"Chào Mừng Các Bạn Đến Với Kênh Thiên Hà TV Video Ngày Hôm Nay Của Chúng Ta: Bạn Sẽ Không Tin Có Người Đang Sống Ở Những Nơi Khiến Cả Thế Giới Rùng Mình Này | Thiên Hà TV ------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------ Bạn sẽ thích video này: https://youtu.be/glzxZUIlunM Đây là một điều thú vị: https://youtu.be/16QbRoMSzXs Video này hay quá, không thể bỏ lỡ: https://youtu.be/8aovlxWO-hA ------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------ Thiên Hà TV là nơi chia sẻ những kiến thức thú vị và bổ ích về khoa học, khám phá vũ trụ, khám phá thế giới và những điều bí ẩn đầy cuốn hút. Nếu bạn yêu thích nội dung của kênh, đừng ngần ngại like, bình luận, chia sẻ video và đăng ký Thiên Hà TV để không bỏ lỡ những hành trình khám phá kỳ thú tiếp theo nhé! Tham gia hội viên của Thiên Hà TV để ủng hộ chương trình: https://www.youtube.com/channel/UCTniCbwkP-Hc3lSPiI9tU6Q/join ------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------ Chúng tôi không sở hữu đầy đủ tài liệu được biên soạn trong video này. Nó thuộc về những cá nhân hoặc tổ chức xứng đáng được tôn trọng. Chúng tôi sử dụng theo: Tuyên bố từ chối trách nhiệm bản quyền, phần 107 của Đạo luật bản quyền năm 1976. ""Sử dụng hợp pháp"" được cho phép cho các mục đích như phê bình, bình luận, đưa tin, giảng dạy. học bổng và nghiên cứu. - Bản quyền âm nhạc thuộc: Audio Library - YouTube, storyblocks và elements envato - Bản quyền hình ảnh họa thuộc: storyblocks và elements envato ------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------ #thienhatv #bian #khampha"
Giữa thế kỷ 21, khi cả thế giới đang mại nói về thành phố thông minh, tàu điện ngầm tự động và những tòa nhà chạm mây, thì vẫn còn những nơi con người phải sống giữa rác, khói và tuyệt vọng.
Ở đó, nhà có thể là một ngôi mộ, bữa ăn có thể nhặt từ đống phế thải và hàng xóm là những linh hồn vô danh trong bóng tối.
Hãy cùng chúng tôi bước vào hành trình qua những thành phố địa ngục khiến cả thế giới phải đùng mình, nơi sức sống con người mạnh hơn cả số phận.
Nghĩa trang Bắc Manila
Nếu không được báo trước, có lẽ bạn sẽ nghĩ đây là một khu dân cư nghèo như bao nơi khác ở thủ đô Manila của Philippines.
Những con hẻm hẹp, quần áo phơi chằn chịch, trẻ con nô đùa, người lớn nấu ăn giữa sân.
Nhưng khi nhìn kỹ, bạn mới nhận ra, dưới chân họ là những ngôi mộ, tường nhà là bi đá và mái hiên họ che nắng chính là phần mộ của người đã khuất.
Giữa lòng thủ đô Manila sầm ướt, nghĩa trang Bắc Manila tồn tại hơn một thế kỷ như một thế giới song song, nơi người sống và người đã mất cùng chia sẻ một mái nhà.
Nghĩa trang này ban đầu được xây dựng vào đầu thế kỷ 20 cho giới quý tộc Tây Ban Nha và tận lớp giàu có.
Nhưng theo thời gian, khi giá nhà đất tăng vọt và nghèo đói lan rộng, những người vô gia cư bắt đầu dựng nều, cơi nới, rồi biến các ngôi mộ thành nơi ở thật sự.
Ngày nay, hàng ngàn người đang sinh sống giữa hơn một triệu ngôi mộ.
Họ ngủ trên nắp quan tài, nấu cơm bên bàn thờ, phơi quần áo giữa những hàng bia lạnh.
Có những căn hộ hai tầng được xây chồng lên các lăng mổ cổ, có cửa sắt, quạt máy, tivi, thậm chí cả mạng Internet.
Trẻ con sinh ra ở đây đã quen với việc chơi trốn tìm giữa những tấm mổ khắc tên, coi đó như sân nhà của mình.
Cuộc sống diễn ra bình thường đến mức kỳ dị.
Người bán hàng rong vẫn đi qua mỗi đêm, tiếng loa phát thanh vẫn vai lên giữa lối đi hẹp.
Khi đem xuống, ánh đèn vàng yếu ớt hắt lên những bức tường khác chữ Latin, tạo nên cảnh tượng nửa thực, nửa mơ.
Như thế sự sống đang bám rễ giữa cõi yên nghỉ.
Thế nhưng, phía sau vẻ bình thẳng ấy là nghịch cảnh khốc liệt.
Những người sống trong nghĩa trang này không chọn nơi đây vì khác thường, mà vì không còn nơi nào khác.
Nhà ở tại Philippines, đặc biệt là ở Manila, đắt đỏ đến mức một căn phòng thuê nhỏ cũng vượt xa thu nhập cả tháng của họ.
Giữa rác, khói và lăn mộ, họ vẫn chọn cách tồn tại bằng nghề nhập ve chai.
Bán hàng nhỏ hay trông coi mộ phần để đổi lấy chỗ trú.
Nghĩa trang Bắc Manila là bức tranh cô đặc của sự chênh lịch giàu nghèo ở châu Á,
nơi nỗi sợ hãi đã nhường chỗ cho thói quen và nghèo đói hóa thành suất chịu đựng.
Giữa hàng triệu linh hồn im lặng, những con người nhỏ bé ấy vẫn thắp lên ngọn lửa sinh tồn,
bằng hơi thở, bằng nụ cười và bằng ý chí không chịu biến mất.
Ngay trong lòng quận Tondo ở thủ đô Manila của Philippines, có một ngọn núi mà không ai muốn chinh phục.
Nó không được tạo nên bởi đá hay đất, mà từ hàng triệu tân rác thải tích tụ suốt nhiều thập kỷ.
Người dân nơi đây gọi nó là Smoky Mountain, núi khói,
vì hơi nóng và khói độc từ rác cháy âm ị suốt ngày đêm chưa từng dừng lại.
Từ xa, khói xám cuộn lên phủ kính bầu trời, còn mùi rác cháy lên lõi trong từng hơi thở.
Thế nhưng điều khiến cả thế giới rùng mình không phải là ngọn núi rác,
mà là việc hàng chục ngàn người đang sống ngay trên nó.
Họ dựng nhà bằng tôm, gỗ vụn, ni lông và bất cứ thứ gì nhật được trong đống phế thải.
Dưới chân họ không phải là đất, mà là lớp rác dày đến mức,
mỗi bước đi đều phát ra âm thanh của nhựa vỡ và chai lọ kêu lào xạo.
Những đứa trẻ ở đây sinh ra và lớn lên cùng mùa rác cháy.
Ba ngày chúng lội qua những đống phế liệu để nhặt xác vụng, nhựa, giấy cũ bán lấy vài đồng.
Ban đêm, chúng ngủ trong căn nhà tạm, mái che bằng bao tải nhựa,
nghe tiếng rác cháy nổ lép bép dưới chân.
Ở nơi mà cái đói luôn đình rập, con người phải nghĩ ra cách để sống sót,
dù chỉ là bằng những thứ bị người khác vứt đi.
Từ những nhà hàng, quán ăn và xe rác của thành phố,
người ta nhặt lại thức ăn thừa,
như mảnh thịt gà, cá, cơm, rau rửa sạch, chiên lại rồi bán với giá rẻ.
Món ăn ấy được gọi là pat pat, nghĩa là phủi bụi.
Nó trở thành nguồn sống của hàng ngàn gia đình nơi đây.
Không ai biết rõ họ đã ăn bao nhiêu bữa pat pat trong đời,
chỉ biết rằng nhờ nó, họ có thể tiếp tục sống qua ngày.
Thỉnh thoảng giữa khói và mùi hôi vẫn vang lên tiếng cười.
Những người phụ nữ nấu cơm bên máy tôm nóng rực,
chia cho nhau từng miếng thức ăn nhặt được.
Trẻ con nô đùa quanh xe rác.
Và mỗi khi mưa lớn, cả khu như được gột rửa tạm thời,
để lại mùa đất ẩm dễ chịu hiếm hoi.
Năm 1995, chính quyền Philippines từng đóng cửa Smoky Mountain vì ô nhiễm nghiêm trọng.
Nhưng chỉ vài năm sau, người dân lại quay về.
Ở nơi khác, họ chẳng có gì.
Còn ở đây, ít ra họ vẫn có thể kiếm sống từ rác.
Ngày nay, khu vực quanh chân núi đã được xây lại phần nào.
Có nhà kiên cố hơn, có đường bê tông và máy tôm sáng.
Nhưng khói vẫn bóp lên, và sự nghèo vẫn chưa từng rời khỏi.
Smoky Mountain không chỉ là biểu tượng của đói nghèo,
mà còn là minh chứng cho bản năng sinh tồn mạnh liệt của con người.
Giữa rác, khói và trò, họ vẫn cười, vẫn yêu, vẫn hy vọng,
trong một thế giới mà ai cũng muốn vương lên bầu trời.
Ở Philippines vẫn có một ngọn núi khác,
nơi con người từng bước đi lên từ rác để tìm lại ánh sáng cho chính mình.
Giữa trung tâm Mumbai, thành phố được mệnh danh là trái tim kinh tế của Ấn Độ,
tồn tại một thế giới hoàn toàn trái ngược.
Trên diện tích chỉ khoảng 2km vuông,
hơn 1 triệu người chen chúc nhau sinh sống trong khu ổ chuột Dharavi.
Nơi mỗi mét vuông đất là sự pha trộn của mùi người,
mùi khói, mùi nước thải và cả mùi sắc nóng
từ những sưởng thủ công nhỏ hoạt động suốt ngày đêm.
Bước vào Dharavi giống như lạc vào một mê cung khổng lộ.
Những con hẻm nhỏ chỉ vừa đủ cho hai người đi ngược chiều.
Máy tồn thắp đến mức, có thể chạm tay.
Dây điện gian chằn chịch trên đầu.
Nước thải chảy thành dòng ngay sát cửa nhà.
Trẻ con chạy chân trần qua những vùng nước đen đặc.
Còn người lớn thì cầm cụi trong những căn phòng không cửa sổ,
chỉ sáng như một bóng đèn yếu ớt.
Nhưng giữa khung cảnh tưởng chừng tăm tối ấy,
Dharavi lại sống, và sống theo cách của riêng nó.
Ở đây, nghèo đói không đồng nghĩa với nhà nổi.
Trái lại, Dharavi là một cổ máy năng suốt khổng lộ.
Hàng trăm ngàn người làm việc trong hàng chục ngàn xưởng nhỏ.
Người ta tái chế nhựa, sản xuất xa phòng,
làm đồ da, gốm, may quần áo, thậm chí suốt khổ sang châu Âu.
Từng con hẻm là một dây chuyền sản xuất thu nhỏ,
nơi mỗi gia đình vừa là công nhân, vừa là chủ xưởng.
Theo ước tính, nền kinh tế phi chính thức của Dharavi
tạo ra giá trị hơn một tỷ đô la mỗi năm,
Thật khó tin, nhưng giữa khu ổ chuột lớn nhất châu Á này
vẫn có trường học, nhà thờ Hồi giáo, đền Hindu,
nhà thờ Thiên Chúa và cả phòng trưng bày nghệ thuật.
Nhiều nhiếp ảnh gia, nhà làm phim và kiến trúc sư
từ khắp thế giới đã đến đây.
Không chỉ để ghi lại cảnh nghèo,
mà để tìm hiểu cách một cộng đồng
có thể biến khổ cực thành nguồn sáng tạo.
Chính nơi này đã truyền cảm hứng cho bộ phim nổi tiếng
Triệu phú khu ổ chuột,
câu chuyện về một cậu bé lớn lên từ bùn đất
nhưng không bao giờ ngừng mơ ước.
Dharavi là một nghịch lý của thời hiện đại,
bẩn, chật, nghèo nhưng tràn đầy sức sống.
Giữa tiếng búa, tiếng máy khâu
và tiếng gọi nhau vang vọng trong hẻm tối,
ta cảm nhận được một nhịp điệu đặc biệt,
nhịp của những con người chưa từng buông xuôi.
Ở đây, giữa cái nghèo ngột ngạt,
sự sáng tạo lại bùng cháy mạnh nhất,
như ngọn lửa không bao giờ tắt
trong địa ngục năng suất của Ấn Độ.
Rời châu Á đông đúc để đến với châu Phi,
ta bắt gặp một thành phố khác,
không nằm trên đất liền mà nổi lên lên trên mặt nước.
Đó là Makoko,
khu định cư nghèo nhất của thành phố Lagos,
thủ phủ kinh tế của Nigeria.
Nhìn từ xa, Makoko giống như một mê cung gỗ khổng lồ
trải dài đến tận chân trời,
nơi những ngôi nhà, trường học và chợ
đều được dựng trên hàng ngàn cọc gỗ
đóng sâu xuống lòng đầm lầy.
Không ai biết chính xác Makoko hình thành từ bao giờ.
Có người nói nó ra đời từ hơn 100 năm trước,
khi những ngư dân đầu tiên đến đây dựng nhà tạm
để thuận tiện đánh bắt cá.
Nhưng theo thời gian, dân số tăng vọt
và những căn nhà tạm biến thành một thành phố thật sự,
một Venice đen của châu Phi.
Chỉ khác rằng ở đây, dòng nước mai màu đen đục
và mùi rái thải nồng nặt.
Cuộc sống ở Makoko vừa khắc nghiệt vừa phi thực.
Đường đi là những con kênh hẹp
và phương tiện duy nhất là những chiếc xuồng gỗ nhỏ.
Trẻ em học chèo thuyền trước khi biết đi bộ,
người lớn buôn bán ngay trên mặt nước,
từ cá, củi đến hàng tạp hóa.
Có những người sinh ra, lớn lên và chết đi
mà chưa từng đặt chân lên đất liền.
Dưới những ngôi nhà ấy là dòng nước đặc quánh,
lẫn dầu, rác và công trùng.
Mỗi khi mưa lớn, mùi hôi lại dâng lên,
cuộn tròn trong không khí như một lời cảnh báo tầm lặng.
Thế nhưng, giữa bức tranh xám sệt đó, Makoko vẫn sống,
vẫn có những âm thanh của chợ nổi,
tiếng trẻ con cười đùa,
tiếng búa gõ đều trên thân thuyền.
Các tổ chức thiện nguyện từng xây dựng
một ngôi trường học nổi bằng tre và thùng phi
để những đứa trẻ có thể học ngay giữa mặt nước,
một hình ảnh khiến cả thế giới phải ngạc nhiên và xúc động.
Chính quyền Nigeria từng nhiều lần tiên bố xóa bỏ Makoko,
cho rằng đây là khu xây dựng trái phép.
Nhưng dù bị phá giỡn, cư dân vẫn quay lại
vì họ không còn nơi nào khác để đi.
Ở Makoko, họ nghèo nhưng tự do.
Họ không có đất, nhưng có bầu trời và mặt nước.
Mỗi sớm mai, khi mặt trời đó rực chiếu xuống là nước đen,
người ta lại bắt đầu một ngày mới.
Vẫn đánh cá, vẫn buôn bắn,
vẫn miễn cười như thế nghèo đói không thể nhấn chìm được họ.
Makoko không phải là nơi của sự tuyệt vọng,
mà là nơi sự sống tìm được cách nổi lên dù không có nền móng.
Giữa làn nước ô nhiễm và bầu trời lộng gió,
thành phố này tồn tại như một phép ẩn dụ kỳ lạ,
rằng con người, dù ở đâu,
vẫn luôn biết cách đắm vào hy vọng để không chìm xuống.
Kibera
Rời những ngôi nhà nổi của Makoko,
hành trình dẫn ta đến Kenya,
nơi giữa thủ đô Nairobi sầm út
lại tồn tại một thế giới khác.
Kibera, khu ổ chuột lớn nhất châu Phi,
là một bê cung khổng lồ bằng tôm, gỗ và bùn,
trái dài trên sườn đồi rộng hơn 10 km vuông.
Đây là nơi sinh sống của khoảng 700.000 người,
và theo nhiều ước tính,
con số thực sự có thể vượt quá 1 triệu.
Đi qua Kibera,
người ta dễ quên rằng chỉ cách vài km
là những tòa nhà hiện đại,
trung tâm thương mại và khu phố ngoại giao sáng đèn.
Ở đây, đường đi chỉ là những lối đất đỏ,
mùa khô bụi bay mùa mịch,
còn mùa mưa thì ngập trong sình lầy.
Những căn nhà nhỏ xíu chật chội,
máy tôm nghỉ xét, vách đất mỏng
đến mức nghe rõ tiếng người hàng xóm.
Nước sạch và điện chỉ có ở một vài điểm chung,
còn nhà vệ sinh là những hố công cộng,
nơi hàng chục người cùng dùng.
Thế nhưng giữa khung cảnh đó,
Kibera vẫn có một nhịp sống riêng,
mạnh mẽ và ồn ào.
Mỗi sáng, tiếng búa, tiếng gọi hàng,
tiếng cười lại vang lên khắp ngõ.
Những người phụ nữ bày thang,
rau củ, quần áo củ.
Thành niên thi lập nhóm nhạc rap
kể về cuộc đời của mình.
Có người mở tiệm cắt tóc,
có người dựng quán internet cũ kỹ
với vài chiếc máy tính cắm dây chẳng chịch.
Cái nghèo chưa bao giờ ngăn họ làm việc và mớ ước.
Kibera không chỉ là một cua ổ chuột,
nó là cả một xã hội thu nhỏ
với trường học, nhà thờ, đền thờ,
trung tâm y tế và đạp chiếu phim.
Trong những rạp tạm bằng tấm bạch trắng,
những bộ phim hành động chiếu trên màn hình rung rinh,
lũ trẻ con cười vang, quên đi mùi buồn và cay đói.
Mỗi dịp lễ hội, âm nhạc lại vang khắp khuôn.
Tiếng trống, tiếng hát hòa vào tiếng người gọi nhau
bằng nhiều thứ tiếng khác nhau.
Vì Kibera là nơi hội tụ
của hàng chục tộc người di cư khắp Kenya
và các nước lân cận.
Nhiều tổ chức thiện nguyện đã đến đây,
xây cầu, đào diến, mở lớp học.
Nhưng chính người dân Kibera
mới là những người không ngừng tự nâng mình lên.
Tự họ dọn rác, sửa mái nhà,
chia sẻ bữa ăn cho nhau
trong những ngày giông bão.
Kibera là một nghịch lý đau lòng
nhưng cũng đẹp đẻ.
Nơi nghèo đói, bùng đất
và tình người cùng tồn tại.
Giữa mê cung ấy
vẫn có ánh sáng của nghị lực,
của âm nhạc,
của những nụ cười không bao giờ tắt.
Và có lẽ chính vì vậy,
Kibera dù bị gọi là địa ngục
vẫn ấm hơi người hơn
nhiều nơi xa hoa ngoài kia.
Nếu Nairobi là nơi con người
sống giữa bùng đất,
thì ở phía bắc châu Phi,
trong lòng thủ đô Cairo của Ai Cập,
lại có một thành phố khác
nơi người ta sống giữa rác.
Nằm dưới chân dạy núi Mocatam,
khu định cư mang tên Rabit City,
thành phố rác,
là nơi hàng chục ngàn người dân Ai Cập
thuộc cộng đồng Coptic sinh sống.
Từ nhiều thế hệ,
họ đã gắn đời mình
với công việc nhặt rác,
phân loại rác và tái chế rác.
Khi bước vào Rabit City,
điều đầu tiên đập vào mắt
là những con đường ngập trong túi ni lông,
chai lọ, hộp thiết,
vải vụn và thức ăn thừa.
Những chiếc xe chở rác
chất cao như núi
chạy ra vào suốt ngày đêm.
Mùi hôi bốc lên nồng nặt,
lên lõi vào từng khơi thở.
Thế nhưng,
dưới khung cảnh tưởng chừng
không thể chịu nổi ấy,
người dân nơi đây vẫn sinh hoạt bình thường.
Họ cười nói, buôn bán, nấu ăn
và thậm chí tổ chức lễ cưới
ngay giữa những ngọn đồi rác.
Người dân Mocatam
được gọi là Sabalin,
nghĩa là những người thu gom.
Mỗi gia đình phụ trách một khu vực của Cairo.
Thu rác mang về nhà
rồi phân loại thú công.
Nhựa, kim loại, giấy,
vải, tất cả đều được tách riêng.
Họ làm việc bằng tay,
không găng, không khẩu trang,
giữa bụi rác và đùi nhận.
Những đứa trẻ nhỏ xíu
cũng biết cách phân biệt từng loại rác,
đôi khi còn nhanh hơn cả người lớn.
Chính nhờ công việc tưởng chừng hèn mọ này
mà Cairo trở thành
một trong những thành phố
có tỷ lệ tái chế rác cao nhất thế giới.
Giữa những căn nhà siêu vẹo,
có cả nhà thờ, trường học
và cửa hàng tạp hóa nhỏ,
một số nhà còn treo đèn màu
và ánh thánh như cách để giữ
lấy niềm tin giữa môi trường đầy mùi phân hủy.
Có người nói,
ở Gapet City,
mỗi buổi sáng đều bắt đầu
bằng tiếng gạ gáy xen lẫn tiếng xe rác
và kết thúc bằng âm thanh
của hàng ngàn bạn tay
đang phân loại rác như ánh đèn vàng leo lét.
Công việc này không chỉ là mưu sinh,
mà đã trở thành bản sắc của cộng đồng.
Người Sabahlin tự hào
vì họ biến những gì
thế giới vứt bỏ thành thứ có ích.
Từ trong mùi hôi,
họ tìm thấy giá trị của lao động.
Từ những thứ bẩn thiểu,
họ tạo ra cơ hội cho con cái
được đi học, được mơ ước.
Gapet City là một nghịch lý sóng động,
nơi con người sống giữa rác,
nhưng tâm hồn lại trong trẻo
đến lạ thường.
Ở đó, ai cũng hiểu rằng
không có gì hoàn toàn vô dụng,
kể cả khi nó bị bỏ đi.
Và có lẽ cũng chính vì vậy,
giữa những đống phế thải ấy,
người ta vẫn tìm thấy
một điều vô giá.
Đó là phẩm giá của con người.
Thành phố tự xây
Orange Town ở Karachi.
Giữa những vùng ngoại ô bụi mù
của Karachi, thành phố lớn nhất
của Pakistan,
có một nơi đặc biệt đến mức
các nhà quy hoạch đô thị trên thế giới
vẫn gọi nó bằng cái tên rất lạ
thành phố tự xây.
Đó là Orange Town,
khu dân cư nghèo từng được xem là
ổ chuột lớn nhất châu Á,
nơi hơn 2 triệu con người đã dựng lên
một thành phố của riêng mình
mà không cần chờ ai giúp đỡ.
Ở Orange,
hầu hết mọi thứ để bắt đầu
từ con số 0.
Không nước sạch, không điện, không công thoát,
không đường nhựa.
Mỗi trận mưa, cả khu phố biến thành sông buồn.
Nhưng thay vì chờ chính quyền,
người dân tự bắt tay vào làm.
Họ góp tiền góp sức,
đào cống, đặt ống, lát đường.
Những người đàn ông sắn tay cầm sẻn,
phụ nữ gánh nước,
còn trẻ con thì giúp nhặt gạch,
kéo dây.
Khi công trình đầu tiên hoàn thành,
cả khu reo hò như vừa xây sông
một kỳ quan.
Từ đó phong trào tự xe lan rộng.
Mỗi ngôi nhà ở Orange
đều mang dấu vết của bàn tay chủ nhân.
Không hoàn hảo nhưng vẫn chảy.
Dọc theo những con đường hẹp,
người ta mở hàng quán nhỏ,
xưởng may, tiệm sửa xe.
Trẻ em đến học ở những lớp học tạm
được dựng bằng tôn và tre.
Không có quy hoạch bài bản,
nhưng bằng nỗ lực chung,
một khu ổ chuột dần biến thành thành phố thật.
Điều kỳ diệu ấy
được thế giới biết đến
nhằm một người tên Ashtar Hamid Khan,
một học giả Pakistan đã sống
cùng cư dân Orange trong nhiều năm.
Ông không đến để làm từ thiện,
mà đến để chỉ ra rằng
người nghèo có thể tự thay đổi
cuộc sống của mình.
Dưới sự hướng dẫn của ông,
dự án mang tên
Orange Pilot Project ra đời,
giúp hàng trăm ngàn hộ dân tự xây
hệ thống tác nước, nhà ở
và dịch vụ công cộng.
Mô hình ấy sau này được Liên Hiệp Quốc ca ngợi
là bài học về sức mạnh cộng đồng
và được áp dụng
tại nhiều quốc gia khác.
Ngày nay, Orange Town vẫn nghèo,
nhưng đã khá xa hình ảnh ổ chuột
của quá khứ.
Những con đường chính được lát gạch,
nhiều nhà có điện, có tivi,
có cả Internet.
Trẻ con đi học, người lớn đi làm
và những bức tường cũ kỹ
do được tô thêm bằng màu sân được rỡ.
Ở đây, người ta không chỉ
tìm thấy ý chí sinh tồn,
mà còn thấy niềm tự hào của một cộng đồng
biết tự đứng trên đôi chân của mình.
Orange Town
không phải là câu chuyện về sự giúp đỡ,
mà là câu chuyện về lòng kiên cường.
Trong một thế giới
nơi nhiều người vẫn chờ phép màu từ bên ngoài,
người dân nghèo của Pakistan
đã tạo ra phép màu của riêng mình.
Phép màu đến từ niềm tin rằng
chỉ cần cùng nhau,
họ có thể dựng lại cả một thành phố.
Rosinha
Nếu có nơi nào
khiến người ta bối rối giữa ranh giới
của thiên đường và địa ngục,
thì đó chính là Rosinha,
khu ổ chuột lớn nhất của thành phố Rio de Janeiro
ở Brazil.
Từ xa,
Rosinha trông như một bức tranh khổng lồ
phù kính sườn đồi.
Hàng chục ngàn ngôi nhà nhỏ xếp chồng lên nhau
rượt rỡ sắc màu.
Dưới chân đồi là đại lộ
dẫn thẳng ra bãi biển Copacabana,
biểu tượng của sự giàu có và xa hoa,
nơi du khách tắm nắng
và âm nhạc vang suốt đêm.
Thế nhưng,
chỉ cần bước vài trăm mét lên sườn đồi,
một thế giới khác hiện ra.
Những con ngõ nhỏ tối tâm,
dây điện chằn chịch,
tường nhà loanh lỗ, mùi ấm mốc
và khói nấu ăn hòa quyện trong không khí.
Rosinha là nơi
ở của hơn 200.000 người.
Phần lớn trong số họ
sống trong những ngôi nhà chọc chội,
không giấy tờ,
không nước sạch ổn định.
Dù vậy, khu ổ chuột này
lại có một nhịp sống mảnh liệt đến kỳ lạ.
Buổi sáng,
người dân xuống phố làm việc.
Phụ nữ bán hành rong,
đàn ông làm thuê trong các khu du lịch,
trẻ con đá bóng trên những sân xi măng loanh lỗ.
Ban đêm,
Rosinha sáng rực trong tiếng nhạc samba,
trống và tiếng reo hò.
Lễ hội, âm nhạc
và những điệu nhảy truyền thống
khiến cả khu đồi như sống dậy.
Dù nghèo,
người dân nơi đây vẫn tìm thấy niềm vui
trong từng khoảnh khắc,
vì họ tin rằng niềm vui là thứ duy nhất
mà không ai có thể tước đi.
Rosinha từng là trung tâm của tội phạm
và băng đảng,
nhưng đằng sau đó là một cộng đồng gắn bó.
Người dân từ mở lớp học,
dựng cửa hàng,
lập nhóm dạy trẻ vẽ tranh, chơi nhạc.
Có những nghại sĩ, nhếp ảnh gia,
nhà làm phim trưởng thành từ Rosinha
kể câu chuyện của cô ổ chuột này
bằng chính gốc nhìn của họ.
Với họ,
Rosinha không chỉ là nghèo đói,
mà là nơi của bản sắc,
của sức sống không thể dọc tắt.
Khi hoàng hôn buông xuống,
ánh nắng phản chiếu trên những mái tôm bạc màu
khiến cả sườn đồi bừng sáng
như ngọn lửa khổng lồ.
Trong khoảnh khắc ấy,
người ta khó phân biệt đâu là địa ngục,
đâu là thiên đường,
vì Rosinha mang cả hai.
Đây là nơi khốn khó, bất an,
nhưng cũng là nơi ấm áp và thật nhất.
Giữa những tầng nhà trồng lên nhau,
giữa tiếng nhạc và khói bụi,
con người Rosinha vẫn mỉm cười,
vẫn yêu đời,
vẫn tin vào ngày mai.
Và có lẽ chính họ mới là minh chứng rằng,
ngay cả ở nơi tưởng như cùng cực nhất,
sự sống vẫn biết cách tỏa sáng đục rỡ.
Thế giới không chỉ được tạo nên
bởi những tòa nhà kính
phản chiếu ánh mặt trời,
mà còn bởi những khu ổ chuột,
nghỉ trang và bãi rác phản chiếu
ánh mắt con người.
Ở đó người ta vẫn sống, vẫn yêu,
vẫn sinh ra và mất đi,
do những điều mà phần còn lại của thế giới
thường chọn cách ngoảnh mặt.
Những thành phố khiến cả thế giới
phải đung mình ấy,
không chỉ là câu chuyện về nghèo đói,
mà còn là lời chứng cho sức bền của con người.
Họ tồn tại trong điều kiện
tưởng như không thể,
nhưng vẫn giữ được lòng tự trọng,
tình thương và niềm hy vọng.
Và có lẽ chính những con người
bị quên lạng ấy mới hiểu
sâu sắc nhất ý nghĩa
của hai chữ sinh tồn.