(38) Tiền Bạc, Dục Vọng Và Con Đường Hồi Thiên Phải Chăng Người Càng Giàu, Đạo Tâm Càng Xa
Trở Về
595 người theo dõi
200 Lượt xem video·12 thg 11, 2025
Tiền bạc dục vọng và con đường hồi thiên.
Phải chăng, người càng giàu, đạo tâm càng xa?
Chúa Giê-xu từng nói với các môn đồ rằng,
Thật, ta bảo các người, người giàu có thật, khó vào được nước trời.
Ta lại nói với các người,
Lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào nước trời.
Vậy, phải chăng, người giàu thật sự không thể vào thiền quốc?
Người có thiền thật sự khó tu hành, khó đạt được giải thoát hay sao?
Nếu cuộc cài là phúc đức mà con người tích lũy được qua bao đời,
Vậy vì sao, Kinh Thánh lại nói rằng,
Người giàu vào nước trời còn khó hơn lạc đà chui qua lỗ kim.
Câu chuyện có tiền khiến quỷ đầy cối say
Quý vị có từng nghe câu nói,
Có tiền có thể khiến quỷ đổi cối say bao giờ chưa?
Nhưng ít ai biết rằng, câu tiếp theo của nó còn thâm thúy và hiện thực hơn đó,
Chính là không tiền biến thành quỷ đầy cối say.
Vì sao lại có câu nói này?
Trong sách Ú Minh Lục, Âm Dương Lục,
Của Lưu Nghĩa Khánh, Đời Nam Triều, Lưu Tống,
Có một tập truyện gọi là Tân Quỷ,
Có ghi lại một câu chuyện như sau,
Có một oan hồn mới xuống âm phù,
Thần hình gầy gò yếu ớt.
Ở địa ngục, hắn nhìn thấy một hồn mà khác béo tốt,
Xung túc lên thầm ngưỡng mộ,
Và hỏi,
Làm sao để trở nên giàu có và sung sướng như huynh vậy?
Quỷ hồn kia đáp,
Chỉ cần lên dương gian quấy phá một phèn,
Khiến người đời sợ hãi,
Họ sẽ cúng đồ ăn cho người,
Người sẽ được ăn uống no đủ.
Nghe vậy, quỷ hồn gầy gò liền hớn hở lên trần gian,
Mong làm nên chuyện lớn.
Nó xuống vào một căn nhà,
Thấy trong bếp có chiếc cối xay,
Ben hí hừng đầy thử để hưu dọa người sống.
Nào ngờ, chùa nhà vốn nghèo khổ,
Ngay cả bản thân cũng không đủ ăn mặc,
Thì lấy đầu ra lễ vật để cúng cho quỷ.
Nghe thấy tiếng động trong bếp,
Chùa nhà bước ra xem,
Chỉ thấy chiếc cối xay vẫn đang tự quay,
Mà không có ai ở đó.
Ben than rằng,
Xem ra ông trời thương xót ta,
Xay quỷ đến giúp ta xay bột đây.
Thế là con quỷ gầy ấy,
Xay suốt một hồi lâu,
Vừa không được ăn uống gì,
Lại còn kiệt sức.
Thực ra, thành ngữ phổ biến,
Có tiền cũng khiến quỷ đầy cối xay,
Được kỳ chép rõ ràng,
Trong ngụ thế minh ngôn,
Của Phùng Mộng Long,
Quyền 21.
Nó có nghĩa, là người có tiền,
Thì ngay cả quỷ cũng sẵn lòng làm việc cho họ.
Hàng hóa có giá trị tương xứng,
Với tiền bò ra,
Và nếu kẻ nào phản bội lương tâm,
Dối trá, át gặp họa, trời dáng.
Điều đó cho thấy,
Dù là người hay quỷ,
Đều hàm mê tiền tài.
Có tiền là có quyền,
Có phương tiện để đạt được mọi thứ.
Nếu không, tại sao,
Ngay cả một quỷ hồn nơi âm giới,
Vẫn muốn trở thành một phú quỷ,
Sùng túc.
Tiền rốt cuộc là gì?
Mark Twain,
Nhà văn nổi tiếng của Mỹ,
Từng nói,
Tiền không phải là tất cả của cuộc sống,
Nhưng nó khiến cuộc sống tốt đẹp hơn.
Câu nói ấy,
Đã nêu đúng bản chất của tiền.
Tiền không phải vạn năng,
Nhưng thiếu tiền,
Thì vạn sự bất thành.
Warren Buffett,
Được mệnh danh là thân đầu tư,
Cũng từng nói,
Quy tắc số một,
Đừng để mất tiền.
Quy tắc số hai,
Đừng bao giờ quên quy tắc số một.
Hiện nhiên,
Bí quyết để người giàu giữ được sự giàu có,
Là không để mất tiền.
Tuy nhiên,
Albert Einstein,
Nhà khoa học vĩ đại,
Lại nói,
Cùa cài,
Phải là người hầu của nhân loại,
Chứ không được trở thành chủ nhân của họ.
Lời nói này khiến người ta suy ngẫm,
Người giàu nắm tiền tài,
Có thể mua danh vọng,
Địa vị,
Quyền lực.
Vậy tại sao?
Einstein lại nói rằng,
Họ là nô lệ của cùa cài,
Chứ không phải chủ nhân.
Với một nhà khoa học,
Quan niệm về tiền chắc chắn sẽ khoa học,
Và lý tính hơn người thường.
Về học thuật,
Tiền không phải là biểu tượng của cùa cài,
Mà chỉ là công cụ trao đổi hàng hóa và dịch vụ,
Có thể là tiền giấy,
Hoặc tiền kim loại.
Tiền có hai chức năng lớn,
Dùng để trao đổi hàng hóa,
Dùng để đo lượng giá trị của các hàng hóa khác nhau,
Tức là độ lượng hàng.
Trong thời cổ đại,
Khi giao thông vận tài còn hạn chế,
Người ta chọn những vật nhỏ,
Quý giá,
Và dễ mang theo
Để làm thước đo giá trị trong giao dịch,
Như ngọc chay,
Vỏ sò,
Vàng,
Đồng,
Niken.
Một khi giá trị tương đương giữa các vật phẩm được xác lập,
Họ sẽ trao đổi hàng hóa một cách tương ứng,
Và giá trị ấy có thể được thương lượng giữa hai bên mùa bán.
Bởi vậy,
Thước đo của cài trong xã hội cổ đại
Không phải là số lượng ngọc chay hay vỏ sò,
Mà là quy mô tài sản thực tế
Mà một người nắm giữ,
Như đất đai,
Nhà cửa,
Gia nghiệp,
Sản vật.
Ngọc chay hay vàng
Chỉ là công cụ đo lường,
Và có thể được thay thế bởi vật khác có giá trị tương đương,
Cũng như vàng ngày nay là thước đo tiên tệ toàn cầu.
Thế nhưng,
Nếu hôm nay bạn có cả một núi vàng
Mà không có hàng hóa
Hoặc giá trị thực để trao đổi,
Thì núi vàng ấy
Cũng trở nên vô nghĩa.
Câu chuyện người giàu, người nghèo và cơn lũ đêm
Một đêm nọ,
Một trận lũ lớn ập đến một ngôi làng,
Người dân hoảng loạn chạy trốn,
Chỉ có hai người không kịp thoát thân,
Đành leo lên hai cây lớn gần đầu làng.
Một người là phú ông,
Mang theo một túi vàng,
Người kia là kẻ nghèo,
Mang theo một túi bánh bao.
Sáng hôm sau,
Nhìn quanh chỉ thấy biển nước mênh mông,
Hai người vui mừng nhận ra nhau
Trên hai cây kế bên.
Vậy tay chào,
Và hy vọng sẽ có người đến cứu.
Ngày đầu tiên,
Cả hai đều chờ đợi cứu,
Đói bụng,
Người nghèo liền lấy bánh ra ăn.
Còn người giàu,
Chỉ có vàng,
Không ăn được,
Đành nhìn người nghèo ăn bánh,
Nuốt nước bọt chịu đựng.
Ngày thứ hai,
Vẫn chưa ai đến cứu,
Người nghèo lại ăn bánh,
Còn người giàu đói lạ,
Cuối cùng chịu không nổi,
Liền nói,
Ta có đầy vàng đây,
Người có chịu đổi bánh lấy vàng không?
Người nghèo đã quen với cảnh túng thiếu,
Nghe vậy mừng rỡ,
Nghĩ rằng,
Đổi bánh lấy vàng,
Chẳng phải là lọc tròi ban sao.
Liền nói,
Được thôi,
Ta có thể cho người tất cả bánh của ta,
Nhưng người phải đưa hết số vàng người có để đổi.
Người giàu miễn cưỡng chấp nhận,
Vì đói khát đã đến cực hạn,
Và thế là túi vàng đổi lấy túi bánh vào.
Lúc này,
Một túi vàng chỉ còn giá trị
Tương đương với một túi bánh bao.
Người nghèo chưa bao giờ dám mơ đến vàng bạc,
Lại không gờ rằng,
Chỉ cần vài chiếc bánh bao là có thể đổi được cả một túi vàng.
Điều đó cho thấy rằng,
Vàng tùy quý giá,
Và có thể giá trị liên thành.
Nhưng khi liên thành không còn tồn tại,
Khi thứ duy nhất có giá trị là lương thực,
Thì vàng cũng chỉ đáng giá bằng một túi bánh bao mà thôi.
Nói cách khác,
Vàng với tư cách là thức đo giá trị,
Bản thân nó cũng thay đổi tùy theo giá trị của lương thực.
Nếu giá trị của tiền có thể biến động,
Khi thì vô cùng quý giá,
Khi thì vô giá trị,
Vậy thì tại sao,
Dù là người giàu hay người nghèo,
Đa số con người vẫn không nhận ra điều đó,
Vẫn cả đời mải miết chạy theo tiền bạc.
Đó là bởi vì,
Con người đã mê hoặc bởi ảo tưởng của tiền.
Người hiện đại cho rằng,
Tiền là của cải có thể được cất giữ trong ngân hàng,
Và coi tiền như biểu tượng của sự giàu sang,
Có thể tiết lưỡi được.
Nhưng họ không hề nhận ra rằng,
Tiền có thể là của cải,
Mà cũng có thể không phải là của cải.
Nói thẳng ra,
Số tiền nằm trong ngân hàng căn bản,
Không phải là của cải thật.
Đến ngày thứ ba,
Cứu viện vẫn chưa tới,
Người giàu đổi được bánh bằng vàng,
Nên ăn bánh,
Mặc kiên nhẫn chờ đợi.
Còn người nghèo có vàng,
Mà không có gì để ăn,
Chỉ biết nhìn người giàu ăn bánh,
Thèm nhỏ dãi.
Sang ngày thứ tư,
Người nghèo hai ngày không được ăn uống,
Đói đến mức hoa mắt chóng mạnh,
Chịu không nổi,
Nên nói với người giàu,
Người có thể bán cho ta vài chiếc bánh bao không?
Ta lấy vàng đổi.
Người giàu đáp,
Không thành vấn đề,
Nhưng nửa túi vàng đổi được hai cái bánh.
Nói cách khác,
Hai chiếc bánh chỉ đáng nửa túi vàng.
Người nghèo biết rõ là bị ép giá,
Nhưng nếu không đồng ý,
Thì sẽ chết đói.
Đánh nghiến răng chấp nhận.
Đến ngày thứ bảy,
Nước rút,
Hai người đều sống sót,
Cùng từ trên cây bước xuống.
Lúc này,
Người nghèo đã ăn hết sạch bánh bao,
Còn người giàu lại lấy lại toàn bộ số vàng của mình.
Trong vụ trao đổi vàng lấy bánh này,
Giá trị thực của vàng,
Được bộc lộ một cách rõ ràng và sâu sắc nhất.
Nhiều nhà tài chính,
Thích dùng câu chuyện vàng đổi bánh,
Để giải thích vì sao,
Người nghèo mãi nghèo,
Còn người giàu thì càng giàu.
Họ cho rằng,
Sự khác biệt giữa người nghèo và người giàu,
Nằm ở tư duy,
Khi đối diện với cơ hội kiếm tiền.
Tư duy quyết định cách nghĩ,
Cách nghĩ quyết định con đường,
Quan niệm quyết định tương lai.
Nhận định ấy,
Vừa đúng,
Lại vừa sai.
Vì sao nói như vậy?
Quả thật,
Tư duy quyết định lối đi,
Lối đi quyết định lối thoát,
Quan niệm quyết định tiền đồ.
Người nghèo thiếu ý thức về rủi ro,
Không hiểu rằng,
Khi sinh mạng bị đe dọa,
Nò bụng quan trọng hơn sở hữu vàng bạc.
Họ chỉ nhìn thấy lợi ích trước mắt,
Đánh mất sự sáng suốt,
Nên ngày càng lốn sâu trong nghèo khó.
Người giàu thì có ý thức về rủi ro,
Biết cách tận dụng giá trị của vàng,
Để đổi lấy lương thực.
Chồng thì có vẻ thua thiệt,
Nhưng thực ra,
Đã đạt được thứ có giá trị hơn,
Rồi lại dùng chính lương thực ấy,
Để ép giá ngược lại.
Cuối cùng,
Thu hồi toàn bộ số vàng.
Vì vậy,
Mà người giàu càng ngày càng giàu.
Nhưng cả hai loại tư duy này,
Đều sai trên con đường tu đạo.
Nghe có vẻ hợp lý,
Nhưng đối với việc tu đạo,
Dù là người nghèo đổi vàng lấy bánh,
Hay người giàu đổi bánh lấy vàng,
Cả hai kiểu tư duy ấy,
Đều là sai lầm.
Vì sao lại nói như vậy?
Bởi điều này liên quan đến
Vì sao con người phải tu đạo?
Hay nói cách khác,
Mục đích thật sự của việc tu đạo là gì?
Con người tu đạo,
Để tránh xa trần thế hỗn loạn,
Thông qua thiền định,
Cầu nguyện hay tu tâm,
Đã đến sự giao hòa với nội tâm và tầng linh tính,
Từ đó tìm được sự bình an trong tâm hồn.
Có người tu đạo,
Để truy tìm ý nghĩa và mục đích của sinh mệnh.
Có người tu đạo,
Để rèn luyện phẩm hạnh,
Theo đuổi lòng thiện,
Sự tử bi và chân thành,
Lấy giáo lý tôn giáo,
Và đạo đức làm chuẩn mực hành vi.
Lại có người tu đạo,
Để kết nối với thần linh,
Vũ trụ hoặc các năng lực siêu nhiên.
Dù theo tôn giáo hay hành trình tâm linh,
Mục tiêu của việc tu đạo,
Vẫn xoay quanh những điều ấy.
Tuy nhiên,
Điều cột lõi,
Vì sao con người phải tu đạo,
Thì ngay cả Thích Campodi,
Lão Từ hay Chúa Giê-xu,
Cũng chưa từng giàn dài rõ ràng triệt đẻ.
Cho đến khi Đại sư Lý Hồng Chí,
Công bố bài viết,
Vì sao có nhân loại,
Thì mới thực sự chỉ rõ nguyên nhân,
Vì sao con người cần phải tu đạo.
Theo bài viết,
Vì sao lại có nhân loại,
Chúng ta hiểu được rằng,
Tạm giới,
Cũng như không gian ba triều,
Mà nhân loại đang sinh sống,
Là do thần tạo ra.
Bởi vì các tầng thiên giới trong vũ trụ,
Đã dần dần lệch khỏi đặc tính,
Trần, thiện, nhẫn,
Mà đứng sáng thế đặc định khi tạo vũ trụ.
Nên tạm giới được kiến lập,
Để các vị thần ở mọi tầng giới,
Có thể giãng hạ,
Tái rèn luyện,
Thanh lọc,
Và quy chính bản thân,
Đạt lại chuẩn mực của,
Trần, thiện, nhẫn,
Và trở về thiên giới tương ứng của mình,
Trước khi vũ trụ giải thẻ.
Nói cách khác,
Việc tu đạo chính là bài học,
Mà các vị thần xuống nhân gian,
Phải hoàn thành để trở lại thiên giới,
Chứ không phải để tìm kiếm sự bình an nội tâm,
Hay chỉ để sống thiện trong thế gian.
Mục tiêu của việc tu đạo,
Không nằm ở trốn trần gian ba triều,
Mà là để con người hiểu,
Và đạt đến tiêu chuẩn,
Của các tầng thiên giới khác nhau,
Từ đó trở về thiên thượng.
Vấn đề đặt ra là,
Tiêu chuẩn của các tầng thiên giới ấy,
Là gì?
Con người làm sao có thể biết được?
Phật Thích Ca Môni,
Chúa Giê-xu,
Lão Tử và Khổng Tử,
Đều là những mực thánh nhân,
Xuất hiện gần như cùng một thời đại.
Các vị thánh nhân trong kinh điển Phật giáo,
Và giáo lý tôn giáo,
Đều đã chỉ dạy cho con người biết rằng,
Thiên quốc thực sự tồn tại,
Đồng thời dạy con người đạo làm người,
Và những phẩm chất mà người muốn thành thần phải có.
Tuy nhiên,
Ba vị thánh nhân lớn,
Thích Ca Môni,
Chúa Giê-xu và Lão Tử,
Đều từng đề cập ở những bức độ khác nhau,
Đến vấn đề người giàu khó tu đạo.
Đức Phật có dạy rằng,
Trong thiên hạ có năm điều khó,
Nghèo khổ mà không bắt đạo đức là khó,
Người giàu sang học đạo là khó,
Giữ được mạng sống đến chết là khó,
Được thấy Kinh Phật là khó,
Thành Bậc Thánh là khó.
Trong năm điều khó ấy,
Điều thứ hai,
Là người giàu sang học đạo khó,
Nghĩa là,
Người có cùa cải và thế lực,
Muốn học đạo thật không dễ.
Nguyên nhân,
Là bởi những người này,
Thường bị bao vây bởi ngũ dục,
Đời sống đầy đủ,
Hưởng thụ,
Giao du rộng rãi,
Mỗi ngày đều vướng bận trong vô số công việc,
Tiệc tùng, xã giao,
Nên khó có thời gian và tâm trí để học Phật.
Chính vì vậy,
Chúa Giê-xu mới nói rằng,
Người không thể vừa phụng sự Thượng Đế,
Vừa phụng sự mà mận.
Mà mận ở đây,
Nghĩa là cùa cải,
Vật chất,
Vật tiền bạc.
Còn Lão Từ trong Đạo Đức Kinh cũng giảng rằng,
Vàng ngọc đầy nhà,
Chẳng ai giữ được lâu,
Dầu sang kiêu ngạo,
Át tự chuốc lấy họa.
Ý nói,
Cùa cải tuy quý,
Nhưng thế sự vô thường,
Chẳng thể giữ mãi.
Khi con người trở nên giàu sang,
Họ sẽ bị mê hoạc bởi vật chất,
Sinh tâm kiêu mạn,
Và từ đó dẫn đến những hậu quả bì thường.
Vì sao con người,
Sau khi giàu có,
Lại bị mê hoạc bởi tiền bạc?
Trong xã hội hiện đại,
Cùa cải và tiền tài,
Thường được xem là biểu tượng của thành công và hạnh phúc.
Vì vậy,
Mọi người đều mong muốn có cuộc sống sung túc,
Muốn được thỏa mãn nhu cầu sinh tồn,
Nâng cao chất lượng sống,
Có sự độc lập và an toàn tài chính,
Muốn thực hiện ước mơ,
Đạt được điệu vị xã hội và sự công nhận của người khác.
Do đó,
Tiền bạc không chỉ mang ý nghĩa vật chất,
Mà còn ẩn chứa giá trị tinh thần và tâm lý.
Không ai là không muốn sống tốt hơn,
Và để có cuộc sống tốt hơn,
Thì phải có tiền.
Tiền bạc ảnh hưởng đến tâm lý,
Hành vi, giá trị sống và vị thế xã hội của con người.
Và chính điều này dẫn đến sự bất bình đẳng,
Lòng tham và vòng xoáy truy cầu vô tận.
Theo quan điểm của Phật ra,
Nhiều hay ít tiền bạc,
Đều là do phúc đức và tích lũy từ đời trước mà có.
Vì thế,
Người giàu có lẽ ra là do phúc đức sâu dày
Và phải dễ dàng tu luyện mới đúng.
Nhưng tại sao,
Tất cả các bậc thánh nhân đều đồng thanh nói rằng,
Người giàu khó tu đạo.
Dường như,
Thuyết nhu cầu theo tầng bậc của Maslow,
Do nhà tâm lý học nổi tiếng người Mỹ,
Abraham Maslow đề xuất,
Đã cho chúng ta một lời giải thích rõ ràng.
Thuyết nhu cầu Maslow,
Nên tăng tâm lý của người giàu khó tu.
Qua quan sát và nghiên cứu,
Maslow cho rằng,
Con người có những nhu cầu sinh lý và tâm lý bầm sinh,
Mang tính di chuyển,
Và chính những nhu cầu ấy sinh ra hàm muốn và xung đột,
Tồn tại vĩnh viễn trong bản chất con người.
Ông chia nhu cầu của con người thành 5 tầng,
Từ thấp đến cao,
Sắp xếp theo hình kim tự tháp.
Một, nhu cầu sinh lý cơ bản,
Ăn uống, nước, không khí,
Ngủ nghỉ, duy trì sự sống.
Hai, nhu cầu an toàn,
An toàn cá nhân,
Ổn định cuộc sống, tránh nguy hiểm,
Bệnh tật, tồn hại,
Bảo vệ sức khỏe, tài sản và bản thân.
Ba, nhu cầu về tình cảm và sự thuộc về,
Mong muốn được yêu thương,
Có bạn bè,
Có các mối quan hệ xã hội.
Bốn, nhu cầu được tôn trọng,
Mong đạt thành tựu,
Được công nhận,
Được người khác kính trọng.
Năm, nhu cầu tự thể hiện,
Mong muốn phát huy tiềm năng,
Nâng cao cảnh giới,
Hoàn thiện bản thân.
Khi một người trở thành người giàu,
Nghĩa là họ đã thoả mãn tầng thứ tư,
Và thứ năm của Kim tự tháp.
Ở giai đoạn này,
Người giàu sống trong môi trường vật chất sung túc,
Đã quen với hưởng thụ và xa hoa,
Mải mê với công việc,
Kinh doanh,
Các mối quan hệ và nghĩa vụ xã hội.
Họ phải đối diện với áp lực và kỳ vọng lớn,
Phải liên tục đạt thêm thành công,
Và tích lũy thêm cua cải.
Nên không còn thời gian và tâm trí
Để hướng vào tu luyện nội tâm.
Hơn nữa,
Người giàu thường xem cua cải
Và địa vị là dấu ấn của bản thân,
Coi thành tựu bên ngoài
Là thức đo giá trị và danh phận.
Bởi vậy,
Buông bỏ điều ấy,
Để tìm về sự bình an nội tại,
Chính là một thử thách vô cùng to lớn.
Khi tiền trở thành siềng xích
Động lực theo đuổi tiền tài,
Thực chất xuất phát từ dục vọng.
Dục vọng vô tận,
Khiến con người không bao giờ cảm thấy đủ.
Càng kiếm được nhiều,
Lại càng hàm muốn nhiều hơn.
Chính điều đó,
Ngăn cản họ thoát khỏi sự gian buộc vật chất.
Và khi không thể vượt lên hàm muốn vật chất,
Tù hành trở nên vô cùng khó đạt được.
Như tài việt giàu mò,
Pol Getty,
Người được coi là một trong những người giàu nhất thế kỷ 20.
Từng nói,
Tiền bạc,
Giống như phân bón,
Phải giải ra thì mới có ích.
Còn giữ lại quá lâu,
Nó sẽ bốc mùi hồi thối.
Nhà văn kịch tác gia,
Và thi sĩ,
Với Ireland,
Oscar Wilde,
Thì nói,
Tôi thà có sự giàu có thực sự,
Còn hơn có tiền bạc.
Câu nói ấy cho thấy,
Trong tâm trí của những người thật sự sáng suốt,
Giàu có đích thực,
Không nằm ở tiền.
Bởi vậy,
Mạnh tử mới nói,
Phú quý không thể làm lay động trí.
Nghèo khó không thể làm đổi lòng.
Uy vũ không thể khuất phục.
Vậy,
Phải chẳng người giàu thật sự không thể tu đạo?
Thực ra không phải.
Thích Cà-mô-ni Phật,
Vốn là một vị thái tử,
Được thừa hưởng vương vị,
Và bốn bể phú cường.
Nhưng,
Ngài xem ngai vàng như mây khói,
Xem phú quý như bụi trần,
Vượt bỏ tất cả để xuất ra tu đạo.
Và cuối cùng,
Chứng đắc vô thượng tránh đằng tránh giác.
Điều đó cho thấy rằng,
Chỉ cần phát tâm tình tấn tu hành,
Dù là người giàu,
Vẫn có thể tu thành tránh quả.
Giáo lý thái nhân và học thuyết Maslow.
Nếu chúng ta đối chiếu thuyết nhu cầu Maslow
Với giáo lý của các bậc thái nhân cổ đại,
Sẽ thấy rằng,
Tuy Maslow giải thích đúng bàn chất tâm lý con người trong xã hội vật chất,
Nhưng học thuyết ấy vẫn dừng lại ở tầng nhân sinh,
Chừa chạm tới cành giới siêu việt của đạo và linh tính.
Maslow nhận định rằng,
Con người sau khi thỏa mãn được các nhu cầu vật chất và tinh thần,
Sẽ bước vào giai đoạn tự thể hiện bản thân,
Tức là thực hiện lý tưởng và tiềm năng của chính mình.
Tuy nhiên, đối với các bậc thánh,
Điều đó mới chỉ là khởi điểm của con đường tu luyện,
Chứ chưa phải cứu cánh.
Bởi vì,
Tự thể hiện bản thân trong học thuyết Maslow,
Vẫn dựa trên cái ngã,
Cái tôi con người làm trung tâm.
Còn đạo học chân chính,
Lại dạy con người diệt trừ cái ngã,
Vượt khỏi tự ngã,
Hòa nhập với đạo của trời.
Giới hạn của Maslow và lời dạy của các thánh nhân.
Trong kinh vật,
Thích-ca-mô-đi giảng rằng,
Nhất thiết pháp vô ngã,
Nếu người đạt vô ngã,
Tức đặc niết bàn.
Câu này có nghĩa là,
Mọi pháp đều không có tự ngã,
Chỉ khi con người diệt trừ cái tôi chấp trước,
Mới có thể chứng ngộ chân lý,
Và giải thoát khỏi luân hồi sinh tử.
Trong khi đó,
Maslow,
Lại coi việc phát huy cái tôi,
Đạt đến giá trị cá nhân,
Là đỉnh cao của đời sống.
Chính sự khác biệt này cho thấy,
Khoảng cách giữa học thuyết tâm lý,
Và chân lý của đạo.
Lão từ,
Chồng,
Đạo Đức Kinh nói,
Nghĩa là,
Chỉ có người không tranh,
Mới không ai có thể tranh với họ.
Còn không từ dạy rằng,
Chế ngự bản thân,
Trở về với lễ nghĩa,
Đó chính là nhân.
Cả hai bậc thái nhân đều chỉ ra rằng,
Con đường tu dưỡng,
Không nằm ở việc thỏa mãn bản thân,
Mà ở việc vượt lên chính mình.
Còn Maslow,
Lại lấy tôi muốn làm động lực,
Đây chính là dao càng lớn nhất,
Khiến con người không thể hướng đạo.
Còn người hiện đại,
Thường xem thành công,
Và hạnh phúc như đỉnh cao của cuộc sống.
Nhưng đối với thần Phật,
Đó mới chỉ là bước đầu của sự mê đắm.
Khi con người bị chi phối bởi hàm muốn và danh lợi,
Họ vĩnh viễn ở trong tam giới,
Luân hồi bất tận.
Do đó,
Thuyệt Maslow,
Chỉ giúp con người hiểu cách vận hành của dục vọng,
Chứ không thể dẫn con người vượt khỏi dục vọng.
Nó có thể giúp con người sống tốt hơn trong thế gian,
Nhưng không thể giúp họ vượt lên khỏi thế gian.
Khi hiểu rõ điều này,
Ta mới thấy rằng,
Người giàu khó tu đạo,
Không phải vì có tiền là tội lỗi,
Mà vì có tiền dễ khiến con người sinh tầm chập trước.
Coi tiền tài,
Địa vị,
Và danh vọng là phần không thể tách rời của bản thân.
Chính sự chập trước ấy,
Trói buộc linh hồn,
Khiến họ không thể hướng thượng,
Không thể khai ngộ.
Nhưng nếu người giàu có thể buông bỏ,
Dùng của cải để hành thiện,
Để độ người,
Để vuôn bồi phúc đức,
Thì tiền bạc lại trở thành pháp khí,
Và người ấy có thể thu thành chính quả,
Như Thái tử Tất Đạt Đà năm xưa.
Bởi vì vấn đề không nằm ở tiền,
Mà nằm ở tâm của con người đối với tiền.
Nếu tâm thuần tĩnh,
Thì phú quý cũng là đạo.
Còn nếu tâm nhiễm dục,
Thì ngay cả nghèo khó,
Cũng là nghiệp.
Tóm lại,
Thuyệt Maslow giúp ta hiểu cách
Con người truy cầu hạnh phúc trong thế giới vật chất.
Còn Phật, Đạo, Thần
Lại chỉ dạy cách con người vượt qua hạnh phúc hữu hạn
Để đạt đến an lạc vĩnh cửu.
Và đó chính là lý do
Mà Bậc Thánh Nhân từ hơn 2.000 năm trước
Đều nói rằng
Phú quý học đạo khó,
Khó không ở cùa cải,
Mà ở nơi lòng người bị trói bời cùa cải.
