Tiểu Sử Danh Tướng Trần Hưng Đạo - Cuộc Đời Và Sự Ngiệp Vị Anh Hùng Dân Tộc Việt Nam. #lichsu

Đình Sự
537 người theo dõi
Xin chào tất cả các bạn. Hôm nay chúng ta sẽ nói về hương đạo đại vương Trần Quốc Tuấn, một trong những tướng xoáy kiệt xuất trong lịch sử nhân loại.
Trần Quốc Tuấn ra đời khi họ Trần vừa thay thế nhà Lý làm vua trong một đất nước đói kém, loạn ly.
Trần thủ độ, một tôn thất tài giỏi, đã xếp đặt bầy mưu giữ cho thế nước trong tranh thành bền vững.
Bây giờ, Trần Cảnh còn nhỏ, mới 11 tuổi. Vợ là Lý Triêu Hoàng, vị vua cuối cùng của dòng họ Lý.
Vì nhường ngôi cho chồng nên chăm họ và tôn thất nhà Lý, dị nghị nhà Trần cướp ngôi.
Trần thủ độ rất lo lắng. Trần Liễu, anh ruột vua Trần Cảnh lấy công chúa Thuận Thiên, chị gái Triêu Hoàng đang có mang.
Trần thủ độ ép Liễu nhường vợ cho Cảnh để chắc có một đứa con cho Cảnh. Liễu nổi loạn. Thủ độ dẹp tan nhưng tha chết cho Liễu.
Xong điều này không dẹp nổi lòng thù hận của Liễu. Vì thế, Liễu kén thầy dạy giỏi cho con trai mình thành bậc văn võ toàn tài,
ghi thác cho con mối thủ sâu nặng. Người con trai ấy chính là Trần Quốc Tuấn.
Thồi nhỏ, có người đã khen Quốc Tuấn là bậc kỳ tài. Khi lớn lên, Trần Quốc Tuấn càng tỏ ra thông minh xuất trúng,
thông kim bác cổ, văn võ song toàn. Trần Liễu thấy con như vậy mừng lắm, nhưng mong Quốc Tuấn có thể dựa dụng cho mình.
Xong cuộc đời Trần Quốc Tuấn trải qua một lần ra biến, ba lần khuất nạt, ông tỏ ra là một bậc hiếm tai.
Hùng nhà ông không đặt lên trên quyền lợi của dân nước, xã Tắc.
Ông biết dẹp thù riêng, vun trồng cho mối đoàn kết giữa tông tộc họ Trần, khiến cho nó trở thành cội dễ của Đại Thắng.
Lúc này, quân nguyên sang xâm chiếm nước Tạc, Trần Quốc Tuấn đã giao hảo hòa hiếu với Trần Quang Khải.
Hai người là hai đầu mối của Hai Chi trong họ Trần. Đồng thời, một người là con Trần Liễu, một người là con Trần Cạnh,
hai anh em đối đầu của thế hệ trước.
Sự hòa hợp của hai người chính là sự thống nhất ý chí của toàn bộ vương chiều Trần, đảm bảo đánh thắng quân nguyên hùng hãn.
Chuyện kể rằng, thời ấy tại Bến Đông, ông chủ động mời Thái sư Trần Quang Khải sang Thuyền Minh trò chuyện, chơi cờ và xài nấu nước thơm, tự mình tắm rửa cho Quang Khải.
Rồi một lần khác, ông đem việc xách mít trong dọc họ do ý các con.
Trần Quốc Tạng, có ý khích ông cướp ngôi vua của chị Thứ, ông nổi giận, định giúp hương toàn chén chết Quốc Tạng.
Do các con và những người tâm phúc súng vào văn xin, ông bớt giận, rừng hương và bảo rằng,
Từ nay cho đến khi ta nhắm mắt, ta sẽ không nhìn mặt thằng Ninh Tử, Phạm Thầy này nữa.
Trong chiến tranh, ông luôn hộ giá bên vua, tay chỉ cầm cây gậy bịt sắt.
Thế mà vẫn có lời dị nghị, sợ ông xách vua, ông bèn bỏ luôn phần gậy bịt sắt, chỉ chống gậy không mỗi khi gần cận nhà vua.
Và sự nghi kỵ cũng chấm dứt.
Giỏi tâm lý, chú ý từng việc nhỏ để tránh hiểm nghi, yên lòng quan, yên lòng dân, đoàn kết mọi người vì nghĩa lớn dân tộc.
Ông là một tấm lòng trung trinh son sắt, vì vua, vì nước.
Năm 1283, vua giao quyền tiết chế cho Trần Quốc Tuấn.
Ông biết dùng người tài như các anh hùng, Phạm Ngũ Lão, Giã Tượng, Yết Kiêu, Trương Hán Siêu, đều từ cửa tướng của ông Mà Gia.
Ông rất thương binh lính, họ cũng rất tin yêu ông.
Đội quân cha con ấy trở thành đội quân bách thắng.
Trần Quốc Tuấn là một bậc tướng cột đá, chống trời.
Ông soạn hai bộ binh thư, binh thư yếu lược và vạn kiếp tâm lý chuyển thư để dạy bảo các tướng cách cầm quân đánh giặc.
Trần Khánh Dư, một tướng giỏi cùng thời đã hết lời ca ngợi ông.
Lấy ngũ hành cạm đứng với nhau, cân nhắc cửu cung, không lắn âm dương.
Biết dĩ đoàn binh chế trường trận có nghĩa là lấy ngắn chống giải.
Khi dọc lỗ dõi ý định gây hấn, Trần Quốc Tuấn truyền lệnh cho các tướng, gian dạy chỉ bảo lẽ thắng bại, tiến lôi.
Trần Quốc Tuấn là vị tướng gồm cả tài đức vẹn toàn, dẹp bỏ thù nhà vì đất nước, chung với vua.
Là tướng nhân, ông thương dân, thương quân, chỉ cho quân dân con đường sáng.
Là tướng nghĩa, ông coi việc phải hơn điều lợi.
Là tướng chí, ông biết lẽ đời sẽ dẫn đến đâu.
Là tướng dũng, ông sẵn sàng song pha nơi nguy hiểm để đánh giặc, lập công.
Cho nên trận bạch đằng oanh liệt nhìn đời là đại công của ông.
Là tướng tín, ông bày tỏ trước cho quân lính biết theo ông thì sẽ được gì, trái lời ông thì sẽ bị gì.
Cho nên, cả ba lần đánh giặc Nguyên Mông, Trần Quốc Tuấn đều lập công lớn.
Trần Hưng Đạo trở thành võ quan nhà Trần lúc nào không rõ, chỉ biết vào tháng 9 âm lịch vào năm 1257,
ông giữ quyền tiết chế để chuẩn bị chống lại cuộc xâm lược của quân Nguyên Mông.
Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép, tháng 9 năm 1257, Trần Thái Tông xuống chiếu lệnh cho tạ hữu tướng quân
đem quân thủy bộ ra ngăn giữ biên giới phía Bắc, theo sự tiết chế của Trần Quốc Tuấn.
Sau khi đánh lui được quân Nguyên Mông lần đầu ở Hưng Hóa năm 1258, tháng 10 âm lịch vào năm 1283,
để chuẩn bị kháng chiến lần 2 năm 1285, Trần Hưng Đạo được vua Trần Nhân Tông phong làm quốc công tiết chế thống lĩnh các lực lượng quân sự.
Thay vì tận hưởng cảnh Thái Bình với chức cao, lộng lớn, Hưng Đạo Vương vẫn đốc thuốc quân sĩ luyện tập không ngừng nghỉ.
Tháng 8 âm lịch năm 1284, ông cho duyệt quân ở Bến Đông Bộ Đầu và đọc bài Hịch Tướng Sĩ để khuyên răn tướng sĩ,
đại ý khuyên binh sĩ học tập và rèn luyện võ nghệ, khuyên các tướng học tập trận Pháp theo sách binh thư yếu lược,
chuẩn bị cho cuộc chiến, rồi chia quân đóng giữ bình than và các nơi hiểm yếu khác.
Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, lột da, nuốt gan, uống máu quân thủ,
đẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn sắc này gói trong da ngựa, ta cũng vui lòng.
Chích Hịch Tướng Sĩ
Đầu năm 1285, tức 27 năm sau, quân Nguyên Mông lại ảo ạt tiến công vào phía Bắc,
vào vùng Thanh Hóa, Nghệ An. Để bảo toàn lực lượng và thực hiện kế Thanh Giã, vườn không nhả chống,
Trần Hưng Đạo gian lệnh rút quân. Quân xâm lược vào Thăng Long rồi tiến xuống thiên trường,
vùng Nam Định, đuổi theo vua Trần. Vua Trần thánh tâm lo ngại, vừa hỏi ông xem có nên hạng không?
Ông khẳng khái trả lời, Bệ hạ chém đầu tôi rồi hãy hạng.
Tháng 5, dương lịch, năm 1285, ông vạch kế hoạch tổng phản công.
Chỉ sau một tháng chiến đấu quyết liệt với các trận Hàm Tử, Trường Dương, Tây Kết,
Vạn Kiếp, quân dân nhà Trần đã đánh tan đội quân Nguyên Mông, giải phóng đất nước.
Thoát hoàn phải chui vào ống đồng để trốn chạy về nước.
Cuối năm 1287, nhà Nguyên xâm lược lần thứ ba, Trần Nhân Tông hỏi.
Năm nay đánh giặc thế nào? Trần Hưng Đạo đáp. Năm nay thế giặc nhàn.
Khi Triều Trần muốn tuyển mộ thêm quân, Trần Quốc Tuấn nêu nguyên tắc.
Quân cần tinh, không cần nhiều, và chính mình giàn quân theo nguyên tắc đó.
Khi đoàn thuyền lương đối phương bị tiêu diệt ở Văn Đồn,
Chủ tướng là Hoàng tử Thoát Hoàn phải rút lui.
Ông bố trí lực lượng Mai Phục ở Cửa Sông Bạch Đăng
trực tiếp tổ chức chiến trường tiêu diệt toàn bộ binh thuyền của Âu Mã Nhi vào tháng 4 năm 1288.
Thoát Hoàn nghe tin đội quân thủy đã vỡ tan rồi, liền dẫn tàn quân tháo chạy về nước.
Dọc đường bị quân Việt đón đánh, khiến quân sĩ 10 phần tổn hại mất 5 tám phần.
Tháng 4 năm 1289, luận công đánh đuổi quân Nguyên Mông, Trần Hưng Đạo được phong tước Hưng Đạo Đại Vương.
Sau đó, ông lui về ở Vạn Kiếp là nơi ông được phong ấp.
Này thuộc xã Hưng Đạo, thị xã Trí Linh, tỉnh Hải Dương.
Tháng 6 năm 1300, ông Lâm Bảnh được vua Trần Anh Tông tới thăm và hỏi về kế sách chống ngăn giặc phương Bắc.
Nếu chẳng may ông mất đi, giặc phương Bắc lại sang xâm lấn thì kế sách làm sao?
Ông đã trăng chối những lời cuối cùng, thật thấm thiế và sâu sắc cho một thời đại dựng nước và giữ nước.
Thời binh phải khoan thư sức dân để làm kế sâu gốc bền dễ, đó là thượng sách giữ nước.
Chữa mãi không khỏi bệnh, ông mất vào ngày 20 tháng 8 âm lịch năm ấy, họ khoảng 70 tuổi.
Khi sắp mất, Trần Hưng Đạo dặn các con rằng, ta chết thì phải hỏa táng, lấy vật tròn đựng xương,
bí mật trồn trong vườn an lạc, rồi san đất và trồng cây như cũ, để người đời không biết chỗ nào lại phải làm sao cho mau mục.
Nghe tin Trần Hưng Đạo mất, triều đình nhà Trần phong tặng ông là Thái Sư Thượng Phụ Quốc Công,
nhân vũ Hưng Đạo Đại Vương. Ông được nhân dân cả nước tôn vinh là Đức Thánh Trần
và lập đền thờ ở nhiều nơi, song nổi tiếng hơn cả là đền kiếp bạc ở xã Hưng Đạo, Trí Linh, Hải Dương.
Đây là nơi ông lập căn cứ, tích chữ lương thực, huấn luyện quân sĩ trong các cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông.
Công lao sự nghiệp của ông khó kể hết, vua coi như bậc trưởng phu, chăm họ kính trọng ông,
gọi là Hưng Đạo Đại Vương. Trần Hưng Đạo là một anh hùng dân tộc, một danh nhân văn hóa Việt Nam.
