#thoisuvtc14#VTC14#kenhvtc14 #SU9#dainamnhatthongtoando#biendao#nhanguyen#biendong#hoangsa#truongsa#baicatvang VTC14 |Bằng chứng lịch sử, pháp lý về chủ quyền của Việt Nam với 2 quần đảo này đã và đang được nhiều quốc gia, cộng đồng quốc tế và nhiều nhà khoa học khẳng định: Việt Nam là quốc gia đầu tiên trong lịch sử đã chiếm hữu và thực thi chủ quyền của mình liên tục bằng Nhà nước đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ khi chúng còn vô chủ, chí ít là từ thế kỷ thứ XVII. Việc chiếm hữu và thực thi chủ quyền của Việt Nam ở 2 quần đảo này là rõ ràng, liên tục, hòa bình, phù hợp với nguyên tắc thụ đắc lãnh thổ hiện hành và nguyên tắc chiếm hữu thật sự của Công pháp quốc tế. ▶️▶️▶️ Click SUBSCRIBE cập nhật tin tức mới nhất tại đây: http://popsww.com/VTC14
Quê hương ơi biết mấy tự hào
Bốn nghìn năm dệt nêm trang sử mới
Sóng điệp trùng biển quê hương vẫy gọi
Đây Trường Sa và kia nữa Hoàng Sa
Từ trong tiềm thức của bao thế hệ người Việt Nam
Hoàng Sa, Trường Sa đã là nguồn cảm hứng vô tận
Là niềm tự hào dân tộc khi cha ông xưa đã vượt ngán trùng khơi
Đi mở mang bữa tối trên Biển Đông
Theo công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982
Việt Nam có diện tích biển hơn 1 triệu km vùng biển
Chiếm gần 30% diện tích biển đông
Vùng biển nước ta có khoảng hơn 3.000 hòn đảo lớn nhỏ
Trong đó có 2 cuộn đảo xa bờ là Hoàng Sa và Trường Sa
Các đảo được phân bố khá đều dọc theo chiều dài bờ biển của đất nước
Có vị trí đặc biệt quan trọng như những tuyến phòng thủ từ phía biển
Để bảo vệ xườn phía đông đất nước
Trong đó có 2 huyện đảo Hoàng Sa và Trường Sa
Đối với 2 cuộn đảo Hoàng Sa và Trường Sa
Việt Nam đã thực hiện quyền chiêm hữu thực sự từ rất sớm
Năm 1686 Chúa Trịnh Cán đã giao cho Đỗ Bá tự lạc công đảo
Vẽ toàn tập thiên nam tứ trí lộ đồ thư gọi tắt là tứ trí lộ đồ
Trong đó lần đầu tiên bãi cắt vàng tức cuộn đảo Hoàng Sa được ghi chép
Và vẽ chính thức trên bản đồ Việt Nam
Khẳng định thực thể địa lý này thuộc về Việt Nam
Tứ trí lộ đồ là bộ tài liệu chính thức của quốc gia
Phản ánh cương giới xứ đàng trong do Chúa Nguyễn quản lý từ cuối thế kỷ 16
Đã mở rộng ra các vùng quần đảo trên biển đông
Đây là một trong những chứng cứ đầu tiên và quan trọng
Khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
Về quần đảo Hoàng Sa trên biển đông
Thì nổ bá là ghi 3 chữ lộn bãi cắt vàng bằng chữ nôn
Một cái thứ chữ của riêng người Việt
Và cũng có thể nói là đây là một cái cách ký tự của người Việt
Điều này đã chứng tỏ là
Nó càng khẳng định là người Việt đã làm chủ Hoàng Sa
Và đã đặt tên cho cái thức thể địa lý này
Thì cái bãi cắt vàng là đích thị
Nó là cái từ nôn mà do người Việt
Của người Việt nói và người Việt viết lại
Thế còn cái đó lúc đầu người ta gọi là bãi cắt vàng thôi
Bởi vì người ta ra người ta phát hiện ra cái đó rồi gọi đấy là bãi cắt vàng thôi
Thế nhưng mà sau này trong các cái văn bản chính thức
Thì không thể gọi nó là bãi cắt vàng được
Mà phải chuyển thành cái văn bản chính thức
Thì người ta gọi là dịch ra theo kiểu hán Việt
Tức là gọi là Hoàng Sa
Hoàng Sa
Sa là bãi cắt đấy
Thế còn Hoàng là màu vàng
Hoàng Sa và cái bãi cắt vàng này đó là bò sợi
Trước kia hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa
Được thể hiện liên một giải trên bản đồ
Với các tên gọi là Hoàng Sa, Vạn Lý Hoàng Sa, Đại Trường Sa hay Vạn Lý Trường Sa
Và ban đầu được người Việt gọi chung một tên nôm là bãi cắt vàng
Còn đối với các nhà hàng hải phương Tây thế kỷ 17 và 18
Thì đều gọi chung hai quần đảo này là Paracel
Về sau với những tiến bộ của khoa học và hàng hải
Người ta đã phân biệt có hai quần đảo
Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa
Mãi đến năm 1787 đến 1788
Mới xác định được rõ ràng và chính xác vị trí của quần đảo Hoàng Sa như hiện nay
Từ đó phân biệt quần đảo này với quần đảo Trường Sa ở phía Nam
Các bản đồ trên nói chung đều xác định vị trí khu vực Paracel
Tức là cả Hoàng Sa và Trường Sa là ở giữa biển Đông
Phía Đông Việt Nam bên ngoài những đảo ven bờ của Việt Nam
Hai quần đảo mà các bản đồ hàng hải quốc tế ngày nay ghi là Paracel
Và Spratly hoặc Spratly
Chính là quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa của Việt Nam
Các sách địa lý và bản đồ cổ của Việt Nam
Ghi chép rõ cả quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ lâu đã là lãnh thổ Việt Nam
Trong đó có thể kể đến như
Sách Phủ Viên Tạp Lũng của nhà bác học Lê Quý Đôn biên soạn năm 1776
Viết về lịch sử, địa lý, hành chính xứ Đảng Trong
Giữa thời Chúa Nguyễn 1558 đến 1775
Khi ông được triều đình bổ nhiệm phục vụ tại miền Nam
Chép rõ đảo đại Trường Sa tức Hoàng Sa
Và Trường Sa ngày nay thuộc xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, phủ Hoàng Hải
Ở ngoài cửa biển có núi gọi là Cú Lao Ré, rộng hơn 30 dặm
Đại Nam Thực Lục Chính Viên là bộ sử ký do Quốc Sử Quán Triều Đình nhà Nguyễn soạn
Viết về các đời vua Nguyễn, được soạn xong năm 1848
Ghi sự kiện vua Gia Long chiếm hưu các đảo Hoàng Sa
Sự kiện vua Minh Mệnh cho xây miếu, dựng bia, trồng cây, đo đạc, vẽ bản đồ các đảo này
Năm 1815, vua Gia Long Cử Phạm Quang Ảnh dẫn đội Hoàng Sa đi thuyền ra Hoàng Sa
Để khảo sát và đo đạc đường biển
Năm 1816, vua Gia Long lệnh cho thủy quân cùng đội Hoàng Sa ra Hoàng Sa
Để khảo sát và đo đạc đường biển
Năm 1833, vua Minh Mệnh chỉ thị cho bộ công
Chuẩn bị thuyền sang năm sẽ phái tới Hoàng Sa dựng miếu, lập bia, trồng nhiều cây cối
Năm 1834, vua Minh Mệnh cử đội trưởng Giám Thành Trường Phúc Sĩ
Cùng thủy quân hơn 20 người ra Hoàng Sa vẽ bản đồ
Trong số các tài liệu rất quý giá
Khẳng định Việt Nam đã chiêm hữu và quản lý hòa bình Hoàng Sa và Trường Sa
Chính là châu bản Triều Nguyễn thế kỷ 19
Ở đó, người ta tìm thấy những bản tấu, phúc tấu của các đình thân các bộ
Hay những dụ của các nhà vua
Về việc xác lập chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa dưới Triều Nguyễn
Như việc vãng thám, đo đạc, vẽ họa đồ và cắm cột mốc ở Hoàng Sa
Năm 1816, Gia Long cho cắm mốc, chủ quyền tại Hoàng Sa
Có thể nói đây là một vị hoàng đế đầu tiên của nước ta
Thể hiện cái việc công bố chủ quyền theo đúng thông lệ quốc tế
Cắm mốc, cắm cờ, đúng không?
Rồi thì là việc tái lập hay nói khác là nâng cấp
Đội Hoàng Sa có từ thời các chú Nguyễn
Và cũng có nhiều sát phong để bổ nhiệm những người chỉ huy
Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của đội Hoàng Sa
Kim quản cả Bắc Hải, tức là cả Hoàng Sa và Trường Sa
Vào năm 1853 Triều Tử Đức
Lần đầu tiên cho khắc in một cuốn sách giáo khoa Bạc Tiểu vào
Là cuốn Khải Đồng Thuyết Ước
Trong đó có 2 trang 15 và 16
Có một bản đồ gọi là bản quốc địa đồ
Thì ông cha chúng ta đã có ý thức
Thì là phải giáo dục chủ quyền biển đảo
Nói riêng và chủ quyền đất nước nói chung
Ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường đối với thế hệ trẻ
Và chính vì vậy cho nên là Khải Đồng Thuyết Ước
Đã đưa bản quốc địa đồ vào sách giáo khoa
Cùng với các văn bản tài liệu
Thì các bản đồ cổ cũng là chứng cứ lịch sử có giá trị pháp lý
Khẳng định chủ quyền của Việt Nam
Đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
Trong đó những bản đồ cổ do người Việt Nam thiết lập gồm
Bộ Toàn tập thiên nam tứ trí lộ đồ thư
Của Đỗ Bá biên soạn và hoàn thành vào năm 1686
Đã gọi 2 quần đảo bằng cái tên chung là Bãi Cắt Vàng
Và ghi nó vào địa hạt viện Bình Sơn thuộc phủ Quảng Hĩa
Lúc đó Bãi Cắt Vàng còn được gọi bằng nhiều tên khác như
Hoàng Sa, Quần Vàng, Trường Sa, Đại Hoàng Sa, Đại Trường Sa, Vạn Lý Trường Sa
Và ngày nay là Hoàng Sa và Trường Sa
Bộ giáp ngọ Bình Nam Đổ
Bản đồ Sứ Đàng Trong do đoàn Quận Công Bùi Thế Đạt vẽ năm 1774
Bãi Cắt Vàng cũng được vẽ là một bộ phận của lãnh thổ Việt Nam
Bộ Đại Nam Nhất Thống Toàn đồ hoàn thành trong khoảng năm 1838
Dưới thời Vua Minh Mệnh
Trên bản đồ có ghi 2 tên Hoàng Sa và Vạn Lý Trường Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam
Trên Bình Diện Quốc tế
Bộ An Nam Đại Quốc Họa Đồ của Giám mục Giăng Louis David năm 1838
Trong đó có vẽ 9 dấu chấm nhỏ tượng trưng cho khu vực được đánh dấu là Paracels hay là Cắt Vàng
Bộ Atlas Thế Giới của Philippe van der Meulen
Một thành viên của Hội Địa Lý Paris
Xuất bản năm 1827
Tại Buchsen
Là một bằng chứng mạnh mẽ về giá trị pháp lý quốc tế cao
Bổ sung vào kho chứng cứ có giá trị pháp lý khổng lồ
Chứng minh Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam
Đặc biệt
Tờ bản đồ Patriet de la Cochinchin
Tờ số 106 châu Á
Là bản đồ đầu tiên đã vẽ một cách tiệt đối chính xác vị trí, kinh độ, vĩ độ, đặc điểm địa lý
Tên gọi phương Tây của các đảo lớn nhất và quan trọng nhất trong quần đảo Hoàng Sa
Bản đồ đặt trong khu vực Cochinchin
Là một bộ phận hữu cơ không thể tách rời của đế chế An Nam
Minh chứng một cách rõ ràng và chuẩn xác chủ quyền của Việt Nam
Ở quần đảo Hoàng Sa
Đã được quốc tế ghi nhận
Vua Minh Bệnh
Tiếp nối sự nghiệp của Vua Gia Long
Và đẩy sự nghiệp của Vua Gia Long
Đẩy sự nghiệp bảo vệ chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa
Lên đến đỉnh cao nhất của thần quân chủ
Phải nói là Vua Minh Bệnh làm rất nhiều việc
Rất nhiều việc
Rất nhiều công việc hết sức có ý nghĩa
Thí dụ
Như là việc đo vẽ bản đồ
Không có ông vua nào
Ở Việt Nam có cả một trù chương
Tổ chức đo vẽ bản đồ
Một cách hết sức là
Cụ thể hết sức là chi tiết
Vẽ từng cái đảo một
Vẽ từng cái vị trí một
Trước đấy là Gia Long cũng đã bắt đầu
Đã là vua bản đồ của phương Tây rồi
Nhưng mà đến Minh Bệnh
Thì phải nói là rất nhiều bản đồ của phương Tây
Nhiều nhà hàng hải, giáo sĩ phương Tây
Trong những thế kỷ trước
Đều xác nhận Hoàng Sa thuộc lãnh thổ của Việt Nam
Ví dụ như
Giám mục Giang Louis Tabet
Trong bài ghi chép về địa lý nước Cô Sinh Sinh
Xuất bản năm 1837
Cũng mô tả Paracels
Hay là Paracels
Là phần lãnh thổ của nước Cô Sinh Sinh
Và nói rõ người Cô Sinh Sinh gọi Paracels là Cát Vàng
Ông Sackner
Một cố vấn của vua Gia Long
Năm 1820
Trong phần ghi chú bổ sung
Và quấn hồi ký về nước Cô Sinh Sinh
Đã viết
Nước Cô Sinh Sinh
Mà nhà vua bây giờ đã lên ngôi hoàng đế
Gồm xứ Cô Sinh Sinh tức đảng trong
Và xứ Đông Kinh tức đảng ngoài
Một vài đảo có dân cư không xa bờ biển
Và quần đảo Paracels
Do những đảo nhỏ, gành và đá
Không có dân cư hợp thành
Danh từ Cô Sinh Sinh theo tiếng Pháp
Trong tài liệu phương Tây
Trích dẫn ở đây có hai nghĩa
Một nghĩa là nước Việt Nam thời bấy giờ
Hai là xứ đảng trong thời bấy giờ
Tóm lại
Các sách địa lý, bản đồ cổ của Việt Nam
Và nước ngoài
Đều ghi rất rõ rằng
Bãi Cát Vàng
Hoàng Sa
Vạn Lý Hoàng Sa
Đại Trường Sa
Vạn Lý Trường Sa
Paracels
Hay Paracels
Là lãnh thổ thuộc chủ quyền của Việt Nam
Với người Trung Quốc
Có rất nhiều bản đồ chính thức của Trung Quốc
Từ đời Nguyên, Minh đến Thanh
Trong đó có bản đồ ấn bản
Gần thời điểm có tranh chấp như
Bản đồ Đại Thanh Đế Quốc
Trong Đại Thanh Đế Quốc Toàn Đồ
Xuất bản năm 1905
Tái bản lần thứ tư năm 1910
Đã vẽ cực Nam của lãnh thổ Trung Quốc
Là đảo Hải Nam
Bản đồ Hoàng Triều Nhất Thống Dư Địa Tổng Đồ
Trong cuốn Hoàng Thanh Nhất Thống Dư Địa Toàn Đồ
Xuất bản năm Quang Tự 20
1894
Đã ghi rõ cực Nam lãnh thổ Trung Quốc
Là Nhai Châu
Phủ Quỳnh Châu
Quảng Đông
Tức là quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
Không thuộc về Trung Quốc
Vào năm 1935-1936
Đạo Hoàng Sa
Đạo Chi Tôn
Đạo Nam Cực
thì họ lấy cái cực nam của cái đảo Hải Nam đấy là danh giới của nước họ. Và cái nam cực nó nằm
ở chỗ đó. Thì đến năm 35 nó mới kéo xuống được đến cái đảo Tri Tôn. Nó gọi đấy là nam cực.
Thế rồi sau này đấy là họ tiến xuống dưới này. Nhưng mà hoàn toàn là trên bản đồ và trên miệng thôi,
trên lời nói và trên bản đồ thôi. Chứ trong thực tế là không có hành động chấm dứt nào đâu.
Bằng chứng lịch sử, pháp lý về chủ quyền của Việt Nam với hai
quần đảo này đã và đang được nhiều quốc gia, cộng đồng quốc tế và nhiều nhà khoa học khẳng định.
Nhà nước Việt Nam là nhà nước đầu tiên trong lịch sử đã chiêm hữu và thực thi chủ quyền của mình
đối với hai quần đảo này từ khi còn vô chủ, chỉ ít là từ thế kỷ 17. Việc chiêm hữu và thực thi
chủ quyền của Việt Nam ở hai quần đảo này là rõ ràng, liên tục, hòa bình, phù hợp với nguyên tắc
thụ đắc lãnh thổ hiện hành và nguyên tắc chiêm hữu thực sự của công pháp quốc tế.
Suốt trong ba thế kỷ, từ thế kỷ 17 đến cuối thế kỷ 19, dù trải qua ba chiều đại khác nhau,
đều đã thực hiện sứ mệnh thiêng liêng của mình với tư cách là nhà nước Đại Việt,
tiến hành chiêm hữu và thực thi chủ quyền Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa.
Để quản lý, bảo vệ chủ quyền và khai thác hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa,
từ thế kỷ 17, nhà Nguyễn đã thành lập đội Hoàng Sa, về sau lập thêm đội Bắc Hải do đội trưởng
đội Hoàng Sa kiêm quản hàng năm, có nhiệm vụ đi kiểm tra và khai thác nguồn lệ hải sản trên
hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, được duy trì và hoạt động liên tục từ thời các chùa Nguyễn,
giai đoạn 1558-1783, đến Nhà Tây Sơn, giai đoạn 1786-1802, và nhà Nguyễn, giai đoạn 1802-1945.
Nguyễn, các chúa Nguyễn, đặc biệt là các vị vua đầu triều Nguyễn, sắc quan tâm đến việc
thành lập đội Hoàng Sa. Chủ yếu lúc bây giờ là người dân của Quảng Ngãi tham gia phần lớn,
còn nói phần lớn thì cũng có nhiều người Quảng Nam, Hồng Sơn, nơi khác. Thì rõ ràng đây là một cái tổ chức
chính thống của triều đình thành lập, từ đó mà nó khẳng định được là việc chúng ta làm chỗ Hoàng Sa là một
cách có tổ chức. Nguyên tắc pháp lý và Việt Nam dựa vào đây là nguyên tắc chiến đấu trợ dựng,
và chúng ta đã khẳng định một cách rõ ràng và quốc tế ràng là nhà nước Việt Nam, là nhà nước đầu tiên
đã chiến đấu và thực thi chủ quyền ở hai con đảo này, theo đúng cái nguyên tắc kiến thực sự. Và khẳng định
nữa là Việt Nam có đầy đủ các trứng cứ lịch sử, cơ sở pháp lý để chứng minh chủ quyền của Việt Nam ở đây.
Ở đây tôi chỉ nhấn mạnh là chúng ta có những bằng chứng có giá trị pháp lý, và vì vậy chúng ta đưa ra cái mức
Sử sách đã ghi lại, vào khoảng cuối thế kỷ 16, đầu thế kỷ 17, để tăng cường quản lý vùng biển đảo Hoàng Sa,
Trường Sa, Chúa Nguyễn đã lập ra đội hùng binh Hoàng Sa, kiêm Quảng Bắc Hải do Triều Đình Quản lý. Hàng năm,
khoảng 70 chai tráng được lựa chọn từ cư dân vùng biển Trung Bộ, chủ yếu là vùng Lý Sơn, Quảng Ngãi,
để điều ra Hoàng Sa, Trường Sa, đánh bắt và thu lượm sản vật, và thường xuất phát từ cửa biển Sa Kỳ.
Về sau, họ đảm nhận thêm nhiệm vụ đo đạc thủy trình, vẽ bản đồ, cắm mốc chủ quyền.
Các thành viên đội hùng binh Hoàng Sa, kiêm Quảng Bắc Hải, đều xác định một đi không trở về.
Thực tế là nhiều người, nhiều đội binh như vậy đã để lại thân xác tại biển đảo Hoàng Sa, Trường Sa,
cho nên người thân của họ chỉ đắp mộ triêu hồn, còn gọi là mụ gió.
Những người lính Hoàng Sa khi đi cũng xác định khó trở về, cho nên trước khi xuất phát,
mỗi người đều chuẩn bị sẵn một đôi chiếu, nẹp tre, dây mây, thẻ tre.
Nếu gặp chuyện bất chắc, chiếu sẽ dùng để bó xác, nẹp tre dùng để nẹp dây mây cuốn lại,
thẻ tre dùng để ghi phiên hiệu, quê quán, rồi kẹp cung xác và được đồng đội của họ thả xuống biển.
Ngày nay, để từng nhớ công lao của những người hùng binh Hoàng Sa,
hàng năm trên đảo Lý Sơn và mỗi tháng 3 âm lịch, người dân nơi đây lại tổ chức lễ khao lề thế lính Hoàng Sa.
Đây luôn được coi là hoạt động tâm linh quan trọng đối với mỗi người dân đảo Lý Sơn.
Hiện nay, các dòng họ lớn trên đảo Lý Sơn như họ Nguyễn, họ Phạm, họ Lê, họ Đặng,
vẫn còn lưu giữ các kỷ vật, các ghi chép gia phả hay cả những tờ lệnh của các thế hệ ông cha xưa
tham gia hải đội hùng binh Hoàng Sa, kiêm quản Bắc Hải để quản lý.
Những người dân đạo Lý Sơn và các dòng họ lớn trên đảo Lý Sơn như họ Nguyễn, họ Phạm, họ Lê, họ Đặng,
bảo vệ khai thác hai quần đảo Hoàng Sa, Trưởng Sa.
Gia tộc họ đạo của Lý Sơn thì rất là tự hào và vinh dự khi có ông ở nhà là Đặng Nhân Sĩn
tham gia trong đội hùng binh Hoàng Sa của quyền đảo Lý Sơn những năm trước đây của thời kỳ chú Nguyễn.
Và ông được triều đình của nhà Nguyễn Phong là đạc ông dẫn đội hùng binh Hoàng Sa
đi đến quần đảo Hoàng Sa để bảo vệ chủ quyền biển đảo tại quần đảo Hoàng Sa.
Ông đi từ năm 1834 và khi đi thì ông để lại một tờ lệnh.
Đến năm 2009 thì 175 năm sau gia tộc họ đạo tiến hành bàn giao tờ lệnh này cho nhà nước của chúng ta
để góp phần vào cùng với nhà nước khẳng định chủ quyền biển đảo quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam.
Sau khi thiết lập chế độ bảo hộ đối với Việt Nam theo hiệp bước ngày 6 tháng 6 năm 1884,
Cộng hòa Pháp nhân danh Việt Nam thực thi chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Từ năm 1930 đến năm 1933, các đơn vị hải quân Pháp lần lượt đóng tại các đảo chính gồm Trường Sa,
An Bang, Ba Bình, Nhóm Song Tử, Loại Ta và Thị Tứ.
Việc này được công bố trong công báo của nước Cộng hòa Pháp ra ngày 26 tháng 7 năm 1933.
Cũng trong năm 1933, quần đảo Trường Sa được quy thuộc vào tỉnh Bà Rịa theo
nguyện định của Thống đốc Nam Kỳ Kurt Theimer. Năm 1938, quần đảo Hoàng Sa được nhập vào tỉnh Thừa Thiên Huế.
Nhà cầm quyền Đông Dương đã cho một đơn vị quân đội ra đóng tại quần đảo Hoàng Sa và lập các trạm khí tượng,
vô tuyến điện, đèn biển và đặc biệt là xây dựng thêm bia chủ quyền.
Hàng chữ trên bia, Cộng hòa Pháp, Vương quốc An Nam, quần đảo Hoàng Sa 1816, đảo Butler 1938,
có ý nghĩa năm 1816 là năm vua Gia Long thực hiện chủ quyền của Việt Nam đối với các đảo Hoàng Sa.
Năm 1938 là năm dựng bia.
Và với vai trò là bảo hộ với chủ quyền của Việt Nam, trong đó có chủ quyền biển đảo,
chủ quyền đối với Hoàng Sa Trường Sa, thì người Pháp tuy mạnh yếu, nhiều lúc khác nhau, giai đoạn đầu
cũng chưa thật mạng mà đối với chủ quyền của nước ta ở Hoàng Sa. Nhưng mà khi đã thức tính,
trước thực tiễn thì người Pháp cũng có rất nhiều nỗ lực để thể hiện vai trò đại diện của mình đối với chủ quyền
của Việt Nam đối với Hoàng Sa. Người Pháp đã sử dụng cái sức mạnh đã huy động cái sức mạnh ngoại giao
và thậm chí là sức mạnh quân sự để thể hiện cái chủ quyền đại diện của mình đối với Hoàng Sa.
Trước và sau khi chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc, vấn đề chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa
cũng như Trường Sa đã nhiều lần được đưa ra các hội nghị quốc tế xem xét. Cụ thể là tháng 11 năm 1943,
những người đứng đầu các nước Anh, Mỹ và Cộng hòa Trung Hoa đã họp tại Cairo, thủ đô Ai Cập,
tuyên bố Cairo không ghi nhận quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Trung Quốc.
Tại hội nghị Postdam tháng 7 năm 1945, những người đứng đầu ba nước liên xô Mỹ,
Anh ra tuyên bố xác nhận lại một lần nữa tuyên bố Cairo.
Tại hội nghị Hòa bình San Francisco tháng 8 năm 1951, với sự tham gia của 51 quốc gia,
chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng đã được thừa nhận.
Năm 1956, trước khi rút khỏi Đông Dương, Pháp đã chuyển giao lãnh thổ miền Nam Việt Nam
cho nhà cầm quyền Sài Gòn. Chính quyền Sài Gòn khi đó đã cho quân ra tiếp quản hai quần đảo
Trường Sa và Hoàng Sa. Lợi dụng việc Pháp rút khỏi Đông Dương, năm 1956, Trung Quốc đã đưa quân ra
xâm chiếm nhóm đảo phía đông quần đảo Hoàng Sa, khi đó do Việt Nam Cộng hòa quản lý.
Năm 1974, Trung Quốc dùng không quân và hải quân chiếm nốt phần phía tây của đảo Hoàng Sa.
Chính quyền Sài Gòn khi đó đã ra tuyên bố kịch liệt, phản đối và đã thông báo cho các nước và
Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc về sự kiện này. Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam
cũng đã công bố lập trường 3 điểm bao gồm đề nghị các bên liên quan phải cùng nhau thương lượng để giải quyết vấn đề.
Đặc biệt là sự kiện năm 1974, mọi người đã thấy rõ họ là quy định lực lượng hải lục không quân đã đánh chiếm
các thực tế do quân đội của Việt Nam Cộng hòa đóng dứt và toàn dân một cách hợp pháp ở trên khu vực này.
Gây ra sự kiện đó bằng vũ lực cuối cùng thì hiện nay họ đã dưng đóng hoàn toàn quần đảo Hoàng Sa.
Điều đó là điều không phù hợp với quy định của lực pháp quốc tế. Như tôi đã phân tích,
và đặc biệt là càng không phù hợp nữa đối với công ước lượng Việt Nam năm 1982.
Khi họ đưa ra thì sẽ được lấy bỏ, dựa trên hiệu lực của các thực tế của quần đảo Hoàng Sa.
Điều đó là bị dự luận quốc tế liên hạc.
Và đặc biệt là phán quyết của Tòa Trọng Tài năm 2016,
người ta đã bác bỏ hoàn toàn cái lập lực của Trung Quốc.
Cho nên tôi nghĩ rằng với tất cả những hành động chiếm đắng đó cũng như là chỉ việc vân dụng giải thích áp dụng sai công ước
để hợp thức hóa yêu sách phi lý của họ, theo đường người ta gọi là đừng để bỏ là hoàn toàn vô giá trị.
Sự chiêm hữu và quản lý bằng phương pháp hòa bình của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
là liên tục và được quốc tế cổng nhận.
Tuy nhiên, phía Trung Quốc lại thường xuyên có các hành động xâm phạm
cũng như dùng vũ lực chiêm đóng các thực thể thuộc Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.
Đến năm 1988, Trung Quốc lại một lần nữa dùng vũ lực chiêm đóng trái phép đối với một số đá bãi ngầm
thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.
Từ góc độ của luật pháp quốc tế,
việc chiêm đóng bằng vũ lực lãnh thổ của một quốc gia có chủ quyền là hành vi phi pháp.
Từ sau năm 1975, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hay là Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam
đã và đang tiếp tục quản lý, bảo vệ chủ quyền và phát triển kinh tế đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Việt Nam đã thành lập đơn vị hành chính cấp huyện đảo Trường Sa thuộc tỉnh Khánh Hòa
và huyện đảo Hoàng Sa thuộc thành phố Đà Nẵng.
Đồng thời tiếp tục khẳng định các quyền và lợi ích của Việt Nam
đối với hai huyện đảo này trong các chính sách, luật pháp quốc gia.
Về cạnh đó, Việt Nam tiếp tục củng cố hồ sơ, chứng cứ lịch sử có giá trị pháp lý
để kiên trì đấu tranh ngoại giao, khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo này.