Cửu Bình #2 : Đảng Cộng Sản Trung Quốc xuất sinh như thế nào ?

Trở Về Nhà
288 người theo dõi
204 Lượt xem video·3 thg 11, 2025
Theo mẫu từ Trung Quốc truyền thống, chữ đảng được ghép bởi chữ thượng ở trên và chữ hắt ở dưới, tức là thượng hắt, ngẫu ý là một bè đảng toàn chủ trương những điều hắt ám.
Khổng tử từng nói, kẻ quân tử, giọt quần tù cũng không kéo bè kết đảng.
Trong lịch sử Trung Quốc, những từ như đảng hay đảng dân đều mang nghĩa xấu.
Vậy tại sao lại xuất hiện ở Trung Quốc một tổ chức tự nhận là đảng Cộng sản, không những thế lại thau đoạt chính quyền?
Đảng Cộng sản Trung Quốc xưa nay không ngừng rót vào tay người dân những thứ như nhân dân Trung Hoa đã chọn đảng, không có đảng thì không có Trung Quốc hôm nay.
Có đúng là dân tộc Trung Hoa đã chọn đảng Cộng sản Trung Quốc?
Hay đảng là do cáo bè kết phái mà thành và bức bách nhân dân phải thừa nhận nó?
Chúng ta hãy cùng lật lại lịch sử để tìm câu trả lời.
Từ cuối đời mãng thanh, Trung Quốc đã trải qua rất nhiều chấn động từ bên ngoài và cải cách lớn ở bên trong.
Toàn xã hội đều trong cảnh hỗn loạn, bất bình trước thực tế ưu tối.
Nhiều trí tức và sĩ phu yêu nước, nung náo tìm ra một giải pháp để cứu nước, cứu dân.
Khi phương thức của Anh và phương thức của Pháp đều thất bại, họ chuyển sang phương sách của Nga.
Có bệnh thì vái tứ phương, họ chẳng ngại thuốc độc, mà chỉ sốt sáng mong sao nổi trong một ngày chấn hưng Trung Quốc.
Một số người đề nghị chủ nghĩa vô chính phủ, những người khác thì đã đảo giáo lý nhà nho, có người lại đề nghị du nhập văn hóa nước ngoài.
Năm 1918, Đảng Cộng sản đầu tiên trên thế giới chính thức được thành lập ở Liên Xô để đạt được mục tiêu cách mạng chinh phục toàn thế giới.
Năm 1920, Liên Xô thành lập bang Viễn Đông và bắt đầu tìm kiếm đồng minh ở Trung Quốc.
Tư tưởng dùng bạo lực cách mạng để giành chính quyền, trong học thuyết Mác Lê rất hòa điều với lòng sốt sáng và nguyện vọng cứu nước, cứu dân thời bái giờ.
Trong hoàn cảnh đó, chủ nghĩa Cộng sản, một khái niệm hoàn toàn xa lạ đã từ bên ngoài du nhập vào Trung Quốc.
Những người sáng lập Đảng Cộng sản Trung Quốc đã không nhận ra rằng vị thần họ rước từ Liên Xô về thực ra là một con quỷ
Ở một đất nước 5.000 năm lịch sử như Trung Quốc, thì đem chủ nghĩa Cộng sản một con quỷ ngoại lai tà ác về nuôi là một điều không dễ.
Đảng Cộng sản Trung Quốc đã lừa dối quần chúng và dối trí thức với lời hứa hẹn gọi là Cộng sản không tưởng.
Đảng Cộng sản Trung Quốc thừa kế tư tưởng phủ nhận sở hữu tư nhân của chủ nghĩa Cộng sản.
Du nhập học thuyết đấu tranh cách mạng của Lenin và phá hủy lòng tin vào cách mạng công nghiệp.
Cùng lúc đó, Đảng Cộng sản Trung Quốc cũng tiếp tục kế thừa và phát huy những phần đồi bại nhất của nền quân chủ Trung Hoa.
Đảng lấy thế giới Cộng sản chủ nghĩa làm chăn lý để phụng thờ và khoáy động lòng nhiệt tình của nhân dân để đấu tranh cho nó.
Đảng tiên truyền triết lý hoang tưởng ấy làm thủ đoạn đảo ngược quan hệ giữa con người và trời đất, cắt đứt chính họ với tổ tông, phá sạch huyết mạch truyền thống.
Từ đó khiến người ta hiến dân cho chủ nghĩa Cộng sản hoang tưởng và bồi đáp sức tàn sát của Đảng.
Phong trào Cộng sản được đưa vào Trung Quốc như một thực nghiệm.
Từ đó đến nay, Đảng Cộng sản đã đè bẹp tất cả để giành quyền kiểm soát toàn bộ Trung Quốc.
Lịch sử dự nghiệp của Đảng Cộng sản Trung Quốc là một quá trình liên tục tích tụ tà ác.
Trong quá trình ấy, Đảng Cộng sản Trung Quốc hấp thu và dung dưỡng đủ cả chính nhân tố của một con quỷ tà linh Cộng sản.
Tà ác, lừa dối, xuôi bại, đấu tranh, trấn lột, lưu manh, gián điệp, diệt chủng và khống chế.
Những nhân tố di chuyển ấy được kế thừa đầy đủ và qua mỗi lần thách thức lại càng phát triển thậm tệ hơn.
Đảng Cộng sản Trung Quốc tự thừa nhận mình là một tôn giáo ngoại lai.
Từ tư tưởng cho đến kinh nghiệm, từ tổ chức cho đến tài lực, tất cả đều lấy từ liên xô.
Đảng Cộng sản Trung Quốc đã thực thi chủ nghĩa đế quốc của Hồng quân Liên Xô, theo sao Đảng Cộng sản Liên Xô trong tất cả mọi việc.
Nhưng ngay từ đầu, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã là một bè đáng phản bội.
Tháng 6 năm 1921, Đảng Cộng sản Trung Quốc chính thức được thành lập là một chi bộ của Đảng Cộng sản Quốc tế Đông Phương.
Đảng Cộng sản Trung Quốc bắt đầu được Cộng sản Quốc tế chu cấp từ tháng 10 năm 1921.
Theo thông kê từ các phân khiện mật của Đảng, trong suốt giai đoạn từ năm 1924 đến 1927,
mỗi tháng Đảng Cộng sản Quốc tế đã đầu tư khoảng 20.000 nhân dân tệ cho Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Tháng 7 năm 1922, trong đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ hai, lúc này cả Trung Quốc mới chỉ có 195 đảng viên Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Cộng sản Quốc tế trách các đồng chí Trung Quốc đã không nỗ lực.
Dựa trên tất cả kinh nghiệm có được, Đảng Cộng sản Liên Xô chỉ định Đảng Cộng sản Trung Quốc gia nhà quốc dân đảng.
Từ đó, Đảng Cộng sản Trung Quốc trở nên ngày càng lớn mạnh và giành được thiện cảm của quần chúng bằng việc tham gia vào phong trào cách mạng quốc dân.
Được Liên Xô nâng đỡ, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã giành được các vị trí lớn tại quốc dân đảng trong thời gian quốc cộng hợp tác.
Đàm Bình Sơn làm bộ trưởng bộ tổ chức cán bộ trung ương quốc dân đảng.
Mao Trạch Đông làm quyền bộ trưởng bộ tuyên truyền của quốc dân đảng.
Chiêu Ân Lai làm chủ nhiệm khoa chính trị học Viện Quân sự Hoàng phố.
Lâm Tổ Hàm làm bộ trưởng bộ nông dân.
Có nhiều người của Cộng sản được đưa vào làm đại biểu các cấp trong quân cách mạng quốc dân.
Con số đảng viên Đảng Cộng sản Trung Quốc tăng lên nhanh chóng, từ 420 người năm 1923 lên đến 30.000 người năm 1928.
Các đảng viên Đảng Cộng sản Trung Quốc trong quốc dân đảng không tuân thủ các quy tắc của quốc dân đảng.
Họ công khai bày tỏ quan điểm công kích quốc dân đảng.
Họ nuốt lời hứa tổ chức và bành trướng Đảng Cộng sản Trung Quốc ngầm ngay trong quốc dân đảng tháng 1 năm 1925,
trong khi mới chỉ có 994 đảng viên.
Đảng Cộng sản Trung Quốc đã đặt ra vấn đề.
Ai sẽ nắm quyền lãnh đạo ở Trung Quốc?
Nếu tuân vật tiên vẫn còn tại thế, thì chính ông chứ không phải tượng giới thạch mới là nhân vật rơi vào tầm ngắm của Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Thiên tính tự nhiên của con người là tải chay bạo lực.
Bạo lực khiến người ta trở nên bạo ngược.
Chủ trương bạo lực cách mạng và chuyên chính vô sản của chủ nghĩa Mác Lê chính là phát huy thể chế chính trị độc tài với giai cấp vô sản làm chủ.
Giai cấp vô sản sử dụng đấu tranh bạo lực để giành quyền lực chính trị.
Tuyên ngôn Cộng sản đã tuyên bố rõ ràng rằng mục đích của họ chỉ có thể đạt được thông qua đạp đổ bằng vũ lực tất cả các điều kiện sinh hoạt xã hội đang tồn tại,
và dùng bạo lực cách mạng đập tan chế độ cũ, tạo dựng chính quyền chuyên chính vô sản.
Đó chính là cội rễ tà vại trong học thuyết Mác Lê.
Tà ác là nhân tối di truyền chính mà bóng ma chủ nghĩa Mác Lê truyền thừa cho Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Nó là cội rễ của mọi tà ác.
Nhằm lật đổ quân Việt lập lại hòa bình, chính quyền quốc dân đảng bắt đầu cách mạng bắt phạt vào tháng 2 năm 1926.
Phớt lờ mong muốn và lợi ích của nhân dân, Đảng Cộng sản Trung Quốc sử dụng đủ loại âm mưu ngắm ngầm phá hỏi cách mạng bắt phạt để giành quyền lực chính trị.
Từ tháng 10 năm 1926 cho đến tháng 3 năm 1927, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tổ chức ba cuộc bạo động vũ trang tại Thượng Hải.
Trong suốt cách mạng bắt phạt, họ rải từa rơi khắp mọi nơi, dựng biểu ngữ, tổ chức cho công nhân đình công.
Hầu như ngày nào đội quân cảnh công nhân do Đảng Cộng sản Trung Quốc chỉ huy cũng gây đụng đồ vũ trang với cảnh sát, chính phủ quốc dân đã phải điều động quân đội để giữ trật tự xã hội.
Lúc này, quốc dân đảng đã hết kiên nhẫn trước sự kích động của Đảng Cộng sản Trung Quốc và quyết định triệt đế thanh trừ Cộng sản.
Ngày 12 tháng 4 năm 1927, quân cách mạng quốc dân tước vũ khí của quân cảnh công nhân ở Thượng Hải và tiếp quản tổng công đoàn Thượng Hải, trước đây từng là sở chỉ huy cuộc bạo động của Đảng Cộng sản Trung Quốc ở Thượng Hải.
Liên minh quốc cộng đầu tiên đã thất bại thảm hại và kết thúc trong tàn sát đắm máu. Nhưng Đảng Cộng sản Trung Quốc đã bóp méo sự thật và buộc tội tưởng giới thạch phản cách mạng.
Trong khi quân cách mạng quốc dân lâm chiến với quân Việt, thì Đảng Cộng sản Trung Quốc tạo phán tại nông thôn để chiếm đất và giành quyền lực.
Giữa tháng 4 và tháng 5 năm 1927, dưới khảo hiệu nông hội có quyền lực tối cao, toàn bộ tỉnh Hồ Nam bị che phủ trong khủng bố đắm máu. Vô sản lưu manh gây bạo loạn ở khắp mọi nơi.
Cha của Lý Lập Tam, lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc bị nông hội giết chết. Cha của Hà Kiến, chỉ huy quân đoàn quân cách mạng quốc dân thì bị diễu trên đường phố và đáo tố cho đến chết.
Người nhà của các cán bộ thuộc tầng lớp trung lưu, hạ lưu và binh lính trong cách mạng bắt phạt cũng bị giết chết.
Cảnh tượng khủng khiếp này rất giống với thời cách mạng văn hóa, khi mà vô số người bị đài đọa khổ sở. Chính là phong trào nông dân Hồ Nam nổi tiếng.
Loại hình chế độ dòng tộc sở hữu đất đai đã ăn sao vào nông thôn Trung Quốc. Đó là chứa ngại lớn trên con đường kiến thiết chính quyền của Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Xã hội nông thôn nhìn chung là hài hòa. Quan hệ sở hữu đất đai và thu tô vốn dĩ không có quan hệ đối lập tuyệt đối.
Địa chủ quản lý đất đai và cho nông dân thuê đất canh tác, còn nông dân dựa vào đó để sinh sống và nộp tô cho địa chủ.
Mối quan hệ phụ thuộc tương hồ này đã bị Đảng Cộng sản Trung Quốc bóp néo, thành mau thuẫn giai cấp và bóc luộc giai cấp sâu sắc.
Đảng Cộng sản Trung Quốc lợi dụng bạo động của lưu manh, cản bá xã hội ở nông thôn để thiết lập trật tự xã hội mới của mình.
Những loại lưu manh cản bá xã hội này được mau trạch trong tuyên dương là dũng cảm nhất, triệt đế nhất, kiên quyết nhất trong cách mạng nông thôn.
Lưu manh và trắng lột là nhân tố di truyền thứ 2 và thứ 3 của Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Có thể nói rằng, lợi dụng bạo động của lưu manh cản bá là truyền thống kia thừa của Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Năm 1971, một đám vô sản lưu manh nổi loạn và chiếm đóng Paris.
Thời kỳ công xã Paris, chúng giết chết tổng giám mục Paris và vợ của ông một cách dã man.
Chúng đốt cung điện, đập phá biệt thự và cấm báo chí.
Từ đó trở đi, chúng coi việc nắm quyền lực chính trị như một phương tiện trực tiếp và thuận tiện nhất để hưởng thụ mà không cần phải lao động.
Trong cách mạng văn hóa, Đảng Cộng sản Trung Quốc thảo luận rằng, vô sản lưu manh nghe thế quá khủng khiếp khó lọt tay, nên bỏ tự lưu manh đi và tự nhận là người vô sản.
Trắng lột có thể giúp một kẻ vô sản trở thành người giàu có.
Khi dận lập quân đội để cai trị quốc gia bằng quân sự, thì vũ khí đạn dược, lương thực, y phục đều cần phải có tiền.
Tuy nhiên, cách tốt nhất để gai quỷ là trắng lột.
Hồng quân thường bắt cóc những người nhà giàu trong vùng ngàn tai tỉnh Hồ Bắc, tống tiền nhiều lần gia đình người ta để có tiền phục vụ Hồng quân cho đến khi gia đình họ cạn kiệt tiền tài.
Chỉ khi ấy chúng mới thả người, nhiều người chứ còn da bọc xương.
Hỏi rằng hành động của chúng có gì khác với loại trộm cướp?
Trong báo cáo điều tra về phong trào nông dân Hồ Nam, Mau Trạch Đông nói, nông thôn chỗ nào cũng cần phải trải qua một thời kỳ khủng bố như vậy.
Nếu không thì không có cách nào dẹp yên bọn phản cách mạng ở nông thôn.
Trong thời cách mạng, có những hành động tưởng như là thái quá, nhưng thực ra đó là tắc yếu.
Đó chính là những gì cách mạng cần.
Cách mạng, một từ bị mang hàm nghĩa tiêu cực bởi Đảng Cộng sản Trung Quốc, vẫn luôn được coi là tiên tiến nhất và chính đáng nhất.
Trải qua nhiều thập kỷ, dưới cái tên cách mạng, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã gây ra vô số hành vi đê hèn và tà ác nhất.
Tháng 8 năm 1927, bộ phận Cộng sản trong quân cách mạng quốc dân đã phát động bạo động tại Nam Xương, nhưng bị trắng áp ngay.
Đến tháng 9, Cộng sản lại tổ chức khởi nghĩa vụ mùa tháng 8, và cũng bị trắng áp.
Đảng Cộng sản Trung Quốc bắt đầu triển khai cách thức không chế theo kiểu chi bộ đảng lập mạng lưới bên trên ở các vùng nông thôn.
Tháng 10 năm 1930, sau khi tiêu diệt nốt quân Việt còn sót lại, quân cách mạng quốc dân bắt đầu cuộc bao vai và tiêu diệt khu vực Soviet của Đảng Cộng sản Trung Quốc trong 4 năm.
Từ tháng 10 năm 1933 đến tháng 1 năm 1934, Đảng Cộng sản Trung Quốc liên tiếp chịu thua trận.
Và đến cuộc tiến công thứ 5 của quốc dân đảng, thì chính quyền trung ương ở nông thôn Đảng Cộng sản Trung Quốc lần lượt mất hết căn cứ này đến căn cứ khác.
Hồng quân buộc phải trốn chạy. Đó chính là bản chất của cuộc trường chinh.
Đảng Cộng sản Trung Quốc vẫn tuyên truyền rằng cuộc trường chinh của mình là cuộc cách mạng thần thánh của đảng.
Trên thực tế, nó là giai đoạn ô nhục nhất của lịch sử Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Cái gọi là cuộc bắt tiến kháng nhật hoàn toàn là một sự dối trá trắng trợn.
Để ra vẽ ngay chính, Đảng Cộng sản Trung Quốc chỉ có thể dựa vào dối trá.
Lừa dối là nhân tố di truyền thứ 4 của Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Khi đó, quân Nhật chủ yếu đang ở vùng đồng bằng phía Bắc và Đông Bắc Trung Quốc.
Thế nhưng Đảng Cộng sản Trung Quốc lại di chuyển đến khu vực cao nguyên thiểm Bắc, cách xa địa điểm của quân Nhật.
Thực tế, lộ trình của cuộc trường chinh là theo hướng Nam và hướng Tây.
Đầu tiên, Hồng quân chủ lực hành quân từ phía Nam sang phía Tây tỉnh Hồ Nam
để hợp nhất hai đội Hồng quân số 2 và số 6 và để thiết quân lực.
Bại trận, Hồng quân bỏ chạy sang vùng Tây Bắc tỉnh Thứ Xuyên để kết hợp với Trương Quốc đảo.
Cuối cùng, khi quân Đảng Cộng sản Trung Quốc thoát đến thiểm Bắc
thì Hồng quân chủ lực giảm từ 80.000 xuống còn khoảng 6.000.
Trong chiến tranh Trung-Nhật, Đảng Cộng sản Trung Quốc gieo ra rằng mình đã kháng chiến chống Nhật.
Trái lại, nó ẩn nắp ở những vùng hạo tuyến.
Đảng Cộng sản Trung Quốc hoàn toàn bỏ mặt quân đội quốc gian một mình trên tiền tuyến.
Quân quốc dân Đảng đã chết hơn 200 tướng.
Trong khi đó, Đảng Cộng sản Trung Quốc hầu như không mất một viên tướng nào.
Trong chiến tranh Trung-Nhật, trận đánh quan trọng duy nhất mà Đảng Cộng sản Trung Quốc tham gia là trận Bình Huỳnh Quang và trận Bách Đoàn.
Trong trận Bình Huỳnh Quang, Đảng Cộng sản Trung Quốc không đóng vai trò chỉ huy, cũng không là lực lượng nòng cốt.
Quân đội của Đảng Cộng sản Trung Quốc chỉ nằm phục kích đội quân tiếp tế của Nhật.
Trận đánh Bách Đoàn mà Đảng Cộng sản Trung Quốc sau đó mang ra khoát loát đã bị chỉ trích trong một văn kiện nội bộ lúc bấy giờ.
Nó đã vi phạm đường lối chiến thuật của Ủy ban Trung ương Đảng và gây ra những ảnh hưởng cực kỳ tiêu cực.
Trên thực tế, trận đánh này đơn giản chỉ cho thấy sức mạnh quân sự của Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Nó khiến cho Đảng gặp khó khăn để tiếp tục chính sách tập trung bành trướng của mình.
Bành Đức Hoài, một trong những chỉ huy của trận đánh này, đã bị kết án và thanh trừ khỏi chính phủ Trung ương trong cách mạng văn hóa.
Mặc dù Đảng Cộng sản Trung Quốc dương cao lá cờ kháng Nhật để lái lòng quần chúng,
trên thực tế, Đảng Cộng sản Trung Quốc sát cánh vai kề vai với quân Nhật để đánh bại quốc dân đảng.
Ngày 18 tháng 9 năm 1931, sau khi Nhật chiếm đóng thành phố Thảm Dương, Đảng Cộng sản Trung Quốc xúi dục người của quốc dân đảng nổi loạn.
Kêu gọi công nhân bãi công, quân sĩ tạo phản, nhằm lật đổ chính phủ quốc dân.
Khi chiến tranh kháng Nhật nổ ra năm 1937, quốc dân đảng có hơn 1,7 triệu quân vũ trang.
Trong khi đó, kể cả tứ quân mới thành lập, toàn bộ Đảng Cộng sản Trung Quốc chỉ có 70.000 lính.
Đảng Cộng sản Trung Quốc có thể bị tiêu diệt chỉ trong một trận đánh.
Vì thế, trong suốt giai đoạn thống nhật chiến tuyến với quốc dân đảng,
mục tiêu của Đảng Cộng sản Trung Quốc là duy trì lực lượng để giành quyền lãnh đạo,
chứ không phải vì sự tuồn vong của dân tộc Trung Hoa.
Ngày 24 tháng 1 năm 1961, khi gặp mặt với các quan chức chính phủ Nhật,
Mao Trạch Đông đã nói, bởi vì quân Nhật chiếm đóng một nửa Trung Quốc,
điều đó khiến nhân dân Trung Quốc hiểu ra đứng lên cầm vũ khí chiến đấu và thiết lập nhiều căn cứ kháng nhật.
Nó tạo nên các điều kiện để giành thắng lợi, và cái gọi là chiến tranh giải phóng.
Quân Việt Nhật Bản và tư bản độc quyền đã làm một việc rất tốt.
Nếu phải cảm ơn người nào đó thì tôi sẽ cảm ơn quân Việt Nhật Bản.
Không ngạc nhiên tại sao các nhà sử học của Đảng Cộng sản Trung Quốc nói rằng
cuộc chiến tranh kháng nhật Tán Nam đã thiết lập những nền tảng cơ bản cho thắng lợi của chiến tranh giải phóng.
Gián điệp là nhân tố di truyền thứ năm của Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Thâm nhập, gây chia rẽ, làm tan rã và thay thế là những phương pháp đặc biệt để kích động nổi loạn và giành quyền lực.
Biến cố Tây An là một ví dụ điển hình.
Tháng 12-1936, Trương Học Lương và Dương Hổ Thành, hai tướng của quốc giang đảng, bắt cóc tượng giới thạch, lãnh đạo của quốc giang đảng ở Tây An.
Biến cố Tây An giúp Đảng Cộng sản Trung Quốc thoát khỏi cuộc khủng hoảng diệt vong của chính nó
và mang đến cơ hội cho Đảng Cộng sản Trung Quốc bám vào chính phủ quốc dân lần thứ hai.
Theo sách giáo khoa Đảng Cộng sản Trung Quốc, sự biến Tây An là một cuộc đảo chính quân sự
do hai tướng Trương và Dương khởi xướng để ép tượng giới thạch dốc lòng đánh Nhật.
Trên thực tế, cuộc đảo chính này là do Đảng Cộng sản Trung Quốc xui bãi.
Trước biến cố Tây An, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tụ tập rất nhiều gián điệp quanh Dương Hổ Thành và Trương Học Lương.
Trong số những người thân cận của Dương Hổ Thành, có vợ của ông ta, Tạ Bảo Trân,
chính là đảng viên Đảng Cộng sản Trung Quốc và làm việc trong bang chính trị của Dương Hổ Thành.
Cô đã được Đảng phê chuẩn kết hôn với Dương Hổ Thành vào tháng 1 năm 1928.
Đảng viên Vương Bình Nam bây giờ là thượng khách của gia đình Họ Dương.
Vương Bình Nam đã thuyết phục Dương Hổ Thành bắt giữ tượng giới thạch.
Chính những người của Cộng sản thân tính với hai tướng Trương Dương đã trực tiếp lên kế sách và thực hiện cuộc binh biến này.
Trước khi xảy ra biến cố, bang lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc đều muốn ám sát tượng giới thạch.
Nhưng Liên Xô lại muốn cầm chân quân Nhật.
Không muốn quân Nhật tiến đánh Soviet nên Stalin đã đích thăng viết thư cho Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc,
yêu cầu không được giết tượng giới thạch.
Đảng Cộng sản Trung Quốc không thể phá hủy quốc giang đảng.
Thế nên nó liền đổi giọng.
Đảng Cộng sản Trung Quốc lấy hợp tác đánh Nhật làm danh nghĩa, bắt ép tượng giới thạch đồng ý hợp tác quốc cộng lần hai.
Không lao sau đó, Hồng quân trở thành quân đội số 8 và được chính phủ quốc gian chu cấp cho mọi thứ.
Đảng Cộng sản Trung Quốc ban đầu giống như một kẻ xáo chỉa xuống vào tượng giới thạch,
nhưng rồi quay ngoắc lại và diễn như một người tốt.
Người ta thực sự phải ngưỡng mộ ngón nghề giang xáo này của Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Trong suốt 3 năm nội chiến, Đảng Cộng sản Trung Quốc cài được một tình báo viên là người cực kỳ thân cận với tượng giới thạch.
Lưu Phỉ là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Quốc dân Đảng, chịu trách nhiệm điều động quân đội quốc dân.
Lưu là một đặc vụ ngầm của Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Khi quân lính Quốc dân Đảng còn chưa nhận được lệnh điều binh,
thì tin tình báo đã lọt sang Duyên An, thủ phủ Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Sau khi chiến tranh kháng nhật kết thúc, với sức mạnh đã tích lưỡi được trong suốt 8 năm chiến tranh,
Đảng Cộng sản Trung Quốc thưởng thụ thành quả lao động của quốc dân Đảng.
Đảng Cộng sản đã phát động cái gọi là chiến tranh giải phóng để lật đổ chính phủ quốc dân.
Một lần nữa mang đến thảm họa chiến tranh cho nhân dân Trung Quốc,
sau khi đất nước vừa mới thoát khỏi 8 năm chiến tranh ròng rã.
Từ năm 1947 đến năm 1948, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã ký với Liên Xô Hiệp định Cáp Nhễ Tăng và Hiệp định Mát-cơ-va,
giao nộp quyền lợi và tài nguyên vòng Đông Bắc Tổ quốc,
để đổi lấy ủng hộ toàn diện về ngoại giao và quân sự từ Liên Xô.
Theo những hiệp định song phương này, Đảng Cộng sản Trung Quốc cho phép Liên Xô có đặt quyền qua lại bằng đường bộ và đường không ở vùng Đông Bắc,
cấp cho Liên Xô các sản phẩm chiến lược của vùng Đông Bắc như bông, đạo, để đổi lấy vũ khí tối tân.
Liên Xô được quyền ưu tiên khai thác khoáng sản của Trung Quốc,
được quyền đóng quân tại Tân Cương và mở cục tình báo Viễn Đông tại Trung Quốc.
Nếu châu Âu nổ ra chiến tranh, thì Đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ phái 100.000 quân viễn chinh và 2 triệu lao động đến để hỗ trợ Liên Xô.
Ngoài ra, Đảng Cộng sản Trung Quốc hứa sẽ chuyển một số đặc khu của tỉnh Liêu Ninh sang nhập vào Triều Tiên nếu cần thiết.
Nguồn tài lực mà Đảng Cộng sản Trung Quốc sử dụng trong cuộc nội chiến này không chỉ được tích lấy từ chiến tranh kháng nhật,
bằng việc bán đi các quyền và lợi ích quốc gia mà quyền lực của Đảng Cộng sản Trung Quốc còn được trả với cái giá là mạng sống của vô số người dân.
Đảng Cộng sản Trung Quốc rất nổi tiếng với chiến thuật biến người.
Chúng gửi hàng ngàn binh lính không được trang bị vũ trang ra tuyển tuyến để quân đội quốc dân hoặc là giết chết, hoặc là đào hàng.
Chúng gọi đó là chiến thuật lấy thực đề người.
Khi vai hãm thành phố Trường Xuân vào năm 1948 để cắt mọi nguồn lương thực, quân giải phóng nhận lệnh không cho một ai ra vào.
Kết quả khiến nhân dân Trường Xuân bị vai hãm trong hai tháng, chết đói chết rét gần 200.000 người.
Ây vậy mà sau khi thắng lợi, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã không ngần ngại mà tuyên truyền rằng giải phóng Trường Xuân không phí một viên đạn không nhỏ một giọt máu.
Bằng những cách như thế, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã sử dụng bạo lực và lừa dối, dùng những phương thức tàn nhẫn và độc ác để đuổi quốc dân đảng ra khỏi Trung Quốc lục địa.
Tuyên ngôn Cộng sản đã liên hệ nền tảng triết lý và lịch sử của Đảng Cộng sản với mâu thuẫn và đáo tranh giai cấp.
Giai cấp vô sản hoàn toàn thoát ly khỏi các giá trị đạo đức truyền thống và các mối quan hệ xã hội chỉ để dành quyền lực.
Triết học của Cộng sản là triết học đáo tranh.
Muốn có đáo tranh thì phải có thuẫn.
Ở đâu không có thuẫn thì Đảng Cộng sản Xúi Bảy reo rắc thuẫn.
Xúi Bảy và đáo tranh là nhân tố di truyền thứ sáu và thứ bảy của Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Bạch mau nữ vốn là một câu chuyện xưa về tiên nữ, không có liên quan gì đến đáo tranh giai cấp hay áp bức bóc luật gì.
Nhưng dưới ngoại bút của các tác giả đội văn công, cô trở thành một người bị áp bức mang đài lòng thuẫn.
Họ sáng tác ra rằng một tên địa chủ đã áp bức bạch mau nữ và cải biến câu chuyện dân gian này thành một vỡ kịch tuyên truyền đáo tranh giai cấp.
Câu chuyện sau này còn được chuyển thể thành kịch nói, ca kịch, rồi cả kịch mua ba lê.
Xúi bãi cửu hận giữa một nhóm người dân này với một nhóm người dân khác là một thủ đoạn kinh điển của Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Công thức 95 trên nam cũng từ đó mà ra. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã dùng nó trong các phong trào chính trị, cho đến nay đã phát triển thành một thủ đoạn nhường nhuyễn.
Dân chúng bị chia thành hai phần. Những người rơi vào phần 95% thì an toàn vô sự, còn rơi vào phần 5% thì bị coi như kẻ thù phải bị thanh trừng.
Vì sợ hãi và muốn an toàn, người dân đáo đá để chuyển sang phần 95%. Đáo đá ấy gây nên thù hận sâu sắc, gây hại cho người khác và làm cho mối quan hệ trong dân chúng ngày càng xấu đi.
Đáo tranh Cộng sản gồm cả đáo tranh vũ trang. Mao Trạch Đông nói, cách mạng không phải là mở tiệc đái khách, không phải là ngâm thơ làm văn, không phải là vẽ tranh theo hoa, không phải là một thứ gì đó trang nhã, kiểu cách, êm đềm, thư thả.
Cách mạng là bạo động, là giai cấp này dùng bạo lực lật đổi giai cấp kia.
Năm 1941, Đảng Cộng sản Trung Quốc bắt đầu cái gọi là phong trào chỉnh phong Duyên An. Nó đã sáng tạo ra một phương pháp đàn áp khủng khiếp nhất.
Bước một của cuộc chỉnh phong là lập hồ sơ nhân sự cho từng cá nhân.
Người ta phải liệt kê tất cả các mối quan hệ từ khi sinh ra, tất cả các sự kiện quan trọng kèm theo thời gian và địa điểm nơi chúng diễn ra.
Đặc biệt nhấn mạnh vào quá trình phát triển lý tưởng.
Quan trọng nhất là bản kiểm thảo đảng tính.
Người ta phải thừa nhận mình có bất kỳ ý thức tư tưởng, lời nói, hành vi, sinh hoạt hàng ngày, cho đến mọi giao tiếp nào mà phản đối đảng hay không.
Trên thực tế, cuộc chỉnh phong này chính là cái được gọi là phong trào làm sạch mà Mao Trạch Đông định dùng để thanh trừng và loại bỏ những người bất đồng ý kiến trong đảng.
Đảng Cộng sản Trung Quốc sử dụng rất nhiều phương pháp để thẩm tra cán bộ.
Chúng dùng tra tấn để moi lời khai của người ta, dẫn đến vô số an trái khi xét xử.
Thời chỉnh phong, Duyên An được coi là một nhà ngục tải tính người.
Theo các thông kê của khu vực tỉnh Quang Trung, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã sử dụng khoảng 24 loại nhục hình khác nhau.
Cuộc vận động chỉnh phong Duyên An là trò biểu diễn quyền lực khủng bố nhất, đen tối nhất, tàn bạo nhất trong lịch sử nhân loại.
Nó trà đạp lên văn minh và nhân phẩm, nó bóp méo lương tri và bản tính tự nhiên của con người.
Lo lắng và sợ hãi khiến người ta vứt bỏ cả danh dự và lòng tự trọng, hâm dọa và tra tấn khiến người ta phản bội bạn bè, đồng chí và cả lương tâm của chính mình.
Theo một bản tin của Nhật Báo Giải Phóng, một tờ báo do Đảng Cộng sản Trung Quốc kiểm soát,
ở huyện Tuy Sư có 160 người ăn năng hối lỗi, hơn 280 người tự kiểm điểm, 190 người bị tối giác.
Thậm chí cả thiếu niên nhi đồng cũng lên kháng đại thứ nhận mình là gián điệp.
Để lo cho tính mệnh của mình, người ta không dám nói lên ý kiến cá nhân nữa mà bắt đầu tụng đi tụng lại những bài viết của lãnh tụ đảng.
Sau này, cuộc vận động chỉnh phong Duyên An đã trở thành hình mảo cho hàng loạt các phong trào chính trị của Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Ngay từ những ngày đầu, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã không ngừng xây dân hệ thống lý thuyết toàn diện về diệt chủng của mình.
Nó bao gồm các lý thuyết của Đảng Cộng sản Trung Quốc về giai cấp, cách mạng, đáo tranh, bạo lực, độc tài,
các cuộc vận động chính trị, các đảng phái chính trị và nhiều thứ khác nữa.
Diệt chủng là nhân tố di truyền thứ 8 của Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Đảng Cộng sản Trung Quốc đã làm rất nhiều việc cản tàu ráo máng.
Giống như trong cuộc vận động chỉnh phong ở Duyên An, nó cướp đoạt gia tài của tư sản và địa chủ,
phá bỏ hương hỏa ở làng xã, đảo lộn chính quyền địa phương, bắt cóc tống tiền những người giàu ở nông thôn,
tải não tù chính trị, thậm chí tuyên bố cải tạo giai cấp tiểu thương và tư sản, cài gián điệp và ly gián quốc dân đảng.
Sinh ra từ Cộng sản quốc tế nhưng sau đó phản bội Cộng sản quốc tế.
Nó thậm chí còn đe dọa những đảng viên của mình.
Mọi việc Đảng Cộng sản Trung Quốc làm đều là dối trá.
Tất cả những việc ấy đều xuất phát từ cơ sở lý luận về diệt chủng của Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Điểm cốt yếu trong lý luận diệt chủng của Đảng Cộng sản Trung Quốc là nó diệt sạch tư tưởng với lương tri và nhân tính.
Nếu Hitler muốn hủy diệt thể sát của con người thì Đảng Cộng sản không những thế còn muốn hủy diệt cả trí ót lẫn tinh thần của người ta.
Tất cả các cuộc vận động chính trị đều để tải não tư tưởng của người ta.
Diệt chủng phục vụ cho nhân quyền lời chủ yếu của Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Dưới sự thống trị kinh hoàng này Đảng Cộng sản sẽ không chỉ tiêu diệt bạn nếu bạn chống lại nó mà nó có thể tiêu diệt bạn ngay cả khi bạn ủng hộ nó.
Nó sẽ tiêu diệt bất kỳ ai mà nó cho là cần phải tiêu diệt.
Vì vậy, mọi người đều sống trong bóng tối kinh hoàng này đều khiếp sợ Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Tất cả những nhân tố trên đều dẫn đến một mục đích, khống chế.
Khống chế là nhân tố di truyền thứ 9 của Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Bằng bản tin tà ác, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã chứng tỏ mình là kẻ thù của mọi lực lượng xã hội.
Ngay từ ngày chào đời, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã liên tiếp phải đối mặt với các khủng hoảng và nguy cơ diệt vong.
Và khủng bố đã trở thành phương sách lợi hại, đem lại lợi ích bật nhất cho Đảng.
Lợi ích của Đảng không phải là lợi ích của đảng viên, cũng không phải là tổng hòa lợi ích cá thể của các đảng viên,
mà là lợi ích của chính tập đoàn Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Nó được đặt lên vị trí cao hơn tất cả những gì của cá nhân.
Đảng tính là bản chất cực kỳ lợi hại của Đảng Cộng sản.
Nó có thể khuết trương vô hạn, áp chế hoàn toàn nhân tính,
và biến người ta thành một dạng năng lượng hoàn toàn phi nhân tính.
Giai điệu tuyệt đẹp này là của một bài hát dân ca phía bắc tỉnh Sơn Tây.
Nó đã trở nên rất quen thuộc với mọi người.
Thế nhưng, hương thơm tỏa ra từ những võ hoa này, không phải của ngũ cóc,
cũng không phải của hoa bông, mà là của hoa anh túc.
Mùi hương này đích thị là mùi thuốc viện mà Mao Trạch Đông gọi đây là cách mạng nha phiến.
Năm 1942, để xây dựng nguồn lực tài chính cho cuộc nội chiến,
một cuộc vận động sản xuất lớn được phát động ở Yên An.
Cục chính trị trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã thành lập một ủy ban sản xuất thuốc viện,
đứng đào bởi nhậm bật thời.
Một trong những lãnh đạo đầu tiên của Đảng Cộng sản Trung Quốc cùng với quân Nhật,
họ đưa ma túy đến bán tại các vùng quốc dân Đảng kiểm soát và hại chính người dân của mình.
Trong cuốn nhật ký của Peter Vladimirov, một đại biểu của quốc tế Cộng sản
và là phóng viên của thông tấn xã Itatars tại Yên An,
đã ghi lại một lời phát biểu của Đảng Pháp,
một thành viên của cục chính trị trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Ông nói,
Ngày xưa chúng ta đưa đi hết xe thực phẩm này đến xe thực phẩm khác,
mà chỉ mang về được một ít tiền.
Bây giờ chúng ta đưa đi một ít ma túy sang khu vực quốc dân Đảng
và cuối cùng chúng ta mang về hết thứ tiền này đến thứ tiền khác.
Chúng ta có thể dùng tiền này để mua súng, đàn dược, vũ khí để đánh lại quốc dân Đảng.
Trong lễ kỷ niệm sinh nhật lần thứ 100 của nhậm,
Giám đốc bang sản xuất ma túy,
đảng tính của ông ta được Đảng Cộng sản Trung Quốc nhiệt liệt biểu dương
và ca ngợi ông ta có tư chất đạo đức rất cao,
có một niềm tin vững chắc vào Đảng
và trung thành tuyệt đối với sự nghiệp của Đảng.
Ông là một đảng viên mẫu mực.
Sau khi giành chính quyền,
Đảng Cộng sản Trung Quốc còn quảng ba rộng khắp đảng tính này hơn nữa.
Nó đã phát động thành công một chiến dịch kiểm soát tư tưởng
để nhào nạn lên những công cụ và chiếc óc vít mới của Đảng.
Chẳng hạn như lôi phong.
Những nghi thức này yêu cầu người dân Trung Quốc phải sẵn sàng đồng ý,
tuân theo và hợp tác vì lợi ích của Đảng.
Dưới sự cai trị của Đảng Cộng sản Trung Quốc,
mọi thứ được làm vì lợi ích của Đảng
và không có gì cho nhân dân.
Bởi vì lợi ích của Đảng thống trị tất cả.
Khi đã là lợi ích của Đảng,
thì không cần biết đúng hay sai, tốt hay xấu,
có công bằng hay không.
Đảng Cộng sản Trung Quốc dùng đảng tính để kiểm soát toàn bộ đảng viên,
rồi sau đó đến toàn bộ xã hội.
Núp dưới cái vỏ quốc gia,
đảng tính được áp đặt lên nhân tính như một bộ tư tưởng thích hợp,
một bộ hành vi theo khuôn máu và một hệ thống quy định.
Từ lãnh đạo đảng cho đến người dân bình thường,
không một ai bị bỏ sót.
Sau hàng thập kỷ tái não,
lối suy nghĩ theo đảng tính đã trở thành cố hữu trong người dân Trung Quốc.
Họ trở thành những cỗ mái thận trọng,
phục tùng và kỷ luật.
Đảng Cộng sản Trung Quốc là đảng cứng rắn,
kỷ luật sắc đá, ý chí thông nhất
và hành động của đảng viên toàn đảng,
bắt buộc phải nhất trí.
Bản thân đảng Cộng sản Trung Quốc là một cơ thể với đời sống riêng.
Đảng quyết định vận mệnh của đảng viên,
chứ không phải đảng viên quyết định vận mệnh của đảng.
Trên thực tế,
phần lớn các căn bộ cao cấp nhất của đảng,
các tổng bí thư,
đều có kết cục trở thành phần tử phản đảng
và bị triệt hạ.
Sáng lập viên đảng Cộng sản Trung Quốc Trọng Độc Tố
là một phần tử trí thức
và là lãnh đạo cuộc vận động sinh viên năm 1919.
Ông Vốn Không Ưa Bạo Lực
đã cảnh cáo các đảng viên Cộng sản rằng
nếu tìm cách buộc quốc gia đảng đi theo ý thức Cộng sản
hoặc quá chạy theo giành và quyền lãnh đạo,
thì sẽ dẫn đến tình trạng căng thẳng không cần thiết trong nội bộ đảng.
Tuy rất năng nổ trong cuộc vận động 4 tháng 5,
nhưng ông là người có lòng khoan dung.
Ai vậy rằng Độc Tố là người đầu tiên
bị chập mũ phần tử cơ hội chủ nghĩa cánh hữu?
Một lãnh đạo khác trong đảng Cộng sản Trung Quốc Cù Thu Bạch
luôn tin tưởng rằng
đã là người Cộng sản thì phải dấn thân chinh chiến,
tổ chức bạo động,
lật đổ các cấp chính quyền,
dùng các biện pháp cực đoan
để khôi phục trật tự cho xã hội Trung Quốc.
Vậy mà trước lúc lịa đời,
Cù Thu Bạch nói
tôi thực chất đã ra khỏi đội ngũ các bạn từ lâu.
Hói trời xanh, lịch sử triêu tôi
khiến tôi từ một văn nhân
cưỡng bách lôi kéo vào ngũ đài chính trị bao năm trường.
Tôi xưa nay vẫn chưa khắc phục được ý thúc văn sĩ trong mình.
Rốt cuộc, tôi vẫn không thể trở thành
người chiến sĩ thực thủ của giai cấp vô sản.
Vương Minh,
một lãnh đạo của đảng Cộng sản Trung Quốc
tuân theo lệnh Cộng sản quốc tế
đã chủ trương hợp tác quốc cộng để kháng nhật
mà không mở rộng căn cứ địa cách mạng.
Tại đại hội đảng,
Mao Trạch Đông và Trương Văn Thiên
không thể thuyết phục đồng chí Vương Minh
và cũng cực kỳ khó xử
vì không dám thiết lộ rằng
lực lượng hòng quân của đảng Cộng sản Trung Quốc
bây giờ không đủ sức đương đạo
với chỉ dù một sư đoàn quân nhật.
Mao Trạch Đông buộc phải im lặng trong cuộc họp.
Sau này Vương Minh bị hất cản
đầu tiên là vì lệch sang tả khuynh
rồi sau là hữu khuynh
và bị chụp mẫu là phận tử cơ hội chủ nghĩa cánh hữu.
Hồi dự ban,
Tổng Bí Thư Đảng
đã lấy lại sự ủng hộ của nhân dân
cho đảng Cộng sản Trung Quốc
bằng việc trả lại công lý
cho những ai bị xử oan trong cuộc cách mạng văn hóa.
Tuy vậy,
sau này ông đã bị bức bách phải từ chức.
Triệu Tử Dương
muốn cải cách để cứu vãn đảng Cộng sản
nhưng hành động của ông chỉ mang lại kết quả bi đáp cho mình.
Như vậy,
mỗi lãnh đạo của đảng Cộng sản Trung Quốc
có thể làm được gì đây?
Thật sự,
cải cách đảng Cộng sản
thì đảng Cộng sản sẽ diệt vong.
Đảng viên không thể đi quá giới hạn
mà đảng khống chế để chuyển đổi hệ thống đảng.
Do đó,
mọi cố gắng để cải cách bản thân
của đảng Cộng sản Trung Quốc
đều không đến thành công.
Những người lãnh đạo của đảng Cộng sản Trung Quốc
thường có kết thúc cuộc đời trong bi kịch
còn bản thân đảng vẫn sống sót.
Nhiều khi vào lúc đảng lên cao nhất
thì các quan chức tối cao bị hạ bệ
vì tà ác trong họ không đạt yêu cầu của đảng.
Chỉ những ai tà ác nhất
mới được đảng chọn.
Những lãnh đạo trụ vấn được
là những ai không tìm cách thao túng đảng
mà trái lại hiểu rõ đảng tính,
thuận theo đảng tính,
có thể nạp năng lượng cho đảng,
có thể phò tá đảng trong cương nguy năng.
Không lạ gì, đảng viên dám đáu với trời,
đáu với đất, đáu với người
nhưng không dám đáu với đảng.
Họ là những công cụ thuần phục cho đảng.
Lên đến vị trí cao nhất trong đảng
thì đó là quan hệ cộng sinh
giữa hai bên để sinh tồn.
Đảng Cộng sản Trung Quốc lấy bạo lực,
khủng bố và tuyên truyền cường độ cao
làm cương lĩnh lý luận,
hóa thành đảng tính,
là nguyên tắc tối cao của đảng,
hóa thành linh hồn lãnh đạo,
hóa thành chuẩn tắc
cho mọi cơ chế vận hành trong đảng
cũng như cho hành vi
của tất cả đảng viên.
Lịch sử dựng nghiệp của Đảng Cộng sản Trung Quốc
chỉ rõ rằng
chính quyền của Đảng Cộng sản Trung Quốc
không hề hợp pháp,
nhân dân Trung Quốc không hề lựa chọn Đảng Cộng sản,
mà chính là Đảng Cộng sản,
một công quỷ ngoại lai
đã cưỡng chế chui vào
nhân dân Trung Quốc
với đủ loại nhân tố tà ác nhất
tà ác, lừa dối,
xuôi bãi, đáu tranh,
trấn lột, lưu manh,
gián điệp,
diệt chủng, khống chế.
Khi Đảng Cộng sản Trung Quốc
cần công nhân,
Đảng tán dương họ thành giai cấp tiên tiến nhất
là đội quân tiên phong
của cách mạng vô sản,
nhưng rút cuộc,
giai cấp công nhân trở thành vô sản triệt đế,
chẳng còn sở hữu thứ gì.
Khi Đảng Cộng sản Trung Quốc
cần nông dân,
Đảng vuốt ve họ và nói rằng
không có bằng nông thì không có cách mạng.
Đảng còn hứa hẹn
sẽ cho dân cài có ruộng.
Niềm hạnh phúc của những người nông dân
may mắn được chia ruộng đắp
chỉ kéo dài trong vòng vài ngày.
Đắp của họ không lao sau
bị lái lại cho hợp tác xã.
Khi Đảng Cộng sản Trung Quốc
gặp nguy cơ xích
bị quốc dân đảng tiêu diệt,
bèn hô hào,
người Trung Quốc không hại người Trung Quốc.
Tuy nhiên, khi kháng chiến Trung Nhật
vừa kết thúc, Đảng Cộng sản Trung Quốc
gom toàn lực lật đổi chính quyền
quốc dân đảng.
Khi Đảng Cộng sản Trung Quốc
cần sự giúp đỡ từ các đảng dân chủ
liền kêu gọi sống chung lao bền,
thành thật song phương,
vinh nhục có nhau.
Nhưng bất kể ai
không đồng ý hay không theo tư tưởng
của Đảng đều bị tiêu diệt.
Đảng Cộng sản là
chuyên chính, không chia sẻ
quyền lực với bất kể ai hay tổ chức
nào khác.
Bài học lịch sử dạy rằng
không thể tin vào bất kể hứa hẹn gì
của Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Ai tin lời Đảng Cộng sản Trung Quốc
rồi sẽ có ngày phải trả giá
bằng tính mạng của mình.
Không có lửa dối
và bạo lực, Đảng Cộng sản
Trung Quốc không thể giành được quyền lực
như ngày hôm nay.
Trong mấy thập kỷ qua,
Đảng Cộng sản Trung Quốc đã không ngừng gây ra
biết bao thảm họa và khổ đau
cho nhân dân Trung Quốc.
Sự ngông cuộn của Đảng Cộng sản Trung Quốc
trong các cuộc tàn sát bừa bãi
và đàn áp có chủ ý trên khắp
Trung Quốc là nỗi bất hạnh
lớn nhất cho người dân Trung Quốc.
Thoát khỏi gông xiền
của Đảng Cộng sản Trung Quốc
sẽ mang đến niềm hy vọng mới cho Trung Quốc.
