Sự Thật Gây Sốc: Vũ Khí ‘Tối Tân’ Của Trung Quốc Chỉ Là Mô Hình Trưng Bày
Ngày 3/9, Quảng trường Thiên An Môn lại vang dội tiếng nhạc quân hành, xe tăng rầm rập lăn bánh, hàng loạt tên lửa khổng lồ chĩa thẳng lên trời trong ánh mắt choáng ngợp của đám đông. Đảng Cộng sản Trung Quốc muốn thế giới tin rằng họ đang sở hữu một cỗ máy chiến tranh hùng mạnh, có thể thách thức bất kỳ đối thủ nào, kể cả siêu cường số một – Hoa Kỳ. Nhưng càng phô trương, những vết nứt càng lộ rõ: vũ khí bị nghi ngờ chỉ là mô hình rỗng, binh sĩ thiếu kinh nghiệm thực chiến, lãnh đạo tối cao lộ dấu hiệu suy yếu, còn nội bộ quân đội thì rối ren vì thanh trừng. Duyệt binh 3/9, vì thế, không còn là màn thị uy sức mạnh, mà giống một “màn kịch tuyệt vọng” – nơi Đảng Cộng sản Trung Quốc cố gắng che giấu sự bất ổn của chính mình dưới lớp vỏ hào nhoáng. Thay vì củng cố niềm tin, sự kiện lại phơi bày nghịch lý cay đắng: một cường quốc muốn chứng minh mình bất khả chiến bại, nhưng chính những khẩu hiệu, đội hình và vũ khí diễu qua Thiên An Môn lại trở thành bằng chứng sống động nhất cho thấy sự suy tàn đang đến gần.
Ngày 3 tháng 9, trên quảng trường Thiên An Môn lại vang dội tiếng nhạc quần hành, xe tăng rầm rập lan bánh, hàng loạt tên lửa khổng lồ chỉ ở thẳng nên trời trong ánh mắt chóa ngập của đám đông.
Đảng Cộng sản Trung Quốc muốn thế giới tin rằng họ đang sở hữu một cụ máy chiến tranh hùng mạnh, có thể thách thức bất kỳ đối thủ nào, kể cả siêu cường số 1 của thế giới.
Nhưng càng phô trường, những vết nứt lại càng lộ rõ. Vũ khí bị nghi ngờ chỉ là mô hình rỗng, binh sĩ thì thiếu kinh nghiệm thực chiến, lãnh đạo tối cao lộ dấu hiệu suy yếu, còn nơi bộ quân đội thì dối ghen vì thanh trừng.
Duyên binh ngày 3 tháng 9 vì thế không còn là màn thiệu y sức mạnh, mà giống như một màn kịch tuyệt vọng, nơi Đảng Cộng sản Trung Quốc cố gắng che giấu sự bốt ổn của chính mình dưới lớp vỏ hào nhoáng.
Ngày 3 tháng 9, giữa kiệt nắng đầu thu của Bắc Kinh, Đảng Cộng sản Trung Quốc tổ chức một cuộc duyệt binh quy mô lớn tại quảng trường Thiên An Môn, nơi từng là biểu tượng quyền lực và khát phọng thống trị.
Nhưng lần này, thay vì là một màn kịch khẳng định sức mạnh thật đối, sự kiện lại phản vất ráng rấp của một màn diễn cuối cùng, khi bóng đen bắt ổn nội bộ và sức khỏe sự yếu của lãnh đạo phủ khí thông khí.
Mục đích chính của cuộc duyệt binh được tuyên truyền rầm rộ, phô diễn những thành quả đột phá trong hiện đại hóa quân đội, gửi thông điệp rằn đè ra bên ngoài, đồng thời khích lệ niềm tin trong dân chúng.
Thế nhưng, dưới lớp phỏ hoành tráng ấy, những điểm yếu căn bản của quân giải phóng nhân dân lại hiện ra rõ một một, mờ man bằng đội hình bộ binh bước đều tầm tắp.
Truyền thông gọi đây là biểu tượng kỳ luật thép, nhưng cơ dân mạng Trung Quốc lại mỉa mai, đó là đơn vị an ninh xã hội, một cánh siếc hơn là lực lượng chiến đấu.
Tiếp sau đó, xe thăng Type 99 và Type 100 xuất hiện trong tiếng tung hô của báo chí nhà nước.
Đoạn biệt Type 100 được ca ngợi như là bước nhảy vọt công nghệ, với hệ thống radar 360 độ, cảm biến đa phổ và thậm chí là tiên lửa chống tăng gắn kèm.
Nhưng với các chuyên gia quân sự, những lời tông hô ấy chỉ là một chiêu trò tuyên truyền.
Nếu Trung Quốc thực sự làm chủ được công nghệ đó, thì không quân nước này đã vượt mặt Mỹ từ lâu.
Thực chất, Type 100 giống như là một mô hình trưng bẩy, hơn là một khí tài sẵn sàng chiến đấu, dễ bị hạ gục bởi một viên đạn pháo 105mm cơ bản.
Loại vũ khí mà NATO đã sử dụng từ thời chiến tranh lạnh, các phương tiện chiến đấu bọc thép như Type 04 và Type 08,
cùng được diễu hành, được giới thiệu như là biểu tượng cơ giới hóa hiện đại.
Như thực tế, Type 04, một biến thể của BMP của Lenso và Bradley của Mỹ, đã lôi thời về thiết kế, giáp mỏng và công năng hạn chế.
Trong mắt các nhà quan sát quốc tế, đây không phải là bước tiến vượt bậc, mà chỉ là một bản sao nghèo nàn, đánh bóng bằng lớp sơn mới.
Sự đối lập gây gắt giữa hình thức hoành tráng và thực chất yếu kém đã bộc lộ ngay từ những phút đầu.
Quân đội Trung Quốc không thiếu quân số, không thiếu vũ khí để trưng bẩy, nhưng điều họ thiếu chính là độ tin cậy và sức mạnh thực chiến.
Duân binh ngày 3 tháng 9, do đó giống như là một bức tranh màu mè. Bên ngoài đi sáng rực rỡ, nhưng bên trong lại bụng ruống.
Đó chính là nghịch lý lớn nhất mà Tập Cận Bình cố che đậy.
Dùng hình ảnh quân sự để lấp khoảng chống những tin, nhưng càng phô trường thì càng lộ rõ sự bất an của cả hệ thống.
Tên lửa, sức mạnh trên giấy.
Nếu như bộ binh ba xe tăng chỉ là màn khởi động, thì phần cao trào của cuộc duân binh ngày 3 tháng 9
Vốn được Đảng Cộng sản Trung Quốc coi là thanh kiếm hạt nhân, bảo chứng cho vị thế cưỡng quốc.
Từ Đông Phong 21-31-31G cho tới Đông Phong 41 và cá mông mới gắn mắt Đông Phong 61,
tất cả được lắt bánh trên quảng trường Thiên An Môn, trong tiếng nhạc khủng tráng và lời ca tục có thể bảo phủ lãnh thổ của Mỹ.
Thông điệp vừa đi dẫn rõ ràng, Trung Quốc đã nắm trong tay năng lực gian đe chiến lược toàn cầu.
Thế nhưng, đằng sau mản dưỡng hành đó lại là một kịch lý chùa chát.
Các con số mà truyền thông Trung Quốc công bố, tầm bán 10.000 hay 14.000 km, tốc độ mạc 20, đều chỉ tồn tại trên giấy.
Thực tế, chiến trường lại vạch trần khoảng cách giữa tuyển chuyển và năng lực thật sự.
Năm 2024, trong một cuộc thử nghiệm hiến hoi, một quả Đông Phong 41 đã lệch duy đạo gần 100 km,
rơi xuống vùng biển Cộng Hòa Phì Dì, đối với một loại vũ khí được coi là sương sống hạt nhân.
Xa lệch như vậy chẳng khác nào tự bắn vào uy tiếp quốc gia.
Đông Phong 61, mẫu tên lửa mới được trưng bày, cũng vớt phải hoài nghi tự tự.
Cái tên càng lớn thì nguy cơ lệch mục tiêu càng cao.
Ngay cả những loại huyền thoại như Đông Phong 5C cũng phơi bầy sự lạc hậu.
Dùng động cơ nhiên liệu lỏng DF-5C, các hàng giờ tiếp nhiên liệu khi phóng,
một quy trình cổng cảnh khó có tính sẵn sàng trong bối cảnh chiến tranh hiện đại,
nơi quyết định tính bằng phút giây.
ZL-1, tên lửa đặn đạo phóng từ máy bay ném bom H-6,
được còn bá như là sấm xét trên không,
nhưng chỉ là bản sao kém khỏi của Kinzhanga với tầm bắn dưới 2.000km,
vừa yếu vừa ngắn, chẳng thể so với vũ khí cùng loại của phương Tây.
Điểm yếu trí tử không chỉ nằm ở độ chính xác mà còn ở sự trồng chéo.
Quốc độ Mỹ duy trì một vài mẫu tên lửa chiến lược, tập trung nâng cấp và tối ưu hậu gần.
Trái lại, Quốc độ Trung Quốc sở hữu quá nhiều loại tên lửa,
mỗi loại một kiểu do đến gánh nặng bảo trì, khổng lồ và độ ti cậy thấp.
Những bệ phóng giữ hành trực ống kính truyền hình có thể khiến quần chúng chóng ngập,
nhưng dưới chuyên gia quốc tế hiểu rõ,
phần lớn trong đó chỉ là mô hình tượng trưng, không phải là vũ khí sẵn sàng chiến đấu.
Nói cách khác, kho tên lửa khổng lồ của Trung Quốc không phải là biểu tượng sức mạnh,
mà là chứng minh cho sự lệ thuộc và tiền truyền.
Đạo Cộng sản Trung Quốc muốn dùng hình ảnh có thể bắn tới Washington
để chấn an dân chúng và giăn đè đối thủ.
Nhưng cái giá phải trả là sự hoái nghi ngày càng lớn từ chính giới quân sự và thị trường tài chính,
nhưng nơi chỉ tin vào năng lực thật sự, không phải là những con số được tô vẽ.
Sau màn diễu hành của dàn tên lửa,
Đạo Cộng sản Trung Quốc tiếp tục tung ra các vũ khí mới,
như muốn chứng minh quân đội Trung Quốc không chỉ là mạnh bởi số lượng,
mà còn đang chạm tới công nghệ của tương lai.
Nhưng nếu quan sát kỹ, sự mới ấy chẳng khác nào trước mặt nạ được sơn vết vội vã,
trai dấu một sự thật khó chối bỏ.
Phần lớn đều là bản sao chép, mô phỏng từ Mỹ và phương Tây,
nhưng thiếu nền tảng biến thành sự mạnh thực tế.
Nổi bật trong nhóm này là hệ thống phòng thủ tên lửa hồng kỳ 29,
được ca ngợi như một bước tiến chiến lược với khả năng đánh chặn giai đoạn giữa.
Vốn là công nghệ mà hiện nay chỉ Mỹ lạc chủ,
nhưng hình dáng cầm cảnh của nó lại là bằng chứng ngược.
Dài hơn 10 mét, phải chở trên xe 12 bánh,
không thể phóng thẳng từ hệ thống đứng trên tàu chiến như SM-3 của Mỹ.
Một loại vũ khí phòng thủ mà chỉ cần di chuyển thôi cũng vương víu,
thì làm sao có thể phản ứng nhanh trong tựa chiến.
Ở đây, quân đội Trung Quốc không chỉ diễn một công nghệ tối ưu,
mà chỉ trọ thấy một phiên bản phóng đại thô vụng của SM-3, thiếu tính ứng dụng.
Tương tự, vũ khí laser LI-1 được trưng bày như là minh chứng
Trung Quốc bước vào kỷ nguyên chiến tranh năng lượng định hướng.
Nhưng trong khi Mỹ đã triển khai laser trên tàu khổ trục Le Pouquet
và trên xe bọc thép Stryker,
thì LI-1 vẫn chỉ là một nguyên mẫu cồng gành gắn trên xe tải dài.
Thông số tuyến đối được giữ bí mật,
dấu hiệu cho thấy nó chưa đạt tới mức độ tìm cậy để công bố.
Nói cách khác, đây là công nghệ còn non-node,
nhưng được tu hồng thành bước nghề vọt.
Lênh vực máy bay không người lái cũng vậy.
Tất công 11 với thiết kế cánh bay được quảng bá là như đột phá của tương lai,
nhưng thật chất đã phát triển từ 2009.
Mà đến nay mới chỉ có một nguyên mẫu xuất hiện.
Sự thiêu vắng sản xuất hàng loạt
phản ánh những bế tắc trong công nghệ động cơ và hệ thống điều khiển.
Trong đoàn duyệt bình,
nhà UAV khác lại trông như bản sao copy-paste,
từ Gratos X-Qui của năm 9,
Vampire của Mỹ,
chỉ khác với lớp sơn.
Sự lệ thuộc vào sao chép không chỉ bổng lộ sự nghèo nàn về sáng tạo,
mà còn cho thấy quân đội Trung Quốc vẫn đang bầy mỏ với mùi tử nghiệm.
Chứ chưa đủ sức bước vào giai đoạn tác chiến thực tế.
Không quân và hải quân cũng chẳng khá hơn.
Máy bay cảnh báo sớn KJ-600
được gọi là đôi mắt trên không,
nhưng thực chất chỉ là bản sao chép của A-Hao Kei của Mỹ.
Hiện vẫn chưa vượt qua nổi các bài thử nghiệm kết cánh và hạ cánh trên tàu sân bay.
Hải quân, vốn được kỳ vọng là mũi nhọn trong tham vọng đại dương xanh của Trung Quốc,
lại trình diễn những bản sao khác.
Tên lửa doanh kích 18,
giống hệt mẫu của Thị Điển.
UUV dưới nước thì ở mức sơ cai,
chỉ như những con tàu cảm tử gắn súng máy.
Trong khi đó,
Mỹ đã có hạng đội Ma ở Yokosuka và Trung Đông.
Thử nghiệm tàu chiến không người lái thế hệ thứ ba
tạo ra ngành tác chiến phối hợp cùng tàu sân bay và tàu khổ trục.
Cái gọi là vũ khí mới của Trung Quốc,
do đó không thể trẻ giấu được sự thật.
Phần lớn là mô phỏng, bắt trước và dừng ở giai đoạn trưng bày.
Trong mắt các nhà quan sát quốc tế,
quân đội Trung Quốc giống như là một học sinh nghèo kết xác,
nhưng luôn thích khoác bộ quần áo của nhà giàu.
Càng cố làm sang,
càng phơi bầy sự thiếu hụt về điểm tạc công nghệ và thực chiến.
Nội bộ giãn nứt, phản tác dụng tuyên truyền.
Nếu như những vũ khí trên quảng trường thiên an môn
chỉ phơi bầy khoảng cách giữa tuyên truyền và thực chất,
thì bên trong hàng ngũ quân đội Trung Quốc
lại ẩn trứa một điểm yếu trí tử khác.
Sự giãn nứt trong cơ cấu chỉ huy và niềm tin nội bộ.
Từ năm 1979 đến nay,
quân đội Trung Quốc chưa từng tham gia một cuộc chiến toàn diện,
nghĩa là toàn bộ thế hệ tướng lính và binh sĩ hiện tại
đều thiếu kinh nghiệm thực chiến.
Khoảng trống ấy có lẽ có thể bù đắp bằng
một hệ thống huấn luyện thuần hóa và bộ máy lãnh đạo ổn định.
Nhưng thực tế lại ngược lại.
Chỉ trong 2 năm, hơn 10 tướng lính cấp cao đã bị thành trừng,
3 trong số 7 thành viên UBAN quân ủy biến mất.
Một cuộc đại phẫu làm tàn ra mạng lưới bảo trợ
và khiến toàn quân rơi vào trạng thái bất an.
Những người lính, thay vì tin vào mệnh lệnh,
lại lo sợ ngày mai sẽ đến được cấp trên của mình bị hạ bệ.
Các sĩ quan cấp trung thì mất chô dựa chính trị,
còn sĩ quan cấp thấp thì thiếu độc tạo và hợp cần đầy đủ.
Trong các lần chạm trán với máy bay Đà Loan,
thiên công Trung Quốc bộc lộ do sự non hớt.
Bay thiếu kiểm soát, ứng biến kém khỏi,
thậm chí phải dùng ngôn ngữ tô tục để thị huy qua sóng radio.
Hành vi cho thấy tâm lý bất ổn nhiều hơn là bản lịch quân sự.
Khi kỷ luật và tinh thần đã lung lay,
thì bất kỳ vũ khí hiện đại nào cũng chỉ là lỡ vỏ giống.
Ngay cả người đứng đầu tập cất bệnh cũng không còn là biểu tượng vũ trắc.
Truyền hình nhà nước chiếu quảnh ông trông mệt mỏi,
giọng nói thiếu lực, đầu run dậy.
Lịch duyên binh cũng phải rời từ 10 giờ sang 9 giờ sáng.
Được cho là để giảm thời gian ông phải chiếu đựng trong nắng.
Nhưng chi tiết nhỏ ấy lại trở thành dấu hiệu lớn.
Với một quân đội vốn đã mất niềm tin và dẫn cấp,
sự xuyên nghiệp của lãnh đạo tối cao chẳng khác nào đòn ráng mạnh nhất vào tinh thần toàn quân.
Càng trớ trêu hơn, màn kịch duyên binh còn gây phản ứng ngược ngay trong lĩnh vực
mà là cộng sản Trung Quốc tưởng rằng sẽ được ủng hộ.
Thay vì kích thích thị trường, ngày 3 tháng 9, trường khoan Trung Quốc lại thuộc giảm.
Cổ phía quốc phòng vốn thường tăng mạnh trong các dịp này lại là rất mạnh nhất.
Dưới đầu tư, với bản năng thực dụng, đã bỏ phiếu bắt tiến nghiệm bằng cách bán tháo.
Họ hiểu rằng những vũ khí đồ sộ kia nhiều khả năng chỉ là mô hình giống,
chẳng mang lại sức mạnh thực tế nào.
Rời trí thức và mạng xã hội thì trên diễu.
Có người mỉa mai rằng các siêu vũ khí được nuôi bằng tiền thuế, lương hư và bảo hiểm y tế của dân.
Sau khi còn các quan chức thì học tập và sinh chống ở Mỹ, Canada, Úc, Nhật,
những quốc gia mà quân đội Trung Quốc được huấn luyện để coi là kẻ thù.
Cái nghịch lý ấy phơi bẩy sự thật.
Duyên binh không còn là biểu tượng của sức mạnh mà trở thành minh chứng cho sự ra rời giữa chính quyền và nhân dân.
Khi quân đội thiếu kinh nghiệm, vũ khí thiếu độ tin cậy, lãnh đạo suy yếu và nơ bộ phân giã,
thì một cuộc duyên binh dù có bảnh tráng đến đâu cũng chỉ là màn phô trương trong tuyển vọng.
Nó không củng cố được niềm tin mà ngưng lại, càng khiến thế giới,
và chính người dân Trung Quốc nhận ra sự thật trần trụi,
đằng sau lớp sơn bóng bẩy, cái hệ thống đang lung lay tận gốc.