viên tiếp tân nói,
mọi người đều biết đại vương của chúng tôi rất giỏi đạo thần tiên. Những vị thần tiên đều là trường
sinh bất láo, thoạt nhìn đã thấy khác hẳn người thường. Còn các cụ đã già thế này rồi,
chẳng có chút thần tiên nào, đại vương sẽ không tiếp kiến các cụ đâu.
Bát Công cầu kiến bốn lần, bốn lần đều bị từ chối. Sau khi bị từ chối lần thứ tư,
Bát Công đứng dậy, chỉnh trang y phục và nói, không phải là chúng ta già, muốn giống thanh niên nào có
khó gì. Vừa nói xong, họ đều biến thành như thanh niên. Nhân viên tiếp đáy mắt chừng mồm ngây,
à, thần tiên hiển linh, vội vàng vào báo cáo. Liều an nghe vậy, dây trước kịp mang đã chạy ra
ngoài nhìn, thấy họ liền bái tay tự xưng là đệ tử, nói, đại thần tiên đến, có thể dạy cho tôi điều
gì không? Bát Công đáp, vài người chúng ta có thể điều khiển gió mưa sấm xét, cũng có lực lượng
điều động quỷ thần có thể xuất nhập giữa nước và lửa, cũng có thể cải biến năng lượng của Sơn,
Xuyên, Hà, Liêu, rất có bản sự. Liều an cung cung kính kính, mời Bát Công ở lại,
cùng họ học tập Đạo Tu Tiên. Bát Công cũng phó xuất không ít sức lực cho cuốn sách Hoài Nam Tử
của Liều an. Sau đó, một trong những quan đại thần thù hạ của Liều an đã vô cáo ông miêu phản,
hãn vụ đế liền phái đại thần đế điều tra. Thời xưa miêu phản là chuyện lớn, bất kể có xảy ra hay
không, chỉ cần bị điều tra, dù không chết cũng bị lột ra. Bát Công khuyên Liều an rằng vụ vô cáo này
có thể là cơ hội được thiên thượng ban tặng, đã đến lúc ngài phải rời nhân gian, bằng không ngài
luôn bị hãm vào phú quý nhân gian, lúc nào mới có thể sẵn sàng đi. Liều an suy nghĩ một chút rồi đồng ý.
Bát Công dùng một cái vạc lớn đun một bát thuốc lớn cho Liều an uống. Liều an uống xong,
mọi người trong gia đình ông cũng uống theo. Cả nhà có gần 300 người, gia trẻ lớn bé đều cùng ông thăng
thiên. Gà và chó ở nhà chạy tới liếm chỗ thuốc còn sót lại, kết quả gà chó cũng thăng thiên. Cứ như
vậy đại gia đình Liều an biến mất tập thể trước khi sứ thần đến. Mặc dù sử ký nói rằng trước khi sứ
thần đến, Liều an đã tự vẫn, gia đình cũng diệt tộc. Nhưng trong dân gian, mọi người đều muốn
tin vào phiên bản gà chó lên trời trong thần tiên truyền, tin rằng gia đình Hoài Nam Vương đã thăng
thiên nhờ trợ lực của tiên dược. Ngày nay, mọi người thường lý giải một người đắc đảo gà chó lên
trời thành một người làm quan cả họ được nhờ, khi thực là lý giải sai nguyên ý của thành ứng này.
Cổ đại quan niệm rằng một người nếu tu thành đắc đảo thì cha mẹ người nhà đều được thơm lây
hoặc là đắc phúc báo, hoặc là sẽ vãng xanh đến thế giới của người đó mà hưởng phúc. Do đó,
cổ nhân đối với người tu luyện đều rất kính trọng, ủng hộ. Đó mới là hạm nghĩa chân chính của thành
ứng một người đắc đảo gà chó lên trời. Đại diện của trường thọ Bành Tổ và Ma Cô
Vị thứ ba xin giới thiệu với quý vị là Bành Tổ, thọ 800 tuổi. Bành Tổ sinh ra vào thời
đại Tam Hoàng Ngũ Đế. Đến cuối thời nhà thương, ông đã 760 tuổi, vẫn chưa suy láo. Bí quyết trường
thọ của ông La Di, theo lời ông, chính là coi nhẹ danh lời, biết đủ vô cầu, khắc chế tình tự,
tiết chế ăn uống, đồng thời đả tọa luyện công, tu tập thuật thở sâu của đạo gia.
Vào thời nhà thương, vua thương từng bãi ông làm đại phu. Ông thường cáo bệnh ở nhà,
không tham dự triều chính. Nhà vua ban cho ông nhiều ngọc ngà châu báu, ông đều dùng chúng để tiếp
tế người nghèo. Trong nhà có xe ngựa, nhưng khi ra ngoài, ông vẫn thích đi bộ, hiếm khi ngồi xe.
Đôi khi, ông đang đi, đang đi thì đột nhiên biến mất. Hàng chục ngày sau đó mới quay lại,
quay lại cũng không nói mình đã đi đâu. Vào cuối thời nhà thương, vua chủ vô đạo muốn
hám hại bành tổ. Bành tổ bỏ trốn. Bảy mươi năm sau, có người nhìn thấy ông trên sa mạc. Tính
ra lúc đó ông đã hơn tám trăm tuổi. Bành tổ cuối cùng sống được bao lâu,
đến nay vẫn còn là một ẩn số. Cũng trường thọ giống như bành tổ, mà cô là vị khách thường xuyên
đến sự tiệc vườn đào của Tây Vương Mẫu. Mà cô xuất hiện trong thần tiên truyền như một thiếu
nữ xinh đẹp, chỉ mới mười tám, mười chín tuổi. Những ngón tay dài và mảnh, giữa đầu có một búi
tóc lớn, tóc dài xóa ngang eo, thân mặc gấm hoa, lộng lấy ngoạn mục, không phải là thứ ở nhân
gian. Mà cô ngủ ở bồng lai tiên sơn, khi trò chuyện với tiên nhân Vương Phương Bình, mà cô nói rằng
bản thân đã ba lần nhìn thấy biển Đông Hải biến thành ruộng dâu, hiện tại thấy nước ở bồng
lai lại biến cản chỉ cao gần bằng một nửa so với trước. Biển Đông Hải lẽ nào biến thành lục địa?
Vương Phương Bình thở dài nói một khi biến thành lục địa đi qua biển Đông Hải sẽ lại đầy các bụi bay.
Đoạn đối thoại này sau đó diễn biến thành thành ứ, thương hải tang điện, tức biển xanh biến thành nương dâu.
Các nhà khoa học tin rằng tác dụng của địa chất dẫn đến các tầng đá trên vỏ trái đất biến hình
và tự dịch chuyển. Khi lớp vỏ di chuyển theo phương thẳng đứng, đáy biển ban đầu sẽ trở thành sơn đồi,
lục địa sẽ trở thành đại dương. Ví dụ, dãy Himalaya từng chìm trong đại dương,
trong khi đáy biển Ấn Độ Dương bên cạnh từng là đầm lây trên đất liền. Vì vậy, lời nói của
Marco về biển xanh biến thành nương dâu là có cơ sở khoa học. Tuy nhiên, mỗi biến động như vậy ở
vỏ trái đất phải mất thời gian hàng chục triệu năm. Vậy thì, mỹ nữ băng giá Marco đến này đã bao
nhiêu tuổi? Chương trình của chúng tôi hôm nay xin được khép lại tại đây. Cảm ơn quý vị đã
chú ý theo dõi. Xin kính chào và hẹn gặp lại quý vị trong những chương trình lần sau.
