Tóm Tắt: Triều Đại Nhà Đường (618 - 907) II Tang Dynasty - Tóm Tắt

Đình Sự
537 người theo dõi
Tiêu đề: Tóm Tắt Nhanh Triều Đại Nhà Đường (618-907) II Tang Dynasty II Tóm tắt
Thời kỳ Tùy mạc Đường sơ đến khi thành lập nhà Đường.
Nhà Đường là một triều đại rực rỡ và hùng mạnh trong lịch sử Trung Quốc, là sự kế tục của nhà Tùy (581-618) và là tiền thân của thời Ngũ Đại Thập Quốc (907-979). Đó cũng là thời kỳ vàng son của một nền văn hóa đa sắc tộc, hùng vĩ, thịnh vượng và đầy sức sống.
#toiyeubinhduong #riviubinhduong #toiyeushenyun #vanhoatruyenthong
Nhà Đường là một triều đại rực rỡ và hùng mạnh trong lịch sử Trung Hoa,
là sự kế tục của Nhà Tùy và là tiền thân của giai đoạn ngũ đại thập quốc.
Đây được xem là thời kỳ vàng son của một nền văn hóa đa sắc tộc,
hùng vĩ, thịnh vượng và đầy sức sống.
Sau khi Hoàng đế Nhà Tùy là Tùy Giạng Đế đã thất bại trong việc xâm lược câu Cao Ly đến tận ba lần,
dường như quốc lực của Nhà Tùy đã suy yếu trầm trọng,
kéo theo hàng loạt các cuộc khởi nghĩa của nông dân nổ ra trên khắp lãnh thổ.
Năm 617, với sự trợ giúp của Đông Đột Quyết,
Lý Nguyên đã cùng các con trai đứng lên khởi nghĩa chống lại Tùy Triều ở Thái Nguyên.
Mùa đông năm ấy, sau khi chiếm được kinh đô Đại Hưng,
Lý Nguyên lập cháu nội của Tùy Giạng Đế là Dương Hữu lên làm Hoàng đế tại Trường An,
tức Tùy Cung Đế, rồi tôn Giạng Đế làm Thái Thượng Hoàng.
Lý Nguyên giữ vai trò nhiếp chính cho Hoàng đế bù nhìn.
Tháng 6 năm 618, sau khi nhận được tin Thượng Hoàng Giạng Đế bị vũ văn hóa cập hạ sát,
Lý Nguyên liền phế bỏ ngôi vị của Cung Đế, rồi tự mình lên làm Hoàng đế,
tức Đường Cao Tổ, đổi quốc hiệu là Đại Đường, nhà Tùy đến đây coi như chấm dứt.
Trong thời gian trị vị của Đường Cao Tổ, ông tập trung vào việc thống nhất quốc gia,
nhờ có công lao to lớn của Tần Vương Lý Thế Dân,
quân Đường đã đánh bại được các đối thủ lớn như Lý Quỹ, Đậu Kiến Đức, Vương Thế Sung,
Tiết Nhân Cảo hay Lưu Vũ Chu, và một số quân chủ là các thủ lĩnh khởi nghĩa nông dân,
Vào năm 623, Phụ Công Thạch Tự Sưng là Hoàng đế ở Đan Dương,
nhưng không lâu thì Phụ Công Thạch cũng bị giết, nhà Đường thu hồi được khu vực này.
Đường Cao Tổ cho thực hiện nhiều cải cách nhằm giải quyết các vấn đề nội bộ,
vì nó từng là mối họa của các triều đại trước đó.
Ông ban hành Bộ Pháp Điển mới, gọi là Đường Luật,
trở thành cơ sở cho hệ thống luật pháp của các triều đại sau này.
Ông cũng tiến hành giảm thuế và bãi bỏ một số hình phạt khắc nghiệt,
nhờ những việc làm này đã giúp nhà Đường ổn định và phát triển.
Bên cạnh đó, nhà Đường còn được biết đến là thời kỳ hoàng kim của văn học và nghệ thuật của Trung Hoa.
Cả đạo giáo lẫn Phật giáo đều được triều đình bảo hộ và hưởng nhiều chính sách yêu đãi.
Năm 626, do tranh chấp với Thái Tử Lý Kiến Thành và Tề Vương là Lý Nguyên Cát,
Lý Thế Dân đã gây ra sự biến huyền vũ môn, giết chết cả hai người tại Trường An.
Đường Cao Tổ do lo sợ về các hành động sau này của Thế Dân,
nên ông đã chủ động nhường ngôi cho Lý Thế Dân, tức là Đường Thái Tông, bản thân trở thành Thái Thượng Hoàng.
Thời gian trị vị của Đường Thái Tông được coi là thời kỳ vĩ đại và thịnh vượng mở đầu cho giai đoạn trình quán tri trị.
Có thể nói ông là vị vua giỏi về việc cai trị quốc gia.
Vào những thời gian đầu, chính bản thân ông cũng mong giảm đi sự xa xỉ và tiết kiệm cho đất nước của mình.
Cũng theo truyền thuyết mà đến bây giờ khi nhắc đến cũng phải nhận ra, đó là vào năm 629,
có một vị sư tên là Đường Huyền Trang lên đường đi đến Tây Thiên để lấy kinh, được ông kết bái làm huynh đệ.
Một tuổi thơ dữ dội lại ùa về với tựa phim Tây Du Ký.
Trên thực tế, đây cũng là một nhân vật có thật trong lịch sử Trung Hoa.
Với cái tên là nhà sư Huyền Trang, ông đã độc hành đến Ấn Độ để mang các bản gốc của Kinh Phật,
nhằm mục đích đem về đại đường để biên dịch lại.
Quay lại chủ đề chính, sau khi ổn định tình hình trong nước,
Đường Thái Tông cũng theo đuổi chính sách bành trướng lãnh thổ.
Năm 630, nhân lúc Đông Đột Quyết xảy ra nội loạn,
tướng Lý Tịnh đã dẫn quân bắt phạt bắt sống Khả Hãn hiệt lợi và tiêu diệt nước này.
Đông Đột Quyết trở thành trư hầu của nhà đường, Đường Thái Tông được tôn xưng là Thiên Khả Hãn.
Tận đến năm 646, lãnh thổ này chính thức rơi vào tay của nhà đường.
Năm 634, Vĩnh An Cung bước đầu đã được hoàn thành, mục đích là để cho Thượng Hoàng tránh nóng.
Nhưng chỉ qua năm sau, năm 635, Thượng Hoàng Đường Cao Tổ đã băng hà, hưởng thọ 69 tuổi.
Trong những năm cuối đời, Thái Tông tiếp tục thực hiện các chiến dịch lớn về phía Tây,
nhắm vào các tiểu quốc ốc đảo nằm dọc theo con đường tơ lụa tại lòng chảo Ta Rim như Cao Sương, Yên Kỳ và Quy Tử.
Thổ Cốc Hồn cũng không ngoại lệ, nhà đường dễ dàng thụ địa hóa những nơi này.
Tại Cao Câu Ly lúc này đang có loạn, một vị đại thần là tuyển cái Tô Văn đã giết vua Cao Vũ,
rồi lập Cao Tạng Tiếm Ngôi và đem quân đánh một nước nhỏ là Tân La,
khiến nữ hoàng Tân La là thiện đức phải cầu cứu nhà đường.
Năm 645, đường Thái Tông thân trinh từ Lạc Dương đem quân đánh vào Cao Câu Ly,
nhưng kết quả không như mong đợi, do quân đường không hạ nổi thành nên phải rút về.
Vào giây phút cuối cùng của cuộc đời, Thái Tông phải chứng kiến cảnh con trai của mình là Thái Tử Lý Thừa Càn,
âm mưu phản bội, thậm chí muốn giết mình để chiếm đoạt ngai vàng.
Tuy nhiên, âm mưu này đã bị bại lộ, Thái Tông cũng không nỡ giết con mình,
chỉ đầy đi tứ xuyên, một năm sau Lý Thừa Càn đã chết tại đó.
Đường Thái Tông lúc này trong người đang bệnh nặng bởi chính thứ thuốc mà ông khao khát được sống trường sinh bất tử.
Năm 649, đường Thái Tông băng hà, hưởng thọ 51 tuổi, Thái Tử Lý trị lên ngôi kế vị, tức đường Cao Tông.
Những năm đầu tiên trị vì, đường Cao Tông rất tin tưởng vào trưởng tôn vô kỵ và trữ tại lương.
Hai người này ra sức phò giúp Cao Tông nên chiều chính vẫn ổn định như thời trinh quán, được xưng là Vĩnh Huy Tri Trị.
Sau khi Thái Tông qua đời, đường Cao Tông tiếp tục cho quân đội khoét trương thế lực về phía Tây.
Năm 657, sau khi tướng là Tô Định Phương đánh bại được khả hãn A Sử Na hạ lỗ,
hãn quốc của Tây đột quyết chính thức bị đại đường thôn tính.
Nói chung, đường Cao Tông kế thừa cơ nghiệp và giữ gìn di sản của cha mình một cách xuất sắc.
Lãnh thổ nhà đường dưới thời của ông được khoét đại thông qua các cuộc trinh phạt cao câu ly, bách tế và Tây đột quyết,
khiến cho uy thế đại đường ngày càng vững chắc.
Quay trở lại nội bộ trong triều đình,
đường Cao Tông yêu thương người con trai thứ tư là ùng vương Lý Tố Tiết do tiêu thục Phi sinh ra và muốn lập Tố Tiết làm hoàng thái tử.
Nhưng vương Hoàng hậu không đồng ý, muốn lập con nuôi là Lý Trung làm hoàng thái tử,
nên bà đã mua chuộc các đại thần trong triều để ủng hộ mình.
Tháng 7 năm 652, Cao Tông Hoàng đế theo ý của quần thần sách lập Lý Trung làm hoàng thái tử và ra lệnh đại xá thiên hạ.
Tiêu thục Phi lúc này tức điên não, nhưng cũng không làm gì được.
Cũng trong năm này, xảy ra việc mưu phản của các hoàng thân, âm mưu lập kinh vương là Lý Nguyên Cảnh lên làm hoàng đế.
Tuy nhiên sự việc này không thành công, tất cả đều bị giết chết.
Bước ngoặc thay đổi nhà đường cũng chính là vào thời khắc này,
khi sự đố kỳ và ganh ghét giữa tiêu thục Phi và vương Hoàng hậu dẫn đến việc võ thị được lập làm hoàng hậu.
Võ tài nhân vốn là người gian manh xảo quyệt.
Từ khi vào cung đã ra sức lấy lòng Cao Tông và vương Hoàng hậu,
với những thủ đoạn tàn nhẫn và đầy toan tính,
đến khi có địa vị trong trốn cung đình rồi, bà đã bắt đầu kế hoạch của mình.
Một trong những thuyết âm mưu nổi tiếng nhất cho rằng,
chính bà đã giết con gái và đổ lỗi cho vương Hoàng hậu,
khiến bà ta bị đường Cao Tông thất sủng.
Tiêu thục Phi cũng không ngoại lệ, về sau còn chặt hết tay chân của hai người chỉ để đem đi ngâm rượu.
Trong khi đó ngôi vị thái tử cũng được thay thế bởi Lý Hoàng,
con trai trưởng của võ Hoàng hậu.
Còn Lý Trung bị phế, sau này cũng bị kết tội mưu phản rồi bị giết chết.
Lúc này, vua Cao Tông bắt đầu phát bệnh đau đầu kinh niên,
quyền hành trong chiều dần dần rơi vào tay của võ Hoàng hậu.
Từ những năm 670, do mặt trận chiến tuyến quá dài, không thể kiểm soát chặt chẽ,
những thành tựu đạt được đều bị thua về tay Tân La và Thổ Phiên,
quốc lực nhà đường trở nên cạn kiệt nên buộc phải hòa hoãn.
Sau khi cùng với Tân La tiêu diệt Cao Câu Ly vào năm 668,
khu vực vừa chiếm được cũng xảy ra nhiều cuộc nổi loạn,
cộng thêm sự công kích của Tân La.
Đầu năm 676, đường Cao Tông buộc phải rời An Đông Đô Hộ Phủ về Liêu Đông,
nên hầu hết bán đảo Triều Tiên rơi về tay của Tân La.
Lúc này, quyền lực của võ Hoàng hậu đã rất lớn mạnh.
Mỗi khi Cao Tông lên chiều bàn chính sự,
võ Hoàng hậu đều đứng sau dèm để cùng nghe việc ngước.
Sử gọi là Nhị Thánh Lâm Triều,
nhiều người nghi ngờ chính bà là người ra tay sát hại con ruột là Thái tử Lý Hoàng
khi ông đột ngột qua đời năm 675.
Còn Thái tử kế tiếp là Lý Hiền,
tuy cam chịu thủ phận nhưng vẫn bị mẹ khép vào tội mưu phản và đày đến biên ải,
ít lâu sau thì bị bức tử.
Lập con trai thứ bảy là Lý Chiết,
sau đổi thành Lý Hiền lên làm Thái tử.
Tháng 12 năm 683,
đường Cao Tông bệnh nặng rồi băng hà ở Điện Trinh Quan.
Hưởng thọ 56 tuổi,
Thái tử Lý Hiền lên nối ngôi,
tức đường Trung Tông.
Võ Hoàng hậu trở thành Hoàng Thái hậu,
nắm giữ toàn bộ quyền lực trong triều đình.
Nhưng chỉ được một thời gian ngắn,
Võ Thái hậu đã tuyên chiếu phế chuất Hoàng đế làm Lư Lăng Vương,
rồi giam lỏng ông ở biệt sở.
Lập tương vương là Lý Đán lên ngôi,
tức đường Duệ Tông.
Trong khoảng thời gian đó,
nhiều cuộc khởi nghĩa chống lại Võ Hậu đã nổ ra,
lấy danh nghĩa khôi phục hoàng vị cho Lý Hiền,
nhưng các cuộc khởi nghĩa này trước sau đều thất bại.
Hậu đột quyết cũng hình thành,
rồi phát triển chống lại nhà đường.
Năm 690,
Võ Thái hậu chính thức lấy ngôi nhà đường,
xưng là nữ hoàng,
lập ra nhà Võ Chu,
rời Kinh Đô về Đông Đô,
đổi tên là Thần Đô,
trở thành hoàng đế nữ đầu tiên
và duy nhất trong lịch sử Trung Hoa.
Đường Duệ Tông bị dáng xuống làm thái tử
và bị buộc phải đổi sang họ Võ.
Trong khoảng thời gian trị vì,
về mặt đối nội,
Võ Tắc Thiên tập trung phát triển kinh tế và xã hội,
duy trì được sự ổn định trong nước.
Về mặt đối ngoại,
bà tiến hành các cuộc chiến ở nội Á,
giành lại quyền kiểm soát lãnh thổ của An Tây Đô Hộ Phủ
từng rơi vào tay người Thổ Phôn.
Vào năm 698,
theo lời khuyên của địch Nhân Kiệt,
Võ Tắc Thiên cho đón Lý Hiển,
cùng vợ và các con về Kinh Thành.
Lúc này,
lãnh thổ của Võ Chu do bị hậu đột quyết liên tục quấy phá
nên có phần thu hẹp.
Tuy nhiên đến năm 703,
một số khu vực cũng được khôi phục lại đáng kể.
Sau 15 năm ở ngôi Thiên Tử,
Võ Tắc Thiên cuối cùng cũng bị ép phải thoái vị
vào tháng 2 năm 705
trong một cuộc chính biến cung đình.
Vài tháng sau,
bà cũng qua đời.
Đường Trung Tông được trở lại ngôi vị
cho khôi phục quốc tính thành họ Lý
và quốc hiệu là nhà đường như cũ.
Nhưng từ khi phục vị,
vi hậu lại noi theo võ hậu khi trước.
Thường cùng Trung Tông lâm chiều nghe chính sự,
bắt chức võ hậu ngồi đằng sau bức giảm.
Sử gọi là Thùy Liêm Thính Chính.
Nội cung lại rơi vào tình trạng ngàn cân treo sợi chỉ,
hỗn loạn vô cùng.
Thái Tử Lý Trọng Tuấn cũng bị giết chết
dưới bàn tay của vi hậu và An Lạc Công Chúa.
Thêm vào việc hai công chúa là
Thái Bình Công Chúa và An Lạc Công Chúa.
Cả hai kết bè kết đảng rồi mưu hại lẫn nhau.
Vi hậu cũng lập bè phái trong chiều,
phụ họa với An Lạc bí mật
bỏ độc vào bánh của đường Trung Tông.
Tháng 7 năm 710, đường Trung Tông bị trúng độc.
Bang Hà ở thần Long Điện hưởng thọ
55 tuổi. Vi hậu hạ lệnh không phát tang
cho người giả mạo di chiếu.
Lập ôn Vương Lý Trọng Mậu,
năm đó được 16 tuổi, lên nối ngôi.
Tự xưng là đường Thương Đế.
Tuy nhiên, chỉ 16 ngày sau,
Thái Bình Công Chúa và Lâm Chi Vương là Lý Long Cơ
lại phát động một cuộc chính biến đường Long,
giết Vi hậu và An Lạc Công Chúa,
phế Thương Đế, rồi tôn đường Duệ Tông
đăng cơ lần thứ hai.
Vậy là âm mưu xưng đế của mẹ con Vi hậu
đã tiêu tan, bước đầu dẹp yên
được tình trạng hỗn loạn sau hơn 20 năm.
Tương tự như Trung Tông trước đó,
Duệ Tông hoàn toàn không có thực quyền,
khi bản thân ông lại bị Thái Bình Công Chúa khống chế.
Tình trạng nữ nhi tham chính
chỉ kết thúc khi Duệ Tông chuyển ngôi cho Lý Long Cơ,
tức đường Huyền Tông,
và âm mưu chính biến của Thái Bình Công Chúa
bị dập tắt vào năm 712,
về sau cũng bị hạ sát.
Nhà đường bước vào giai đoạn đỉnh cao dưới triều đại
của đường Huyền Tông với thời gian kéo dài 44 năm,
một thời kỳ hoàng kim và được xem
là một nhà lãnh đạo đẳng cấp và nhân tử.
Năm 714,
ông lập con của Sùng Phi là Lý Tự Khiêm
làm thái tử, Liêu Sùng làm tể tướng.
Năm 716, Thái Thượng Hoàng Bang Hà
ở Bách Phúc Điện hưởng dương 54 tuổi.
Tuy nhiên, từ cuối đời của khai nguyên,
Huyền Tông lao vào ăn chơi xa xỉ,
lại sùng ái Quý Phi là dương Thái Chân
mà bỏ bê chính sự, mầm mống của sự diệt vong
dần dần xuất hiện. Để có chi phí
cho chiến tranh, nhà đường lại tăng siêu thuế,
làm cho đời sống nhân dân nay cực khổ
lại càng khổ cực hơn, chính trị thì xuống dốc,
gian thần thì được trọng dụng,
lại ngăn chặn đường tiến thân của kẻ hiền sĩ
có ý đồ độc chiếm cả triều đình.
Năm 735, Minh Hoàng
theo lời đề nghị của trương Thủ Khuê
phong cho hai nghĩa tử của ông ta là
A. Lạc Sơn và sự tốt cán làm quan trong triều,
cho đổi tên thành An Lộc Sơn và sự tư minh.
An Lộc Sơn, một viên tướng gốc Túc
đặc đột quyết, được giao nhiệm vụ
chấn giữ biên giới, hắn phát triển thế lực,
nắm giữ trong tay toàn bộ khu vực Đông Bắc
và một phần ba binh mã của triều đình,
nên lấy cớ thanh trừng thừa tướng là Dương Quốc Trung
nhằm nuôi giấc mộng thành hoàng đế,
Quân của An Lộc Sơn vô cùng mạnh mẽ,
nhanh chóng tràn xuống phía Tây,
đánh chiếm được Lạc Dương.
Tháng 1 năm 756, ông tự xưng là yên đế
ở Lạc Dương, lấy niên hiệu là Thánh Vũ.
Tuy nhà đường giành được một số thắng lợi
sơ khởi, song quân đội triều đình,
vốn chủ yếu là dân binh, dưới chướng
quách tử nghi không thể chống cự lâu trước một đội
quân dày dặn kinh nghiệm của An Lộc Sơn.
Trước sự áp sát của quân nổi dậy,
triều đình nhà đường buộc phải triệt thoái khỏi trường An.
Trong lúc thái tử Lý Hanh chạy tới
Sơn Tây để mộ binh và đánh thắng được
một số trận lớn, giành lại một số vùng đất
ở phía Tây Bắc, thì vua Huyền Tông lại chạy
vào đất thục. Lúc này Lý Hanh cho
quân đóng ở Linh Vũ. Các quần thần
dân sớ nói rằng hiện vua không biết ở đâu,
trong nước không thể một ngày vô chủ, nên
xin thái tử lên ngôi. Tháng 8 năm
756, thái tử lên ngôi
hoàng đế, tức đường Túc Tông.
Khi hay tin thái tử đã lên ngôi,
Thượng Hoàng cũng quyết định công nhận ngôi vị
của Túc Tông. Cũng trong thời gian này,
người thổ phồn lợi dụng chiến loạn
ở Trung Nguyên nên đã đánh phá nhiều khu vực
nằm dưới sự kiểm soát của người Hán ở Trung Á.
Còn về chiến sự trong nước,
vào năm 757, An Lộc Sơn
đã bị con trai của mình là An Tự Khánh
sát hại. Thế lực quân Yên vì
thế cũng dần dần suy giảm. Thêm
vào việc An Tự Khánh lại bị Sử Tư Minh
giết chết. Vào tháng 4 năm 759,
Sử Tư Minh tự xưng là Yên Đế,
đặt niên hiệu là Thuận Thiên. Ngay
sau đó, ông cho quân tấn công và một lần
nữa chiếm được Lạc Dương, phân chia thiên hạ
với Nhà Đường. Chiến sự giữa quân Yên
và quân Đường cứ thế rằng có nhiều năm.
Xong chiến loạn chỉ kết thúc khi Sử Tư Minh
bị giết bởi chính con trai ruột của mình là Sử
Triều Nghĩa, rồi tự xưng làm Yên Đế.
Tuy nhiên, vì không đủ khả năng
đối phó với quân Đường, cộng thêm sự
giúp đỡ của người Hồi Cốt. Vào năm 763,
Sử Triều Nghĩa đã bị Nhà Đường
đánh bại, loạn an sự chấm dứt.
Lúc này, Thái Thượng Hoàng đã băng hà ở
Điện Thần Long và cho tận sau khi Đường
Túc Tông cũng qua đời, Thái Tử Lý Dự
lên nối ngôi, tức Đường Đại Tông, thì
Nhà Đường vẫn chưa thể khôi phục lại kinh đô
Lạc Dương. Không lâu
sau, nước Thổ Phiên bất ngờ cho quân
tấn công vào các châu gần biên giới, rồi
nhanh chóng chiếm được Trường An. Quân Thổ Phiên
vơ vét hết của cải trong ngân khố, cướp bóc
dân chúng, khiến cho lòng người oán hận.
Lúc này, Quách Tử Nghi được Đại Tông
cử sang Trường An, rồi dùng kế nghi binh
Phô Trương Thanh Thế, khiến Thổ Phiên
hoảng sợ. Chỉ sau hơn 10 ngày đóng
ở Trường An, Thổ Phiên hạ lệnh cho quân
nhanh chóng rút lui. Tuy vậy, có một
số châu ở vùng Kiếm Nam rơi vào tay
Thổ Phiên, Nhà Đường không giành lại được.
Năm 764, Đường Đại Tông
phong cho Ung Vương là Lý Quát
lên làm Thái Tử. Nói chung, thời đại
của Đường Đại Tông đánh dấu sự trỗi dậy
của các nước lân bang như Hồi Cốt, Thổ Phiên,
Đảng Hạng và Thổ Cốc Hồn, làm cho
lãnh thổ Nhà Đường bị ảnh hưởng trầm trọng.
Tháng 5 năm 779,
Đường Đại Tông lâm bệnh nặng, không lâu
sau ông Bang Hà, Thái Tử Lý quát lên
kế vị, tức Đường Đức Tông.
Sau khi kế thừa hoàng vị, Đường Đức Tông
đã có những bước đi sai lầm đối với thế lực
phiên chấn Cát Cứ, dẫn đến việc bốn chấn
ở Hà Bắc bất mãn và gây ra các cuộc nổi loạn
từ năm 781 đến
785, sự gọi là Loạn Tứ Chấn.
Giữa lúc tình hình bên ngoài
dối ghen, thì bên trong quân đội kinh nguyên
lại làm phản, buộc Đường Đức Tông phải
chạy loạn đến Phụng Thiên, sự gọi là
Sự Biến Phụng Thiên. May nhờ có Lý Thịnh
cùng một số tướng lĩnh khác chủ trì đại cuộc
mới có thể ổn định lại tình hình. Đường Đức
Tông trở về kinh đô cũ, nhưng vẫn
không ngăn cản được sự phát triển của thế lực
phiên chấn, gây nên nhiều hoạ loạn về
sau. Sau cuộc chính biến trên, Đường
Đức Tông ngày càng trở nên xa đoạ, xa
xỉ và lãng phí, dành sự tin tưởng quá
mức cho các hoạn quan, xa lánh các đại thần
có công, khiến nạn hoạn quan tham chính được
dịp nổi lên, chiều chính dần dần suy
sục. Trong lúc đó, thổ phồn
cũng liên tục quấy phá và chiếm lĩnh được
một số thị trường.
Năm 800 năm, Đường Đức Tông
băng hả, Thái tử Lý Tụng lên kế vị,
tức Đường Thuận Tông. Ông do bị
bại liệt nên không thể nói được, mỗi lần
lâm chiều đều phải ngồi sau rẻm, để
hoạn quan Lý Trung Ngôn và Nghiêu Chiêu Dung
đứng cạnh. Vào tháng 8 năm 800 năm,
các hoạn quan ép Thuận Tông xuống chiếu
nhường ngôi cho Thái tử Lý Tuần, tức Đường Hiến Tông.
Còn Đường Thuận Tông được tôn xưng làm
Thái Thượng Hoàng. Đến năm 806,
Thượng Hoàng Giá băng tại Hưng Khánh Cung,
có thuyết cho rằng ông bị hoạn quan đầu độc
giết hại.
Đường Hiến Tông được đánh giá là một vị
Hoàng đế Trăm lo chiều chính và đã nhận ra
mối nguy của các phiên chấn, nên quyết tâm
quét sạch chúng. Quân đội nhà Đường đã
đánh bại nhiều tiết độ xứ và phần lớn
các tiết độ xứ đều quy thuận chiều đình.
Năm 819, Dương Thanh nổi dậy
và chiếm lấy thành Đại La, nhưng sau này
nhà Đường cũng giành lại được quyền kiểm soát
vào năm 837.
Sau khi dẹp được các phiên chấn,
Hiến Tông Hoàng đế lại sinh ra
dâm dục, kiêu căng và sa sỉ.
Do lạm dụng quá nhiều đơn dược,
vào tháng 2 năm 820, Đường Hiến Tông
đột ngột qua đời. Nguyên nhân cái chết
của ông được cho là do một hoạn quan hạ độc
Thái tử Lý hàng lên kế vị, tức Đường Mục Tông
đặt niên hiệu là Trường Khánh.
Theo như trong sử sách,
từ Vua Mục Tông rồi đến Kính Tông,
cả hai đều không quan tâm đến chiều chính,
chỉ ham vui và đám chìm trong tửu sắc.
Các tiết độ xứ ở Hà Bắc Tam Trấn
đã quy phục dưới thời Đường Hiến Tông,
nhân cơ hội đó cũng vùng lên trở lại
uy hiếp đến chiều đình. Còn bên trong,
hoạn quan lộng quyền, nạn tham ô tràn lan
chăm dối như tơ vò, làm cho nhà Đường
bước vào thời kỳ suy vong. Về sau,
Đường Kính Tông bị hoạn quan Lưu Khắc Minh
giết chết. Sau khi các quân thần
sách trừ khử được một số hoạn quan,
rồi cho lập Giang Vương là Lý Hàm lên ngôi,
đổi tên là Lý Ngang, tức Đường Văn Tông.
Vào năm 829,
Nam Chiếu đã chiếm giữ
khu vực Thành Đô và bắt được
20.000 thợ giỏi của chiều đình.
Điều này làm cho Nam Chiếu có khả năng
đánh chiếm toàn bộ tỉnh Tứ Xuyên,
gây ảnh hưởng nghiêm trọng cho nhà Đường.
Nói chung trong thời gian trị vị của Đường Văn Tông,
nạn hoạn quan lộng quyền cũng chính là
lúc khó kiềm chế nhất. Văn Tông
mặc dù rất cố gắng để hạn chế quyền lực
của hoạn quan, sự biến cam lộ
đã được thực hiện. Nhằm thanh trừng các hoạn quan,
nhưng tiếc thay chiến dịch này đã hoàn toàn thất bại.
Ông Hầu như bị hoạn quan kiểm soát
và từ đó thì sống trong tâm trạng ú út
và tuyệt vọng cho đến khi qua đời vào
năm 840. Hoàng đệ là Lý Viêm
được hoạn quan lập lên ngôi, tức Đường Vũ Tông.
Trong thời gian Vũ Tông ở ngôi,
tình hình chiều chính có vài điểm khởi sắc
vì đã khống chế phần nào nạn phiên chấn
Thời kỳ này được gọi là Hội Sương Trung Hưng
Tuy nhiên, ông lại ra sức đàn áp
các tôn giáo, nhất là Đạo Phật, gây nên
một vụ trấn áp lớn gọi là Hội Sương Hủy Phật
làm cho Đạo Phật bị ảnh hưởng trầm trọng.
Đến năm 846,
Đường Vũ Tông băng hà, Thái Thúc là
Lý Thầm Tức Vị, Sử Sưng là Đường Tuyên Tông.
Trong thời gian ở ngôi của Đường Tuyên Tông,
lệnh cấm Đạo Phật đã được gỡ bỏ.
Chiều đình Đại Đường xuất hiện một thời đại hưng thịnh
Bây giờ, ở biên giới phía tây của nhà đường,
nước thổ phồn ngày càng suy yếu.
Nắm được tình hình này, Đường Tuyên Tông
chuẩn bị kế hoạch thu phục một số vùng đất
của thổ phồn, giành lại quyền kiểm soát
gián tiếp đối với một số lãnh thổ cũ ở phía tây
như Hành Lang Hà Tây và Đôn Hoàng ở Cam Túc.
Năm 858,
một trận lũ lụt đã xảy ra
làm ảnh hưởng đến Đại Vân Hà và Bình Nguyên Hoa Bắc
gây ra cái chết cho hàng chục nghìn người,
khiến cho kinh tế và đời sống
Những năm cuối đời,
Tuyên Tông cũng không khác gì một số vị hoàng đế tiền nhiệm,
tin theo chuyện thần tiên ma quỷ và mong được trường sinh bất tử.
Vào năm 859,
do lạm dụng đan dược của bọn đạo sĩ
nên Tuyên Tông đã băng hà,
các hoạn quan đã giả di chiếu lập Lý Ôn
làm hoàng thái tử, rồi tôn lên làm hoàng đế,
tức Đường Ý Tông.
Trong 14 năm chấp chính, Ý Tông cũng giống như
thời của Mục Tông và Kính Tông bỏ B chiều 9,
ham mê tử sắc làm kiệt quệ ngân khố,
mở ra các cuộc khởi nghĩa của nông dân nổi dậy,
khiến chiều đại này rơi vào tình trạng
suy yếu cực độ đến mức không thể cứu vãn.
Trong khi đó, vùng Tây Nam Đại Đường
mặc dù không bị ảnh hưởng bởi nạn đói,
song lại rơi vào họa chiến tranh
với Nam Chiếu.
Năm 863, Nam Chiếu đã chiếm lấy An Nam,
nhà đường phải mất 3 năm để xử lý,
hỗn loạn vô cùng.
Đến năm 873, Đường Ý Tông qua đời,
con trai là Lý Nghĩa mới 11 tuổi
lên thay, tức Đường Hy Tông.
Nạn đói nghiêm trọng vẫn đang xảy ra
do hạn hán kéo dài, nhưng không có một hành động nào
từ chiều đình được ban ra.
Người dân đã mất hy vọng vào nước nhà,
họ tụ tập thành các nhóm rồi đi khắp nơi
để cướp lương thực.
Năm 875, một nhóm dân lưu tán được tập hợp
với số lượng đông đảo và dưới sự lãnh đạo
của Vương Tiên Tri và Hoàng Sáo.
Buộc chiều đình có những lúc phải ngồi xuống hòa đàm.
Tuy nhiên đến năm 878,
Vương Tiên Tri qua đời, Hoàng Sáo lên thay thế.
Công cuộc nổi dậy được tiếp tục
với quy mô ngày càng to hơn.
Sử gọi đây là loạn Hoàng Sáo.
Năm 879, Hoàng Sáo chiếm được Quảng Châu.
Đến mùa đông năm 879,
do quân lính không quen với khí hậu
ở vùng nhiệt đới nên sinh bệnh,
Hoàng Sáo đã quyết định thay đổi chiến thuật,
hạ lệnh cho quân tiến về phía Bắc.
Sau khi chiếm lĩnh được Lạc Dương,
Hoàng Sáo cũng nhanh chóng cho quân tiếp tục tiến qua Trường An.
Đường Hy Tông đã chủ động từ bỏ Kinh Thành
rồi chạy đến Thành Đô.
Hoàng Sáo sau khi tiến vào Trường An,
ông tự xưng là hoàng đế,
lập nên nước Đại Tể.
Quân Triều Đình đã cố gắng lật ngược thế cờ,
nhưng tình thế vẫn không được khả quan.
Trong khi đó, Dương Phục Quang thuyết phục Lý Khắc Dụng
giúp mình đánh vào Đại Tể để được xá tội.
Năm 882, Lý Khắc Dụng đồng ý tiến quân
và liên tục đánh bại được quân Đại Tể.
Vào mùa xuân năm 883,
Hoàng Sáo từ bỏ Trường An
và chạy về Quang Đông.
Quân đường nhanh chóng tái chiếm được Trường An.
Quân của Hoàng Sáo sau đó lại liên tục
thua trận trước quân của Triều Đình.
Cuối cùng tan rã, rồi bị giết chết.
Đại Tể chính thức diệt vong.
Đường Hy Tông không trở về Trường An ngay lập tức.
Sau khi Hoàng Sáo bị giết,
Tần Tông Quyền vẫn tiếp tục chống lại Triều Đình.
Tự xưng là hoàng đế,
ông mở rộng lãnh thổ của mình ra xung quanh.
Thậm chí còn chiếm được đông đô Lạc Dương
vào năm 885 đến năm 886.
Xong đến cuối cùng,
ông cũng chiến bại trước tướng Chu Toàn Trung của nhà đường.
Trong khi đó,
đế chế đại đường vẫn tiếp tục sụp đổ.
Các thiết độ xứ giao chiến với nhau để tranh giành quyền uy.
Và một trong các mâu thuẫn chủ chốt là
giữa Chu Toàn Trung và Lý Khắc Dụng.
Hai nhân vật có quân sự hùng mạnh đối địch nhau
để tranh giành quyền kiểm soát miền Bắc Trung Hoa.
Lúc này, đường Hy Tông cũng trở về Trường An.
Một tháng sau,
đường Hy Tông lâm bệnh rồi qua đời.
Hoàng đệ là Thọ Vương Lý diệp lên làm hoàng đế,
tức đường Triều Tông.
Tuy nhiên, quyền lực của triều đình Trung ương
bây giờ đã không còn như xưa.
Với thế lực ngày càng lớn mạnh,
quân Việt của Chu Toàn Trung dễ dàng giành được quyền kiểm soát
kinh đô Trường An để khống chế thiên tử.
Năm 903, Chu Toàn Trung ép đường Triều Tông
phải rời đô đến Lạc Dương
chuẩn bị cho âm mưu xoán vị.
Đến năm 904, ông sát hại đường Triều Tông,
rồi tôn hoàng tử là Lý Trúc mới 12 tuổi
làm hoàng đế mới, tức đường Ai Đế.
Năm 907,
Chu Toàn Trung chính thức xoán ngôi nhà đường
rồi lập nên nhà hậu lương.
Nhà đường đến đây chấm dứt nhưng lại mở ra
thời kỳ ngũ đại thập quốc với những chiến sự
vô cùng phức tạp.
Xin cảm ơn các bạn đã theo dõi và ủng hộ
kênh Tóm Tắt Bách Sử trong thời gian vừa qua.
Hãy để lại suy nghĩ của bạn ngay bên dưới
phần bình luận và đừng quên like,
đăng ký ủng hộ cho kênh để kênh có thêm
động lực ra nhiều video hơn nữa.
Một lần nữa xin chân thành cảm ơn các bạn.
